Luận văn: NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY LÂM NGHIỆP PHÂN TÁN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

   HOÀNG THANH PHÚC

¬

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY LÂM NGHIỆP PHÂN TÁN
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP


NGUYÊN Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đặng Kim Vui
2. TS. Trần Thị Thu Hà
Thái Nguyên, năm 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp này được hoàn thành tại Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao hoc Lâm nghiệp
hệ chính quy, khóa học 2006-2009.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được
sự quân tâm, giúp đỡ của của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy, cô
giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các sở, ban, ngành, các cơ quan
đơn vị, các bạn bè đồng nghiệp và địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.

Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
5
1.1. Tình hình nghiên cứu trến thế giới
5
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
7
1.2.1. Về nguồn gốc của trồng cây lâm nghiệp phân tán
7
1.2.2. Về hình thức tổ chức thực hiện
8
1.2.3. Về cơ chế, chính sách
8
1.2.4. Về cơ cấu cây trồng và chất lượng giống
11
1.2.5. Về các loại mô hình trồng cây phân tán
13
1.2.6. Về kết quả đạt được từ trồng cây phân tán
13
Chƣơng 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
16
2.1. Mục tiêu
16
2.2. Đối tượng nghiên cứu
16
2.3. Giới hạn nghiên cứu
16
2.4. Nội dung nghiên cứu
16
2.5. Phương pháp nghiên cứu

30
3.3. Thực trạng ngành lâm nghiệp
32
3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng
32
3.3.2. Tài nguyên rừng
34
3.3.3. Hệ động, thực vật rừng
35
3.3.4. Tái sinh phục hồi rừng
36
3.3.5. Diễn biến tài nguyên rừng giai đoanh 2002-2007
36
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
39
4.1.Đánh giá hiện trạng chương trình trồng cây lâm nghiệp phân tán tại
tỉnh Thái Nguyên
39
4.1.1. Quá trình phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán
39
4.1.2. Hiện trạng về công tác quy hoạch trồng cây phân tán
40
4.1.2.1. Chức năng và mục đích của trồng cây lâm nghiệp phân tán
40
4.1.2.2. Quy hoạch trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
43
4.1.3. Hiện trạng về công tác kỹ thuật trồng cây phân tán
46
4.1.4. Hiện trạng sinh trưởng, phát triển của các loài cây lâm nghiệp
được trồng phân tán trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

trồng cây lâm nghiệp phân tán
89
4.4.1. Điểm mạnh, điểm yếu
89
4.4.2. Cơ hội và thách thức
94
4.5. Đề xuất một số giải pháp phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
97
4.5.1. Quan điểm và định hướng chung
97
4.5.2. Các giải pháp cụ thể
98
Chƣơng 5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIÊN NGHỊ
105
5.1. Kết luận
105
5.2. Tồn tại
109
5.3. Kiến nghị
109
Tài liệu tham khảo
110
Phần phụ biểu
112
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG

B¶ng 3.1
BiÓu tæng hîp diÖn tÝch 3 lo¹i rõng tØnh Th¸i Nguyªn
B¶ng 3.2
DiÔn biÕn rõng giai ®o¹n 2000 – 2007
Bảng 4.1
Tổng hợp khối lượng cây trồng phân tán giai đoạn 2002-2007.
Bảng 4.2
Thành phần loài cây trồng phân tán chủ yếu trên địa bàn

Ảnh 4.4
Keo lai trồng theo hàng tại Thành phố Thái Nguyên
Ảnh 4.5
Keo tai tượng trồng theo dải tại Võ Nhai
Ảnh 4.6
Keo tai tượng trồng theo đám tại Võ Nhai
Ảnh 4.7
Keo lai trồng theo đám tại Phú Bình
Sơ đồ 4.1
Hệ thống quản lý trồng cây phân tán tại tỉnh Thái Nguyên.
Ảnh 4.8
Mô hình trồng Keo tai tượng phân tán theo đường giao thông liên xóm tại
huyện Đồng Hỷ
Ảnh 4.9
Mô hình trồng Keo lai phân tán tại Trường học ở Thành phố Thái
Nguyên
Ảnh 4.10
Mô hình trồng Keo tai tượng phân tán trên đất vườn hộ
tại Đại Từ
Biểu đồ 4.1
Tỷ lệ các loài cây lâm nghiệp trồng phân tán

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
MỞ ĐẦU
Việt Nam với kho¶ng 58% diện tích là vùng đồi núi, đây là nơi sinh sống
của 25 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít

đã phát động phong trào trồng cây. Khi nước nhà thống nhất, Thủ tướng
Chính phủ đã ra Chỉ thị số 425/TTg ngày 19/11/1977 về việc phát triển phong
trào trồng cây nhân dân phân tán trong cả nước. Chỉ thị này đã tạo đà cho việc
phát triển trồng cây phân tán nhanh chóng, sôi nổi, rộng khắp trên phạm vi
toàn quốc.
Trồng cây lâm nghiệp phân tán có mặt ở trên khắp mọi vùng, mọi miền,
mọi khu vực của đất nước, từ vùng Đồng bằng đến vùng Trung du miền núi,
từ khu vực nông thôn đến thành thị và cây trồng mang tính đặc trưng cho
những khu vực đó. Ví dụ như ở vùng đồng bằng và trung du, nhân dân trồng
các cây gỗ phổ biến là Xoan ta, Tre gai, Bạch đàn, Sấu, Trám, Lát hoa, Me
nhằm mục đích tạo cảnh quan bóng mát làm hàng rào cho các vườn cây ăn
quả, bảo vệ đồng ruộng và hoa màu đồng thời cung cấp gỗ củi, chất đốt cho
nhân dân; còn ở vùng ven biển trồng các loại cây Phi lao để phòng hộ chắn
sóng và cát bay; hoặc ở khu vực nông thôn, người dân trồng một số các cây
gỗ để bảo vệ bờ ao, bảo vệ đồng ruộng chống xói lở trong mùa mưa như
Xoan, Bạch đàn, Keo; hay khu vực chùa, đình, miếu, cổng làng nhân dân
trồng các loại như Đa, Si, Đề, Chò, Thông đỏ vừa biểu hiện cho sự uy
nghiêm, linh thiêng vừa tạo kiến trúc, cảnh quan và bóng mát; khu vực các
công sở, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp trồng các loại cây như
Thông, Sấu, Lát hoa, Me, Phượng vĩ, Bằng lăng và Bàng vừa tạo kiểu dáng
kiến trúc đẹp cho đơn vị, vừa tạo bóng mát, chống cát bụi, khí độc và tiếng
ồn, cải thiện và điều hoà không khí.
Những giá trị của trồng cây phân tán đã đem lại hiệu quả rất to lớn,
thiết thực và mang tính đa tác dụng, không chỉ mang giá trị về mặt kinh tế
(cung cấp sản phẩm lâm sản cho công nghiệp chế biến, gỗ củi chất đốt cho
nhân dân), giá trị về mặt xã hội (tạo thêm công ăn việc làm cho lao động nông
thôn), mà còn mang giá trị to lớn về mặt văn hoá, tín ngưỡng, kiến trúc và
đặc biệt quan trọng là giá trị về mặt môi trường trong việc phòng hộ sinh thái,
tạo cảnh quan và cải thiện môi sinh.


Tuy nhiên, trong năm qua, trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn
tỉnh mặc dù đã được phát động và tổ chức thực hiện, nhưng vẫn còn nổi lên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
nhiều bất cập, nhiều chỗ nhiều nơi còn mang tính tự phát, hình thức, thiếu
quy hoạch và chưa có chính sách hỗ trợ đồng bộ, nhất quán trong tổ chức
thực hiện. Mặt khác việc đánh giá về trồng cây lâm nghiệp phân tán còn chưa
được quan tâm, chưa có nghiên cứu nào đi vào phân tích hiện trạng để tìm ra
những điểm mạnh, điểm yếu, những tồn tại, khuyết điểm, từ đó có chính sách
và giải pháp hiệu quả để thúc đẩy phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán
của tỉnh ngày một hiệu quả hơn.
Xuất phát từ lý do trên việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và
giải pháp phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên” là hết sức cần thiết về cả ý nghĩa khoa hoc và thực tiễn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thật khó xác định phong trào trồng cây phân tán trên thế giới có từ bao
giờ. Nhưng chắc chắn khi con người có nhu cầu về củi đun và cần gỗ gia dụng,
gỗ làm nhà cửa và cần phải trồng cây để giảm bớt các tác hại của thiên tai như
gió, bão, hạn hán, cát bay, cát bị nhiễm mặn nhằm đảm bảo sản xuất nông
nghiệp có năng suất cao và ổn định thì con người đã biết trồng cây phân tán. Lúc
đầu từ 1 vài hộ dân lẻ tẻ, sau do hiệu quả kinh tế đạt được khá cao và thỏa mãn
được các yêu cầu của cuộc sống nên trồng cây phân tán trong dân đã trở thành

Theo tập quán lâu đời, với đặc tính văn hóa của người Ấn Độ, thì trồng cây là
một phần trong toàn bộ hệ thống canh tác nông nghiệp ở Ấn Độ, để cung cấp
nguồn gỗ, củi, thức ăn gia súc và phân xanh cho nhu cầu của người dân địa
phương. Ngoài các tác dụng về môi trường như bảo về đất và nguồn nước, bảo
tồn đa dạng sinh học, còn tăng mức độ hấp phụ cacbon và nâng cao hàm lượng
oxy trong không khí. Cho nên ngay từ năm 1970, một chương trình Lâm nghiệp
xã hội đã được thực hiện ở Ấn Độ, nhằm thúc đẩy mọi người dân tham gia rộng
rãi vào phong trào trồng cây phân tán, có sự trợ giúp và hướng dẫn của Nhà
nước nhằm giảm bớt sức ép lên rừng tự nhiên. Cung cấp nguồn gỗ, củi và thức
ăn gia súc cho người dân địa phương và chắn gió hại cho các cây nông nghiệp.
Và đến năm 1980 hầu hết các vùng đất rộng lớn ở ấn Độ đã trồng theo chương
trình này.
Kết quả điều tra ở Bang Haryana nằm ở phía Tây Bắc Ấn Độ cho thấy:
Diện tích tự nhiên của Bang Haryana 4,42 triệu ha
Diện tích đất không có rừng là: 4,36 triệu ha
Diện tích đất có rừng là: 60.000 ha (độ che phủ của rừng 1,36% diện tích
tự nhiên của Bang)
Tổng số làng đã điều tra là 219 làng, thuộc 12 huyện của Bang
Tổng số cây trồng phân tán ở Haryana là 54.984.000 cây, trải rộng trên
4,36 triệu ha, bình quân 12,6 cây/ha.
Tổng trữ lượng cây phân tán là 10,3 triệu m
3
hay 2,36 m
3
/ha

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Khi so sánh với trữ lượng gỗ rừng tự nhiên của Bang là 1,41 triệu m
3


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
được tổ chức hàng năm qua gần tròn nửa thế kỷ mà trong tương lai còn được
duy trì đều đặn, mãi mãi cho các thế hệ mai sau. Hoạt động đó luôn luôn nhắc
nhở, giáo dục quảng đại quần chúng quan tâm gây trồng, bảo vệ, yêu cây xanh
và quý rừng vàng, không chỉ có ý nghĩa xã hội lớn mà còn đóng góp nâng cao
lợi ích kinh tế và môi trường cho đất nước [4].
Từ sau ngày 19/11/1977, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 425 TTg
"Về việc phát triển phong trào trồng cây nhân dân phân tán trong cả nước"
nhằm thực hiện tốt hơn nữa Tết trồng cây, phong trào đã được lan rộng khắp
cả nước, số lượng cây trồng hàng năm tăng lên gấp bội, loài cây cũng đa dạng
và phong phú. Tết trồng cây đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam từ Bắc đến Nam [1],
2.2.2. Về hình thức tổ chức thực hiện:
Trồng cây phân tán là một hoạt động mang tính chất lâm nghiệp phong
trào. Hưởng ứng Tết trồng cây hàng năm, ở khắp mọi miềm, tuỳ nơi, tuỳ lúc các
cấp chính quyền, đoàn thể, các ngành, các giới, các lực lượng bộ đội, học sinh
đã tổ chức hàng loạt các hoạt động trồng cây gây rừng được phát động dưới
nhiều hình thức phong trào như: Phong trào trồng cây phân tán, phong trào xanh
làng đẹp phố, phong trào xây dựng đồi cây, rừng cây Bác Hồ. Hoạt động của các
phong trào này có quy mô hẹp, không đồng thời, phân tán rải rác ở nhiều nơi và
gắn chặt những người tham gia thực hiện. Cây rừng và rừng được tạo ra bằng
công việc gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ từng địa bàn cụ thể
với cả chuỗi thời gian lâu dài hơn. Do vậy ngoài việc tạo dựng được ý thức, lòng
say mê còn giúp họ, đòi hỏi họ tiếp tục nắm bắt, nâng cao và thực hiện các kỹ
thuật và công nghệ gieo trồng, xây dựng, phát triển và bảo vệ rừng [7].
2.2.3. Về cơ chế chính sách:
Cơ chế chính sách cho trồng cây phân tán trong thời gian qua chưa được
rõ ràng và còn nổi lên nhiều bật cập.

+ Tổ chức: một hình thức sở hữu khác là các diện tích đất sản xuất của
các nông lâm trường được quy hoạch để trồng cây phân tán và coi đó như một
hoạt động sản xuất chính của đơn vị. Phương án trồng và sử dụng cây phân tán
được tổ chức ấy quyết định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
- Về chính sách đầu tư: Từ lâu nay việc đầu tư cho trồng cây phân tán
không thành một chủ trương thống nhất, mà do từng địa phương, từng tổ chức
và các cá nhân tập thể tự quyết định.
+ Đầu tư từ nguồn ngân sách: Tuy không thành chủ trương nhưng một
số tỉnh hàng năm vẫn trích một khoản ngân sách địa phương để dành cho trồng
cây phân tán. Ví dụ Nghệ An dành mỗi năm 120 triệu đồng, Đồng Nai dành mỗi
năm 450 triệu, Hải Dương dành mỗi năm 400 triệu và An Giang mỗi năm dành
gần 1 tỷ đồng cho trồng cây phân tán.
+ Đầu tư từ nguồn vốn tự có: Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã bỏ vốn
tự có hàng tỷ đồng để trồng cây phân tán như Nông trường Sông Hậu, Nông
truờng Cần Thơ; Nông trường Cờ đỏ và Nông trường Hậu Giang. Qua điều tra
cho thấy các đơn vị tự bỏ vốn để trồng đều đem lại hiệu quả cao.
+ Cá nhân bỏ vốn: các đối tượng này chủ yếu là trồng trong vườn
hộ, trên đất được giao. Mô hình này hầu hết các tỉnh đều có và cũng thu được
hiệu quả kinh tế rõ rệt. Như mô hình trồng Quế ở Yên Bái và Quảng Nam;
trồng Bời lời ở Gia Lai và Kon Tum; mô hình trồng Dó trầm ở Tiên Phước
tỉnh Quảng Nam và ở Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh; mô hình trồng Hòe ở Nam
Định và Thái Bình.
+ Nguồn tài trợ của các dự án trong và ngoài nước
- Về chính sách hưởng lợi: hiện nay nhà nước cũng chưa có những chính
sách nhất quán cho người trồng cây phân tán, do vậy chưa khuyến khích được
mọi thành phần tham gia trồng cây, đây cũng là vấn đề tồn tại cần được rút kinh
nghiệm cho chỉ đạo trong thời gian tới. Tuy nhiên, một số địa phương, tổ chức

vùng đồng bằng và ven biển [10]. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để
phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán trong thời gian tiếp theo.
Do vậy việc nhìn nhận và đánh giá thực trạng của trồng cây lâm nghiệp
phân tán, đặc biệt là về cơ chế chính sách là việc làm hết sức cần thiết để đề xuất
giải pháp phát triển có hiệu quả chương trình trong thời gian tới.
2.2.4. Về cơ cấu cây trồng và chất lượng giống:
Trồng cây lâm nghiệp phân tán là hình thức phát triển lâm nghiệp đa
dạng hoá về chủng loại cây trồng, với nhiều loại cây trồng phong phú khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Những loài cây được lựa chọn trồng cây phân tán và Tết trồng cây có
khoảng 40 loài, phổ biến là các loài cây như: Phi lao, Bạch đàn, Xà cừ,
Sấu, Xoan ta, Lát hoa, Bạch đàn, Keo, Sao đen, và các loài cây ăn quả như
Cam, Quýt, Mít, Dừa, Nhãn, Vải thiều, Xoài và Na được trồng quanh nhà
và quanh vườn [4].
Cũng theo tổng hợp của Bộ NN & PTNT (2006) cho thấy tập đoàn
cây trồng phân tán khá phong phú và đa dạng, gồm khoảng 30-40 loài cây,
trong đó có các loài phổ biến như: Xà cừ, Bạch đàn, Keo các loại, Phi lao, Gạo,
Lát, Sao đen và Dầu rái. Hầu hết các loài cây trồng đều do dân tự lựa chọn từ
các địa phương nên phù hợp với điều kiện sinh thái và phù hợp với sở thích của
người dân. Tuy nhiên do tổ thành loài cây quá đa dạng nên khả năng để tạo
thành hàng hóa còn rất hạn chế, chỉ mới dừng lại chủ yếu là phục vụ nhu cầu
gỗ củi tại chỗ là chính.
- Về nguồn gốc giống hầu hết các loài cây trồng phân tán đều được lấy từ
các cơ quan nghiên cứu giống và các cơ sở cung ứng, dịch vụ giống cây nông
lâm nghiệp lớn ở Trung ương và địa phương. Tuy nhiên qua điều tra thực tế còn
khoảng 20-30% thông qua cung ứng dịch vụ của tư nhân và nguồn gốc không rõ
ràng dẫn đến tình trạng sinh trưởng kém.
- Về chất lượng giống hầu hết các cây trồng phân tán chưa được chú ý cải

+ Mô hình trồng bạch đàn Camal dọc đường liên thôn của xã
+ Mô hình trồng Xoan ta dọc bờ kênh của xã
+ Mô hình trồng cây phân tán trong các vườn hộ ( do các hộ tự trồng)
Trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành xây dựng 04 mô hình trồng cây phân
tán cung cấp gỗ củi có năng suất cao:
Mô hình 01: Trồng cây phân tán dọc đường liên thôn, liên xã
Mô hình 02: Trồng cây phân tán trên bờ vùng, bờ kênh, bờ thửa
Mô hình 03: Trồng cây phân tán trong trường học
Mô hình 04: Trồng cây phân tán trong trang trại nông nghiệp.
2.2.6. Về kết quả đạt được từ trồng cây phân tán:
Trồng cây phân tán từ khi được hình thành, trải qua quá trình phát triển
đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Kết quả phong trào trồng cây
phân tán ở nước ta đã đem lại nhiều lợi ích to lớn cho người dân và các địa
phương, vừa đáp ứng được nhu cầu gỗ củi cho người dân nông thôn, vừa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
phòng hộ đồng ruộng, phòng hộ ven biển, chắn sóng, chống cát bay, chống
xói lở đê điều và cải thiện môi trường sinh thái.
Đánh giá về phong trào trồng cây phân tán và tết trồng cây trong
cuốn “Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000” do Nhà xuất bản nông nghiệp ấn
hành năm 2001 đã ghi: Trong thời gian gần 50 năm qua thực hiện Tết trồng
cây và trồng cây phân tán nhân dân ta đã tạo nên một màu xanh trên khắp
các vùng của Tổ quốc. Trong thập kỷ 60, trung bình mỗi năm nhân dân
miền Bắc trồng được 150 triệu cây. Những năm cuối thập kỷ 70, hàng năm
cả nước đã trồng được 300 triệu cây. Thập kỷ 80 bình quân cả nước đã
trồng được 350 triệu cây. Trong thập kỷ 90 hằng năm cả nước trồng được
280 - 300 triệu cây phân tán [9].
Theo Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2004), Mô hình trồng cây phân tán
đã được phát động rộng rãi tiếp theo phong trào tết trồng cây và cũng được

đánh giá để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và những tồn tại của các mô
hình trồng cây phân tán.
Với Thái Nguyên, một tỉnh có lợi thế và tiềm năng rất lớn về phát triển
sản xuất lâm nghiệp nói chung và trồng cây lâm nghiệp phân tán nói riêng. Mặc
dù trồng cây phân tán đã được phát động hàng năm vào dịp tết trồng cây, nhưng
việc nghiên cứu đánh giá thực trạng lại rất hạn chế, chưa có nghiên cứu hay một
đánh giá cụ thể nào nhằm tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của trồng cây phân tán để
phát triển phong trào có hiệu quả góp phần cung cấp gỗ củi phục vụ cho nhu cầu
tại địa phương. Đề tài Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phát triển trồng cây
lâm nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là hết sức cần thiết nhằm
rút kinh nghiệm và bài học để duy trì và phát triển chương trình này ngày càng
hiệu quả hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status