Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Bắc Ninh - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM CHU THỊ THANH
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN CÂY XANH ĐÔ THỊ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP THÁI NGUYÊN - 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: 1.PGS.TS. Đặng Kim Vui
2. ThS. Nguyễn Văn Mạn

CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH
CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa từng ai sử dụng để công bố trong bất cứ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin, tài liệu được trích dẫn trong khoá luận
này đã được nghi rõ nguồn gốc.

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người
thân trong gia đình đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, năm 2013

Chu Thị Thanh Số hóa bởi trung tâm học liệu
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và thời gian nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Trên thế giới 3
1.1.1. Vài nét về lịch sử phát triển cây xanh đô thị 3
1.1.2. Nghiên cứu về vai trò của cây xanh đô thị 5
1.1.3. Nghiên cứu về quy hoạch, quản lý và phát triển cây xanh đô thị 7
1.2. Ở Việt Nam 9

2.1.4. Đề xuất các giải pháp phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1. Cách tiếp cận của đề tài 26
2.2.2. Các bước tiến hành nghiên cứu 27
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 28
2.2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 28
2.2.3.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Hiện trạng quy hoạch, quản lý hệ thống cây xanh trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh 30
3.1.1. Đánh giá chương trình trồng cây xanh tại địa bàn thành phố Bắc Ninh 30
3.1.1.1. Quá trình phát triển cây xanh ở thành phố Bắc Ninh 30
3.1.1.2. Hiện trạng hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh 33
3.1.1.3. Quy hoạch trồng cây xanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 36
3.1.2. Hiện trạng gây trồng, sinh trưởng, phát triển cây xanh đô thị tại thành phố
Bắc Ninh 40
3.1.2.1. Hiện trạng về công tác kỹ thuật trồng cây xanh đô thị 40
3.1.2.2. Hiện trạng sinh trưởng phát triển của các loài cây xanh đô thị trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh 45
3.1.3. Hiện trạng quản lý, bảo vệ và chính sách phát triển cây xanh đô thị tại thành
phố Bắc Ninh 52
3.1.3.1. Hệ thống tổ chức quản lý cây xanh đô thị 52
3.1.3.2. Công tác bảo vệ cây xanh đô thị 53
3.1.3.3. Chính sách phát triển cây xanh đô thị 56
3.2. Xây dựng tiêu chí lựa chọn loài cây cho các đối tượng khác nhau trên địa bàn

Số hóa bởi trung tâm học liệu
ix
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nghĩa của từ
1.
HĐND
Hội đồng nhân dân
2.
KĐT
Khu đô thị
3.
KHCN
Khoa học công nghệ
4.
KHKT
Khoa học kỹ thuật
5.
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
6.
TP
Thành phố
7.
UBND
Ủy ban nhân dân Số hóa bởi trung tâm học liệu

Trước đây việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí và kiến trúc cảnh
quan. Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các
nhà quý tộc, sự ham mê của những người làm vườn Về phương diện bảo vệ
môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu có thì chỉ mang tính cục bộ đối
với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó.
Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành
công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông, làm cho môi
trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Cho nên, bảo vệ môi trường
trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách.
Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có
vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và
giải quyết các vấn đề môi sinh. Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì
sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi
trường. Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa
học quan tâm. Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này
mới được nghiên cứu một cách hệ thống.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc khu vực phía bắc của vùng đồng bằng sông
Hồng, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm. Bắc Ninh có tiềm năng kinh tế và văn hoá
phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Miền đất Kinh Bắc xưa là vùng đất địa
linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế nơi hội tụ của

Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
kho tàng văn hoá dân gian. Vì vậy mà việc trồng cây xanh tạo cảnh quan đô
thị của thành phố cũng rất được quan tâm. Tuy nhiên, việc quy hoạch, tổ chức
thực hiện trồng cây xanh đô thị trên địa bàn khu vực trong thời gian qua vẫn
còn nhiều vấn đề bất cập, nhiều chỗ nhiều nơi chưa gắn liền với quy hoạch,
chưa có chính sách hỗ trợ đồng bộ, nhất quán trong tổ chức thực hiện.

Cây xanh đô thị có vị trí rất quan trọng đối với nền văn minh nhân loại
từ thời cổ đại. Con người sử dụng cây xanh trong việc trang trí ngoại thất cho
các tượng đài, xây dựng các vườn tín ngưỡng trong các đền thờ. Cùng với
việc trồng cây, kiến thức liên quan tới chăm sóc cây trồng cũng đã xuất hiện
khoảng 1.500 năm trước công nguyên [11].
Việc đưa cây xanh vào cơ cấu đô thị ở các nước trên thế giới đã có từ
thời trung cổ, nhưng ở thời kỳ này cây xanh được trồng ở hình thức bố cục và
được hiểu đơn thuần là các vườn - công viên, dinh thự tư nhân, vườn di tích,
vườn của vua chúa,… với mục đích để dạo chơi, ngắm cảnh.
Đến cuối thế kỷ XIX, do quá trình đô thị hóa đang dần phát triển, tính
chất xã hội hóa cao hơn, nhu cầu sinh hoạt công cộng phát triển, sự hoạt động
của các nhà máy và nảy sinh một số nhu cầu nghỉ ngơi - nghỉ dưỡng trong
môi trường tự nhiên. Vì vậy, cây xanh chốn đô thị được xem như là lá phổi
xanh và là bộ phận hữu cơ trong cấu trúc đô thị. Từ đó, không gian xanh đô
thị được hình thành và trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong cơ cấu
quy hoạch thành phố.
Đường phố là thành phần quan trọng trong cơ cấu quy hoạch hệ thống
không gian và cảnh quan đô thị. Phần lớn thời gian con người sống ở đô thị là
ở ngoài đường như đi làm, giao tiếp bạn bè, tới các công trình dịch vụ công
cộng, thương nghiệp và văn hóa,…
Một nghiên cứu của Unasylva về sự yêu thích cây cối của người dân
thành phố Detroi đã nhận thấy rằng: 2/3 số người dân cảm thấy rằng nên dành
nhiều kinh phí hơn để đầu tư chăm sóc cho cây cối trong công viên, đường
phố và các khu dân cư [38].

Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Ở các nước phát triển cũng có rất nhiều người nhà nghiên cứu về cây
xanh đô thị họ đã đưa ra các giải pháp làm đẹp thành phố mà diện tích cây
xanh vẫn hài hòa để giữ cho môi trường luôn trong lành. Đầu tiên nghiên cứu

Varsaw (Balan) có diện tích đất trồng cây lớn nhất thế giới tính theo bình
quân đầu người là 90 m
2
; ở Canberra (Autralia) thì chỉ tiêu này là 70,5 m
2
;
Vienna (Áo) là 70 m
2
và ở Stockholm (Thụy Điển) là 68,8 m
2
…(dẫn theo Hàn
Tất Ngạn, 2000) [16].
1.1.2. Nghiên cứu về vai trò của cây xanh đô thị
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về tác dụng cải tạo môi trường
của cây xanh được tiến hành rộng rãi trên thế giới từ những năm 60, 70 của
thế kỷ XX. Cùng với sự phát triển của KH - KT và kinh tế - xã hội là quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đây nảy sinh ra nhiều vấn đề mang
tính cấp thiết đối với đô thị như: sự gia tăng dân số, gia tăng quy mô của các
công trình xây dựng, mật độ đường xá, sự lớn nhanh của các nhu cầu của tài
nguyên thiên nhiên như nước, thực phẩm, năng lượng, các nguồn nguyên liệu
khác,… Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến nguồn tài nguyên bị cạn kiệt,
cân bằng sinh thái bị phá vỡ, môi trường sống bị suy thoái, đặc biệt là ô
nhiễm nguồn nước, đất, không khí và cũng là tình trạng chung, là vấn đề đã
và đang được quan tâm trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vai trò của cây xanh trong việc chắn
gió, bụi và giảm lượng chất phóng xạ, tiếng ồn. Năm 1976 Federer C.A khi
nghiên cứu ảnh hưởng của rừng đến gió đã kết luận tốc độ gió giảm chỉ còn
30 % ở mặt khuất gió cách bìa rừng 170 m so với tốc độ gió ở chỗ trống ban
đầu [28], nghiên cứu của Richards N.A (1982 - 1983) cho thấy, rừng có khả
năng hấp thụ các chất phóng xạ, các quần xã thực vật rừng có thể làm giảm

như sau:
+ Lá cây mọng nước có thể giảm tiếng ồn.
+ Lá cây cản ánh sáng trực xạ.
+ Lá mỏng lọc ánh sáng.
+ Lá và cành cây cản gió
+ Lá và cành cây làm giảm động năng hạt mưa.
+ Lông trên lá cây giữ bụi.
+ Cành có gai ngăn cản người xâm phạm.
+ Cành cây rung động có thể cản tiếng ồn.
+ Khí khổng trên lá cây trao đổi các chất khí.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
+ Chồi và lá cây tỏa mùi thơm.
+ Rễ cây lan rộng giữ đất, giảm xói mòn.
Từ đó tác giả đã đưa ra các tiêu chuẩn chọn loài cây trồng như sau:
- Chọn loài cây có khả năng thích ứng, chống chịu được điều kiện môi trường
độc hại (bụi, khí, nước,…) đồng thời cũng tạo mỹ quan đẹp cho phong cảnh.
- Loài cây có khả năng chống ô nhiễm.
- Loài cây không có yêu cầu cao về thổ nhưỡng, dễ trồng và dễ sinh
trưởng ở nhiều điều kiện khác nhau.
- Loài cây cần ít chăm sóc, có sức sống khỏe,…
- Loài cây lớn nhanh, có khả năng tái sinh chồi mạnh.
- Loài cây có lá to, nhám, dày, lá cây thường xanh tươi.
- Loài cây dễ thích ứng cho công tác di cây khi có yêu cầu.
Các công trình nghiên cứu về loài cây, các yếu tố môi trường ảnh hưởng
tới sinh trưởng của cây trồng, vai trò của cây xanh, mảng xanh trong điều hòa
khí hậu, ngăn cản gió, hạn chế tiếng ồn, ngăn cản ô nhiễm không khí,… đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như Heisler G.M (1986, 1989) [30],
[31]; Grey G.M & Deneke F.J (1978) [29]; Decourt . N (1978, 1979),… [25],

quy hoạch chú trọng, mặc dù các công viên có chức năng khác nhau song
phương pháp quy hoạch cây xanh về cơ bản tương tự nhau. Tùy thuộc vào
quy mô, tính chất công viên mà phân ra các khu chức năng khác nhau, sau đó
quy hoạch cây xanh cho từng khu, quy hoạch chi tiết cho từng tiểu cảnh có
kèm theo bản vẽ quy hoạch (dẫn theo Phạm Hồng Nhung, 2007) [17].
Những yêu cầu đối với cây xanh đường phố theo vĩ tuyến (khi trục
đường có hướng từ Đông sang Tây và mặt nhà ở phía Bắc và Nam đường
phố) và hướng kinh tuyến (khi trục đường có hướng từ Bắc xuống Nam và
mặt nhà phía Đông và Tây của đường phố) sẽ khác nhau. Trên đường phố,
theo hướng vĩ tuyến, dãy nhà quay về hướng Bắc thì không có tia mặt trời
trực tiếp, do đó chỉ cần tạo bóng mát trên vỉa hè cho người đi bộ. Tuy nhiên,
cũng hướng này nhưng nếu bên đường là những tòa nhà cao thì ngôi nhà cũng
tạo bóng mát cho vỉa hè, như thế thì việc trồng cây che bóng mát là không cần
thiết. Theo hướng kinh tuyến, phải tạo bóng mát không chỉ cho vỉa hè mà còn

Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
cho cả mặt nhà vì mặt trời chuyển dịch từ Đông sang Tây sẽ tạo những bức xạ
cho cả ngôi nhà và vỉa hè đường phố. Trong trường hợp phố rộng, việc tổ
chức số hàng cây thân gỗ cả 2 phía vỉa hè là hiệu quả nhất. Nếu đường phố
hẹp, chỉ có thể chỉ có thể trồng cây về một phía vỉa hè, nên trồng xen kẽ giữa
cây thân gỗ cao và cây thân gỗ trung bình, trong đó cây cao che mát cho nhà
còn cây trung bình che cho vỉa hè. Bóng mát do cây tạo ra sẽ thay đổi theo
thời gian trong ngày và theo hướng, căn cứ vào đó ta có thể xác định được cự
ly trồng cây thích hợp cho từng loại đường cụ thể [34].
Việc ứng dụng các kiến thức, kỹ thuật trong lâm nghiệp truyền thống,
các ứng dụng của máy tính vào việc điều tra, quản lý cây xanh đô thị cũng
được quan tâm nghiên cứu. Một số kết quả của Paulsson B (1992) về lưu trữ
và ứng dụng công nghệ GIS vào việc quản lý cây xanh đô thị đã mở ra một
hướng đi mới trong việc quản lý có hiệu quả hệ thống cây xanh đô thị [35].

chậm, cây cao với cây thấp, cây ưa sáng với cây chịu bóng, cây lớn với cây
nhỏ,…[19].
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy cây
xanh ở đây rất phong phú và đa dạng. Các đô thị phía Bắc trước năm 1954,
công tác quản lý các vườn hoa - cây xanh thuộc sở Nông - Lâm quản lý, chủ
yếu có nhiệm vụ trồng và chăm sóc các v
thuộc về giao thông công chính. Ở đô thị lớn như Hà Nội thì công tác quản lý
hệ thống cây xanh còn bao gồm các vườn cảnh của một số cơ quan chức pháp
và vườn cây - hoa của các tòa đại sứ. Ở các tỉnh thành khác thì không thành
lập công ty mà chỉ thuộc Đội trồng cây của Sở Nông - Lâm. Sau 1954, công
tác quản lý cây xanh ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam
Định,… được tổ chức thành công ty cây xanh.
Nhiều công trình nghiên cứu có liên quan tới chủng loại cây xanh đô thị,
nghệ thuật vườn - công viên, vườn cảnh Đông phương, bố cục vườn,… đã
được các tác giả Hà Tất Ngạn, Trần Hợp, Phương Thảo,… công bố. Các công
trình nghiên cứu này giới thiệu khá chi tiết về chủng loại loài cây, mô tả đặc
điểm hình thái, sinh thái loài nên có ý nghĩa rất lớn trong việc gây trồng và
phát triển cây xanh đô thị ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí

Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
Minh, góp phần quan trọng trong phát triển cảnh quan đô thị của nước ta
[8], [15], [21], [22].
Cũng trong công trình nghiên cứu khoa học năm 2007 của nhóm sinh
viên Lê Thị Hường, Nguyễn Thị Oanh, Mai Thị Thư về việc “đánh giá các
phương pháp lựa chọn cây trồng lục hóa thành thị” dưới sự hướng dẫn của
Hoàng Kim Ngũ, các tác giả đã đánh giá các phương pháp chọn loài cây trồng
đô thị trong và ngoài nước, các kết quả đánh giá thu được cho thấy phương
pháp dùng chỉ tiêu đánh giá tổng hợp của Trung Quốc đã áp dụng tỏ ra có
hiệu quả khá cao [10].

cây mà còn phụ thuộc vào cách bố trí phối hợp trồng các loài cây với nhau.
Nghiên cứu còn cho thấy, dãy cây có chiều rộng từ 10 - 15 m có thể giảm
tiếng ồn từ 15 - 18 dBA [18].
Năm 2005, Bùi Xuân Dũng cũng đã nghiên cứu vai trò của cây xanh
trong giảm bớt lượng vi khuẩn trong không khí, các kết quả nghiên cứu cho
rằng: Thực vật màu xanh có thể giảm thiểu số lượng vi khuẩn trong không khí,
một mặt là do thực vật hút bám các hạt bụi, giảm bớt thể mang vi khuẩn. Mặt
khác, bản thân thực vật có khả năng tiết ra chất diệt khuẩn là chất phytonxid,
đó là hợp chất hữu cơ dễ bay hơi do thực vật tiết ra trong quá trình sống để bảo
vệ vết thương, chống các loại côn trùng, nấm bệnh,… Ngoài ra, các chất này
còn có khả năng ion hóa không khí, diệt các vi khuẩn gây bệnh. Đa số các
phytonxid có tác động chọn lọc: phytonxid của cây Thông diệt khuẩn lao, cây
Bạch đàn diệt vi khuẩn, nấm và các động vật nguyên sinh khác [5].
Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà Nước Việt
Nam cho thấy nhiệt độ không khí trong vùng có cây xanh thấp hơn những nơi
không có cây xanh. Ở vườn Bách Thảo Hà Nội, nhiệt độ nơi đất trống là
32,3
o
C, dưới tán cây là 28,29
o
C. Nhiệt độ trên mặt đường nhựa là 39,5
o
C và
dưới tán cây bóng mát là 34,3
o
C. Lượng bụi trung bình khu vực không có cây
xanh là 0,9 mg/m
3
không khí, dưới tán cây gỗ là 0,52 mg/m
3

2
/người).
- Các đô thị loại III và loại IV như Thị xã Vĩnh Yên, TP. Bắc Giang, Thị
xã Bến Tre diện tích đất xanh trung bình khoảng 4,3 m
2
/người.
- Các đô thị loại V con số này rất thấp hầu như không đáng kể [2].
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2003, Trần Ngọc Đang - Trung
tâm ứng dụng KHKT Lâm nghiệp đã tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng
và xây dựng danh lục cây xanh đô thị TP. Hà Nội và cố đô Huế [6].
Khi nghiên cứu, đánh giá và xây dựng tiêu chuẩn cây xanh đô thị của
các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam, trong quy phạm cây xanh
đô thị thiết kế xây dựng đô thị số 20TCVN-82-81, Bộ xây dựng đã ban hành
tiêu chuẩn cây xanh cho các thành phố Việt Nam như sau:
+ Đối với đô thị nhỏ: 8 m
2
cây xanh/người.
+ Đô thị trung bình: 11 m
2
cây xanh/người.
+ Đô thị lớn: 13 m
2
cây xanh/người.
Tuy nhiên, diện tích cây xanh đô thị Hà Nội hiện nay mới xấp xỉ khoảng
4 m
2
/người, bình quân đô thị cả nước mới đạt 0,6 m
2
/người, như vậy mới đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status