i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên
cứu của tôi, các số liệu, dẫn liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực. Các
số liệu điều tra, phỏng vấn là kết quả của quá trình thực hiện điều tra, phỏng vấn
nghiêm túc của bản thân tôi trong thời gian công tác và thực hiện Đề tài nghiên
cứu. Các số liệu về tình hình nuôi, sản xuất, cung ứng con giống, tình hình dịch
bệnh Tu hài… của tỉnh Quảng Ninh và huyện Vân Đồn được tôi thu thập tại các
cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước: Phòng Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn huyện Vân Đồn, Chi cục nuôi trồng thủy sản, Trung tâm Khuyến
nông – Khuyến ngư, Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong
Luận văn này.
Tác giả
Thiều Văn Thành
Tác giả Thiều Văn Thành
iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
4
1.1
VỊ TRÍ PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA TU HÀI
4
1.1.1
Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại
4
1.1.1.1
Vị trí phân loại
4
1.1.1.2.
Hình thái, cấu tạo cơ thể
4
1.1.2.
Phân bố
13
1.2.3.1.
Hiện trạng NTTS tỉnh Quảng Ninh năm 2011
13
1.2.3.2.
Định hướng phát triển đến năm 2020
14
1.2.4.
Tình hình nuôi tu hài ở Quảng Ninh
15
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
2.1.
THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
18
2.2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
2.2.1.
Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
18
2.2.2.
Phương pháp điều tra
19
2.2.3.
Chọn mẫu nghiên cứu
19
2.2.4.
Thu thập và xử lý số liệu
23
3.1.1.5.
Tài nguyên sinh vật
24
3.1.1.6.
Tiềm năng, hiện trạng, định hướng và mục tiêu phát triển NTTS
25
3.1.1.7.
Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến nghề nuôi tu hài ở Vân Đồn
26
3.1.2.
Đặc điểm kinh tế xã hội
27
3.1.2.1.
Các đơn vị hành chính
27
3.1.2.2.
Cơ cấu kinh tế
27
3.1.2.3.
Dân số lao động và việc làm
28
3.1.2.4.
Tổ chức quản lý và nhân lực NTTS
29
3.1.2.5.
Cơ sở dịch vụ hậu cần nuôi trồng thủy sản
31
3 2.6.
Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện KTXH đến nghề nuôi tu hài ở Vân Đồn
36
3.2.4.3.
Điều kiện vị trí, vùng nuôi tu hài bằng hình thức thả trực tiếp
37 v
3.2.5.
Kỹ thuật xây dựng bãi và chuẩn bị lồng, bè nuôi
38
3.2.5.1.
Chuẩn bị bãi nuôi
38
3.2.5.2.
Lồng nuôi tu hài thương phẩm
39
3.2.5.3.
Bè nuôi
39
3.2.6.
Tiêu chuẩn, mật độ và kỹ thuật thả giống
40
3.2.6.1.
Tiêu chuẩn giống thả
40
3.2.6.2.
Mật độ giống thả
41
3.2.6.3.
Kỹ thuật thả giống
47
3.3.2.
Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư
48
3.3.3.
Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần
49
3.3.3.1.
Giải pháp về con giống
49
3.3.3.2.
Phát triển hệ thống dịch vụ, hậu cần
51
3.3.4.
Nhóm giải pháp về chính sách
51
3.3.4.1.
Chính sách về vốn
51
3.3.4.2.
Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
53
3.3.4.3.
Các chính sách hỗ trợ phát triển khác
53
3.3.5.
Nhóm giải pháp về thị trường
53
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1:
Tình hình nuôi tu hài ở Quảng Ninh năm 2011
Trang 15
Bảng 1.2:
Tình hình thiệt hại tu hài nuôi do dịch bệnh tại Quảng
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1:
Hình ảnh tu hài Lutraria ryhnceana, 1844
Trang 4
Hình 1.2:
Biểu đồ phân bố của tu hài tại vùng biển thành phố Hải
Phòng và tỉnh Quảng Ninh
Trang 5
Hình 1.3
Chu trình phát triển của tu hài
Trang 7
Hình 2.1:
Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của Đề tài
Trang 18
Hình 3.1:
Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh
Trang 21
1
MỞ ĐẦU
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, biên giới và hải đảo phía Đông Bắc của Tổ
quốc. Nằm trong địa bàn động lực của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng
Ninh đóng vai trò đầu tàu về phát triển kinh tế, xã hội và tạo sức lan tỏa trong
quá trình phát triển kinh tế của cả Vùng. Với chiều dài 250 km bờ biển, trên
6.000 km
2
diện tích mặt biển, hơn 20.000 ha eo vịnh, khoảng 40.000 ha diện tích
bãi triều và tài nguyên biển phong phú, Quảng Ninh đã được chọn là địa bàn
trọng điểm trong triển khai Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Và trong
những năm tới, ngành Thủy sản tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu phấn đấu trở
thành trung tâm khai thác, nuôi trồng thuỷ sản biển của khu vực phía Bắc [14].
Nằm cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 50 km về phía Đông, Vân
Đồn là một huyện đảo có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản biển bậc nhất
Miền Bắc nước ta. Với diện tích trên 8.900 ha mặt biển có khả năng phát triển
nuôi trồng thủy sản, trên 200 hòn đảo lớn, nhỏ trải dài gần 50 km từ Bắc xuống
Nam, tạo ra nhiều vùng vịnh kín, trương cát, bãi nông [26] Vân Đồn có điều
kiện cực kỳ thuật lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Trong những
năm gần đây, cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp và
người dân, nuôi thủy sản ở Vân Đồn đã có những bước phát triển đáng kể, diện
tích nuôi được mở rộng, phương thức nuôi từng bước được cải tiến, năng suất,
sản lượng không ngừng gia tăng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống
cho ngư dân, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
Huyện và ổn định an ninh kinh tế vùng biển đảo của Tổ quốc.
+ Đánh giá được hiện trạng nghề nuôi tu hài tại huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh.
+ Đề xuất được một số giải pháp, định hướng có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn góp phần phát triển ổn định nghề nuôi tu hài tại huyện Vân Đồn trong thời
gian tới.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài:
- Tính mới và ý nghĩa khoa học:
Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học về hiện
trạng, định hướng và chính sách phát triển để đề xuất giải pháp phát triển ổn
định nghề nuôi tu hài tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Kết quả Đề tài cập nhật, bổ sung cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về sản
xuất giống, nuôi và tiêu thụ tu hài thương phẩm tại Quảng Ninh nói chung,
huyện Vân Đồn nói riêng. 3
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Giúp người dân, các nhà quản lý hiểu rõ được thực tế sản xuất nghề
nuôi tu hài tại huyện Vân Đồn và hoạch định các chính sách phát triển.
+ Tổng kết, đánh giá hình thức nuôi hiệu quả, làm cơ sở xây dựng, triển
khai nhân rộng các mô hình phát triển nuôi tu hài trên địa bàn Tỉnh.
+ Những giải pháp được đề xuất trong nội dung Đề tài có ý nghĩa thực
tiễn và tính khả thi cao.
* Nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu 03 nội dung sau:
1). Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến nghề nuôi tu
hài của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
2). Đánh giá hiện trạng kỹ thuật nuôi tu hài tại huyện Vân Đồn.
3). Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ổn định nghề nuôi tu hài tại
huyện Vân Đồn.
Loài tu hài: Lutraria rhyncaena (Jonas, 1844)
Tên đồng nghĩa: Lutraria philippinarum (Reeve, 1854)
Tên tiếng Anh: Otter Clam
Tên tiếng Việt: Tu hài, tù hài.
Hình 1.1: Tu hài Lutraria rhyncaena (Jonas, 1844)
1.1.1.2. Hình thái, cấu tạo cơ thể
Cơ thể tu hài được bảo vệ bởi hai tấm vỏ khá đều nhau, chiều dài thân dài
hơn chiều dài cơ thể, hai vỏ dính liền nhau ở phần lưng bởi dây nề. Vỏ được cấu
tạo bằng đá vôi, màu sắc thay đổi theo môi trường sống và không có khả năng khép
chặt như vỏ trai, vỏ hầu, Các gờ sinh trưởng khá rõ nét, vết màng áo sâu và rõ.
Màng áo ngoài gồm 2 tấm giáp liền với vỏ và bao phủ toàn bộ cơ thể, mở
ra ở phần bụng. Mép màng áo dày có khả năng vận chuyển cát khi đào hang,
phần cuối phát triển tạo thành vòi với 02 ống xi phông hút và xả. Do đặc điểm
sống vùi trong đáy cát, cát sỏi, cát pha xác động vật thân mềm nên ống xi phông
rất phát triển, mọi trao đổi chất của tu hài đều thông qua 2 ống xi phông này.
1.1.2. Phân bố
Trên thế giới, tu hài có phạm vi phân bố hẹp, chủ yếu ở vùng biển Tây và Nam
Australia, Philippine, Trung Quốc, Thái Lan và vùng Bắc Mỹ. Loài tu hài phân bố ở
5
vùng biển Puget Sound (Mỹ) thuộc Bắc Mỹ có tên tiếng Anh là Geoduck, tên khoa
học Panopea abrupta có thể sống tới 40 năm và nặng tới 9 kg [3], [4], [18].
Ở Việt Nam, tu hài phân bố tự nhiên chủ yếu quanh các đảo nhỏ tương
đối xa bờ, nơi có nguồn nước trong sạch, độ mặn cao, ổn định (25 – 30 ‰), chất
đáy là cát, cát sỏi nhỏ, cát sỏi có pha rất ít bùn, cát pha mảnh vỏ san hô hoặc vỏ
động vật thân mềm ở vùng biển Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử
Long) và phía Bắc đảo Cát Bà (Việt Hải, Trân Châu), bãi Vạn Hà, Vại Bội, Lão
Vọng, Ba Cót, Không thấy tu hài phân bố ở vùng biển sâu trên 15 m hoặc các
kích thước thích hợp được giữ lại nhờ các tấm mang, sau đó được chuyển đến xúc
biện và đưa xuống dạ dày. Phần thức ăn không tiêu hóa được đưa ra ngoài qua
hậu môn, vào xoang màng áo và thoát ra ngoài qua ống xi phông thoát. Thức ăn
của tu hài chủ yếu là các loài tảo Silic như: Coscinodicus, Navicula, Nitszchia,
Cyclotella, các mảnh vụn hữu cơ và các vi sinh vật khác.
Tu hài có thể lựa chọn thức ăn qua kích thước các hạt thức ăn. Vì vậy,
chúng ngẫu nhiên ăn các loại tảo độc và qua tích lũy thường gây nên các triệu
chứng tê liệt thần kinh (SPS) và tháo chảy (DSP) cho những người ăn thịt tu hài
trong những mùa có nhiều tảo độc. Ở Việt Nam chưa có hiện tượng này, tuy vậy
cần tránh ăn tu hài vào những thời điểm có xích triều xuất hiện.
1.1.3.3. Đặc điểm sinh trưởng
Hiện chưa có số liệu báo cáo về tốc độ sinh trưởng của tu hài tự nhiên.
Tu hài nuôi tại Quảng Ninh, Hải Phòng có tốc độ lớn khá nhanh. Tại Cát Bà
– Hải Phòng, tu hài nuôi trong lồng đặt trên bãi từ con giống có kích thước dài 1,5
cm, nặng 2,16 g, sau 3 tháng nuôi đạt 2,42 cm, nặng 4,2 g; Sau 6 tháng đạt 3,82 cm,
nặng 26,6 g; Sau 12 tháng đạt 5,58 cm, nặng 34,0 g và sau 18 tháng đạt 7,13 cm,
nặng 60 g trở lên. Tại Quảng Ninh, tu hài nuôi bằng hình thức nuôi lồng treo trên
bè, sau 8 tháng, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 0,27 cm/tháng và 4,21 g/tháng.
Tốc độ tăng trưởng của tu hài phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường sống, 7
nguồn thức ăn. Tu hài tăng trưởng nhanh ở những nơi có độ mặn, độ trong cao, ổn
định, chất đáy phù hợp và nguồn thức ăn phong phú [11], [12].
1.1.3.4. Đặc điểm sinh sản [7], [15], [16], [28]:
Trong tự nhiên, tu hài trưởng thành sinh sản từ tháng 12 năm trước đến
tháng 4 năm sau, đẻ rộ vào tháng 2 và tháng 3. Thời gian từ tháng 5 đến tháng
11, tuyến sinh dục hầu như không phát triển.
Tu hài có hiện tượng tự điều chỉnh tỷ lệ đực cái, vào thời kỳ sinh sản rộ, tỷ
lệ đực cái thường là 1:1. Tuyến sinh dục đực có màu trắng sữa, tuyến sinh dục cái
Hình 1.3. Chu trình phát triển của Tu hài [15]
♂
♀
Tu hài trưởng
thành
Ấu trùng hậu Umbo
Ấu trùng Veliger
Trochophor
e
Trứng và tinh trùng
đỉnh vỏ tới mép trước vỏ hơi xiên và tới mép sau vỏ hơi lõm, không có gờ
phóng xạ, đường sinh trưởng rõ thô không đều nhau; Mặt trong vỏ có màu trắng;
Vỏ phải có 2 răng chủ dạng phiến, vỏ trái có 1 răng chủ chẻ đôi; Vết màng áo
không rõ ràng, vịnh màng áo rất rộng, mở rộng hướng từ mép trước đến mép
sau; là loài sống ở vùng nước ấm, phân bố ở Australia, Philippine và đảo Hải
Nam (Trung Quốc). Ngoài tự nhiên tu hài sống trong cát bùn ở vùng triều và ở
vùng nước nông ven bờ [4], [5], [18], [28], [29].
R. Tucker Abbott and S. Peter Dance (1983) đã giới thiệu bộ ảnh màu của
trên 4.200 loài động vật thân mềm trên thế giới. Trong đó có hình vẽ màu loài L. 9
rhyncaena Jonas (1844), chúng phân bố ở vùng nước nông phía Tây và Nam
Australia và coi tên loài L. philippinarum Reeve là sinonym [4], [17], [28].
Các nghiên cứu khác về tu hài rất ít được công bố. Theo thông tin từ khoa
Sinh thái Trường Đại học Puget Sound (Mỹ), tu hài (có tên tiếng Anh là Geoduck)
sống tới 40 năm và nặng tới 9 kg, trung bình từ 3 – 4 kg và vùng Puget Sound có
trữ lượng khoảng 109 triệu con. Đây là vùng có trữ lượng tu hài cao nhất nước Mỹ
và được coi là một loài đặc sản. Ở Mỹ người ta gọi loài này là “King Clam”, chúng
ta còn gọi tên khác là “Vòi voi”; Từ đây tu hài thương phẩm được xuất sang Đài
Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông [18] .
Nghiên cứu về sản xuất giống tu hài, năm 1999 Viện Nghiên cứu Hải sản
Sơn Đông (Trung Quốc) bắt đầu nghiên cứu và cho đẻ nhân tạo tu hài nhập từ
Mỹ. Đến năm 2001, Công ty Hải sản Diễm Đài Bách Lợi của Mỹ hợp tác với
Trung Quốc đã sản xuất ra 3 triệu tu hài giống. Hiện họ đang làm chủ công nghệ
sản xuất giống đối tượng này [15], [17].
Hiện nay có rất ít nghiên cứu về bệnh ở động vật thân mền. Một số nghiên
cứu đã chỉ ra rằng, bệnh và địch hại đối với động vật thân mềm (ĐVTM) được
quan tâm ở hai giai đoạn, giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trong quá trình
ươm, nuôi trong đó ký sinh trùng và vi khuẩn là hai đối tượng gây nguy hiểm
thuộc quần đảo Cát Bà – Hải Phòng về tình hình phân bố, đánh giá trữ lượng
cùng với các đặc điểm sinh học, sinh thái (sinh trưởng, sinh sản, ), quan hệ với
các điều kiện môi trường sống (nhiệt độ, độ mặn nước biển, ), sinh vật phù du
và quan hệ với chất đáy [4].
Jorgen Hylleberg & Richard N. Kilburn, 2003, Tropical Marine Mulluse
Programme. Marine Mulluse of VietNam (Annootation, Voucher Material and
species in need of Verification). Trên cơ sở tổng kết các tư liệu, kiểm kê các kết
quả khảo sát từ trước tới nay ở vùng biển Việt Nam cung cấp và các tài liệu đã
công bố hiện có ở trong và ngoài nước về thành phần loài động vật thân mềm
biển gồm trên 2500 loài, trong đó giống Lutraria có 7 loài (tr. 186 – 187) là: L.
arcuata Deshayes in Reeve, 1854; L. australia Reeve, 1854; L. complanata
Gmelin, 1791; L. impar Deshayes in Reeve, 1854; L. maxima Deshayes in
Reeve, 1844; L. philippinarum Reeve; 1844, L. rhynchaena Jonas, 1844 Trong
đó loài L. rhyncaena do Nguyễn Ngọc Thạch xác định và công bố vào năm 11
2002, hai loài L. oblonga Gmelin, 1791 và L. solenodes Lamarck do Trường Đại
học Khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh công bố, nhưng còn nghi ngờ,
theo tác giả hai loài này không thể có ở Việt Nam vì chúng phân bố ở vùng biển
Địa Trung Hải [15], [17].
Năm 1978, Mai Văn Minh đã tiến hành nghiên cứu thành phần sinh hóa
của thịt tu hài trên cơ sỏ mẫu vật thu được ở vùng biển Cát Bà [9].
Sau một thời kỳ dài gián đoạn, cho tới năm 2001 đối tượng này lại được
tiếp tục nghiên cứu. Lê Xân cùng cộng sự thuộc Viện nghiên cứu Nuôi trồng
thủy sản I, bước đầu tìm hiểu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất
giống nhân tạo tu hài ở vùng biển Cát Bà. Tiếp đó, Hà Đức Thắng, Nguyễn
Xuân Dục và cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuất
giống nhân tạo và nuôi đối tượng này ở vùng biển Cát Bà – Hải Phòng, Vân Đồn
- Quảng Ninh bước đầu có kết quả. Do nhu cầu thị trường ngày một tăng, nhiều
Năm 2008, Trung tâm Quốc gia giống hải sản Miền Bắc - Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng thủy sản I, đã tiến hành thử nghiệm nuôi tu hài thương phẩm
theo 3 hình thức, nuôi lồng treo trên bè, lồng đặt đáy (cỡ lồng nuôi: 40 cm x 30
cm x 25 cm) và nuôi rải đáy; Mỗi hình thức thả 10.000 con giống cấp 2. Trong
đó, mật độ giống thả nuôi lồng là 25 con/lồng, nuôi rải đáy 25 con/m
2
. Kết quả
sau 15 tháng nuôi, tỷ lệ sống đạt cao nhất ở hình thức nuôi lồng treo với 91%,
nuôi lồng đặt bãi đạt 83 % và nuôi rải đáy có tỷ lệ sống thấp nhất với 62 %; Về
kích cỡ thu hoạch đạt lần lượt theo các hình thức trên là 74 g/con, 75 g/con và
81 g/con. Cũng trong phạm vi nghiên cứu này, Trung tâm đã thử nghiệm nuôi
với các mật độ 15 con/lồng (40 cm x 30 cm x 25 cm), 20 con/lồng, 25 con/lồng,
30 con/lồng ở hình thức nuôi lồng treo, lồng đặt đáy; thử nghiệm mật độ nuôi rải
đáy 15 con/m
2
, 20 con/m
2
và 25 con/m
2
và đi đến kết luận, mật độ thả giống ban
đầu thích hợp đối với hình thức nuôi lồng treo bè là 20 – 25 con/lồng, nuôi lồng
đặt đáy là 25 con/lồng và nuôi rải đáy là 25 con/m
2
[11], [12].
Vi khuẩn Vibrio có liên quan đến hiện tượng ấu trùng tu hài chết hàng loạt
trong các bể ương ở Cát Bà năm 2008, 2009 [11].
Kết quả khảo sát, phân tích mẫu nước, mẫu Tu hài tại Vịnh Lan Hạ - Cát
Bà – Hải Phòng đã xác định được, hiện tượng tu hài giống và thương phẩm nuôi
tại Cát Bà - Hải Phòng chết hàng loạt vào dịp cuối năm 2011 có liên quan đến
yếu tố môi trường nước và tác nhân vi khuẩn Vibrio [2].
thu gom tự nhiên và nhập khẩu từ Trung Quốc. Năm 2011, UBND tỉnh Quảng
Ninh đã có quyết định phê duyệt Đề án phát triển giống thuỷ sản tỉnh Quảng
Ninh đến năm 2020 và hiện đang xem xét, ban hành quyết định phê duyệt kế 14
hoạch triển khai Đề án phát triển giống thuỷ sản Quảng Ninh giai đoạn 2013 -
2015, định hướng đến năm 2020.
Tỉnh Quảng Ninh có 50 cơ sở kinh doanh, buôn bán thức ăn, thuốc thú y,
vật tư, thiết bị phục vụ nuôi trồng thuỷ sản; Có 24 cơ sở kinh doanh ngư lưới cụ
tập trung ở 8 huyện, thị xã, thành phố ven biển: Quảng Yên, Hạ Long, Cẩm
Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và Móng Cái; Có 30 cơ sở thu gom
và chế biến sứa; 06 nhà máy chế biến thủy sản (04 nhà máy chế biến đông lạnh,
02 xí nghiệp sản xuất nước mắm); Có 01 chợ cá trên biển với công suất trung
bình từ 5 đến 10 tấn hải sản/ngày tại xã Thanh Lân, huyện đảo Cô Tô; Có 4 cảng
cá và 33 bến cá phân bố trên 8 huyện, thị xã, thành phố ven biển.
Về thị trường tiêu thụ, các sản phẩm đông lạnh, chế biến chủ yếu được xuất
khẩu sang các nước như: Nhật Bản, Hồng Kông, EU, Mỹ. Trong khi đó, các sản
phẩm tươi sống hầu hết được tiêu thụ nội địa: Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Dương,
Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và xuất sang Trung Quốc.
Công tác quản lý nhà nước về vấn đề môi trường và dịch bệnh thủy sản trên
địa bàn Tỉnh do Chi cục Thú y, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống
thủy sản Quảng Ninh là cơ quan tham mưu giúp việc cho Sở NN&PTNT thực
hiện. Chi cục Thú y có 01 phòng Thú y thủy sản và 01 bộ phận kiểm dịch thủy
sản nằm trong Trạm Thú y Móng Cái, số lượng cán bộ chuyên môn gồm 03 kỹ
sư thủy sản và 02 kỹ sư bệnh học thủy sản làm công tác kiểm dịch thủy sản.
Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thủy sản có 01 phòng xét
nghiệm bệnh và quan trắc môi trường nuôi thủy sản với nhiều trang thiết bị hiện
đại được trang bị và 6 cán bộ chuyên môn thủy sản, môi trường đảm nhiệm.
1.2.3.2. Định hướng, mục tiêu phát triển đến năm 2020 [14]
TT
Địa phương
Số hộ nuôi
(hộ)
Diện tích nuôi
bãi (ha)
Số lồng
nuôi (lồng)
Sản lượng
(tấn)
1
TP Hạ Long
25
0
13.000
12
2
TP Cẩm Phả
20
0
6.000
4,6
3
Huyện Vân Đồn
727
83
1.508.770
2.565
4
Huyện Đầm Hà
Địa phương
Số hộ nuôi
bị thiệt hại
(hộ)
Thiệt hại về giống
Giá trị thiệt
hại về đầu tư
(tỷ đồng)
Số lượng
(Triệu con)
Số tiền
(Tỷ đồng)
I
Huyện Vân Đồn
641
153,0
154,7
275,2
1
Xã Thắng Lợi
85
6,0
6,0
12,2
2
Xã Bản Sen
145
14,0
1,0
1,5
8
TT Cái Rồng
171
65,5
65,5
90,3
9
Công ty Đỗ tờ
15,0
15,0
30
10
Công ty Quan Minh
10,0
10,0
20
11
Công ty TNHH Bản Sen
2,4
4,0
2,4
12
Công ty Ngọc Long
0,4
159,7
278,2
(Nguồn: Sở Nông nghiệp&PTNT tỉnh Quảng Ninh)
Qua tìm hiểu tại 02 thành phố là Hạ Long và Cẩm Phả được biết, trong
thời gian từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 6/2012, nhiều hộ dân phản ánh, Tu hài
nuôi của họ cũng bị chết với dấu hiệu tương tự như ở Vân Đồn, nhưng đến nay
cơ quan quản lý chưa có số liệu thống kê cụ thể.
Để góp phần giúp người dân và doanh nghiệp sớm khôi phục sản xuất,
ngày 14/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định số: 2322/QĐ–UBND
V/v quy định chính sách hỗ trợ giống tu hài nuôi bị thiệt hại do dịch bệnh gây ra
năm 2012 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, theo đó, mức hỗ trợ đối với hộ gia 17
đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã có mức thiệt hại từ trên 70%, hỗ trợ bằng
50% mức thiệt hại; Đối với doanh nghiệp, mức hỗ trợ bằng 50% mức hỗ trợ của
hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã.
Ngày 19/9/2012, liên Sở Tài Chính - Nông nghiệp&PTNT Quảng Ninh có
Hướng dẫn số: 3456/STC - SNN&PTNT hướng dẫn trình tự, thủ tục hồ sơ hỗ
trợ giống Tu hài nuôi bị thiệt hại do dịch bệnh gây ra năm 2012 theo Quyết định
số: 2322/QĐ – UBND ngày 14/9/2012 của UBND Tỉnh. Trong nội dung hướng
dẫn có ghi rõ, tiêu chuẩn mật độ giống thả để xác định mức hỗ trợ thiệt hại đối
với hình thức nuôi lồng là không quá 40 con/lồng (không đề cập đến tiêu chuẩn
mật độ đối với hình thức nuôi thả trực tiếp).