BÁO CÁO TỐT NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI - Pdf 19


TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC TỒN TẠI CÁC THÀNH PHẦN
KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA :
1. Tính tất yếu khách quan của việc tồn tại thành phần kinh tế Nhà nước


nhịp độ tương đối cao trong thời gian qua. Điều đó cũng nói lên được tính tất yếu
khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
2. Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của Doanh nghiệp nhà nước trong nền
kinh tế quốc dân .

a. Khái niệm chung về doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước là cơ sở kinh tế do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một
phần quyền sở hữu thuộc về Nhà nước, là đặc điểm để phân biệt DNNN với doanh
nghiệp tư nhân, còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm để phân biệt DNNN với các tổ
chức cơ quan khác của Chính phủ.Tuy nhiên, sự xác định giới hạn của DNNN ở mỗi
nước trên thế giới khác nhau.
Riêng ở Việt Nam nói về DNNN có thể khái quát ra những đặc trưng cơ bản
sau đây: Nhà Nước có một tỷ lệ vốn nhất định trong doanh nghiệp nhờ đó có thể gây
ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp, các doanh
nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu chủ yếu từ hoạt
động kinh doanh, và phải thực hiện song song các mục tiêu sinh lời lẫn mục tiêu xã
hội.
Ở Việt Nam, DNNN đã có một quá trình hình thành và phát triển trên 50 năm
và trải qua nhiều thời kỳ đổi mới, ở mỗi thời kỳ nhận thức về DNNN cũng rất khác
nhau. Điều này được thể hiện rõ qua hai thời kỳ: thời kỳ trước đổi mới ( trước Đại hội
lần thứ VI ) và từ năm 1986 cho đến nay.
Trước thời kỳ đổi mới doanh nghiệp được nhìn nhận như cơ quan chính phủ
hơn là tổ chức kinh doanh. Mục tiêu của DNNN là thực hiện những chỉ tiêu hiện vật
chứ không vì mục tiêu lợi nhuận.
Từ những năm đổi mới (từ Đại hội Đảng lần thứ VI, năm 1986 đến nay) nền
kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN thì quan
niệm DNNN cũng có sự thay đổi.
Trước hết thể hiện qua định nghĩa DNNN trong điều lệ xí nghiệp công nghiệp

nhiệm về mặt tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, chịu sự điều chỉnh
của pháp luật như các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác .
+ Loại thứ hai: DNNN hoạt động công ích, là doanh nghiệp hoạt động sản
xuất, cung cấp dịch vụ công cộng theo chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, loại hình DNNN này còn tổ chức hoạt
động kinh doanh bổ sung nhưng không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ
chính sách là hoạt động công ích do nhà nước giao. Đồng thời cũng phải chấp hành và
chịu sự điêù chỉnh của pháp Luật như các doanh nghiệp khác, với loại hình doanh
nghiệp này nhà nước ưu tiên đầu tư vốn, miễn thuế (mức thuế thu nhập doanh nghiệp).
b.Vai trò của DNNN trong nền kinh tế quốc dân:
Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta thấy vai trò của
DNNN được nhấn mạnh ở khía cạnh kinh tế chính trị, vì mục tiêu xây dựng quan hệ sở
hữu toàn dân trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân hơn là khía cạnh kinh tế vì mục tiêu
tăng trưởng.

Hiện nay trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường định hưóng XHCN. Hệ thống kinh tế nhà nước bao gồm đất đai và tài nguyên,
hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, hệ thống dự trữ
quốc gia, các DNNN và một phần vốn của DNNN góp vào các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác. Như vậy DNNN là một bộ phận kinh tế nhà nước, hệ thống
kinh tế nhà nước có nghĩa rộng như trên mới có vai trò chủ đạo, chi phối và định
hướng của nền kinh tế. Hệ thống này được lãnh đạo trực tiếp bởi đại diện sở hữu và
phát huy sức mạnh đựơc nhân lên bởi quyền lực chính trị của nhà nước do pháp luật
quy định hoàn toàn có khả năng và cần thiết thực hiện vai trò chủ đạo định hướng nói
trên .
Trong hệ thống kinh tế nhà nước, các DNNN là một hệ phân hợp thành hết sức
quan trọng, vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. DNNN góp
phần thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước trên các mặt sau:
Một là: DNNN đóng vai trò là một công cụ kinh tế, một lực lượng vật chất
trong tay nhà nước để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo các

là vai trò giá đỡ của nền kinh tế. Đây là vai trò lâu bền của khu vực DNNN ngay cả
khi doanh nghiệp tư nhân đã trưởng thành. Khi DNNN thu hẹp lại thì vao trò trong
việc cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng, khắc phục khuyết tật thị trường và vai trò
làm giá đỡ cho nền kinh tế vẫn được duy trì.

Hai là: Vai trò chủ đạo của DNNN phải được thể hiện không ngừng nâng cao
hiệu quả và khả năng điều tiết trong nền kinh tế thị trường.

Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản, thậm chí là mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp
tư nhận, do đó không có lợi nhuận thì đối với họ kinh doanh là mục tiêu vô nghĩa và
đượng nhiên họ không đầu tư. Còn DNNN lại khác, lợi nhuận không phải là mục tiêu
duy nhất và thậm chí cũng không phải là mục tiêu chủ yếu. Tuy nhiên nó đóng vai trò
động lực để xem xét đến lợi ích chính trị, xã hội, kinh tế của đất nước.

Vì thế, hiệu quả của DNNN có thể là hiệu quả tổng hợp kinh tế, chính trị và
hiệu quả xã hội. Do đó, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công ích phải đặt mục đích lợi nhuận xuống hàng thứ yếu. Tuy nhiên, nếu xét trên
tổng thể toàn bộ khu vực DNNN đều không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp thì tất
yếu phải dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước hay tiền thuế của doanh nghiệp tư nhận đóng
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

để tồn tại. Điều này sẽ làm cho DNNN mất sức cạnh tranh thiếu sức sống, trở thành
gánh nặng cho cả Nhà nước và xã hội, vì thế vai trò chủ đạo của nó khó có thể thực
hiện được một cách có hiệu quả.

Ba là: Vai trò của DNNN có tính quy định lịch sử cụ thể, nên vai trò chủ đạo
của DNNN phải thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế.

Sở dĩ trong thời kỳ quá độ, DNNN đóng vai trò chủ đạo, vì sự phát triển của nó
tạo đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ cho bước chuyển nền kinh tế chậm phát triển sang phát

phát triển của chúng quyết định đến sự phát triển chung của nền sản xuất xã hội, sản
xuất đồ dùng cho người tàn tật, các hoạt động nghiên cứu cơ bản…
Như vậy, trong khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường mà coi nhẹ DNNN hoặc tư nhân hoá tất cả các tư liệu sản
xuất là sai lầm. Song, duy trì DNNN tràn lan, hoạt động không hiệu quả, hạn chế sự
phát triển kinh tế, làm lãng phí tài sản của Nhà nước thì thực chất là hạ thấp vai trò của
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

DNNN. Vai trò chủ đạo của hệ thống kinh tế Nhà nước nói chung và DNNN nói riêng
gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế theo định hướng XHCN
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nó khác với vai trò, qui mô, bản
chất của DNNN ở các nước tư bản chủ nghĩa.

II/ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN VÀ ĐẢNG TA VỀ
KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ DNNN NÓI RIÊNG VÀ MỘT SỐ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƠI:
1. Một số quan điểm của Chủ Nghĩa Mác-Lênin và Đảng ta về kinh tế Nhà nước
nói chung, DNNN nói riêng.
a. Một số quan điểm của Chủ Nghĩa Mác-Lênin.
Trong nền kinh tế chưa thực sự phát triển cao, lực lượng sản xuất luôn tồn tại ở
nhiều trình độ khác nhau; tương ứng với mỗi trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một
kiểu quan hệ sản xuất. Do đó cơ cấu của nền kinh tế xét về phương diện kinh tế xã hội
phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn có vai trò to lớn đối với đời sống kinh tế
xã hội, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc
dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và
công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong đó các DNNN,
bộ phận quan trọng nhất của kinh tế, giữ những vị trí then chốt; phải đi đầu trong việc
ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu
quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật trong chính sách kinh tế mới, Lênin có nói

nhận công nghệ hiện đại, tiếp cận nghệ thuật quản lý tiên tiến trên thế giới, tạo cơ sở
kinh tế cho các ngành kinh tế khác phát triển. Khu vực DNNN phải đi đầu trong quá
trình công nghệp hoá, hiện đại hoá theo hướng mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Vai trò của DNNN phải thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào từng giai đoạn mà Nhà
nước trao cho sứ mệnh phải gánh vác.
 Một số quan điểm về DNNN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Tỉnh Quảng Ngãi:
Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước. Tiếp tục
sắp xếp lại DNNN theo loại hình DNNN làm nhiệm vụ kinh doanh và DNNN làm
nhiệm vụ công ích. tiếp tục hoàn thiện tổ chức, quản lý DNNN như: sắp xếp, sáp nhập,
giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Tổ chức các doanh nghiệp phù hợp với quy hoạch
ngành, lãnh thổ vào những ngành cần thiết cho sự phát triển có hiệu quả và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như: kết cấu hạ tầng, tài chính, ngân hàng, an ninh
quốc phòng và những DNNN trong một số ngành sản xuất dịch vụ cần thiết trong nền
kinh tế. Thông qua đó mà Nhà nước có thể điều tiết, hỗ trợ các DNNN và các thành
phần kinh tế khác. Tiếp tục đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tổ chức và quản lý doanh
nghiệp theo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là cơ sở và điều kiện để DNNN
duy trì vai trò chủ đạo của mình.
Trong điều kiện ngày nay sự quản lý của Nhà nước XHCN nhằm sửa chữa
”những thất bại của thị trường’’, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân
cơ chế thị trường không thể làm được, đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển
theo định hướng XHCN (bàn tay vô hình của Nhà nước). Vai trò quản lý của nhà nước
XHCN là hết sức quan trọng. Nó đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt
hiệu quả cao, đặc biệt là đảm bảo công bằng xã hội.

2. Một số kinh nghiệp của một số nơi.
a. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
 Ở Malaixia

(1)

Đến năm 1988, tình hình họat động của các DNNN cũng không thay đổi.
Trong tổng số 770 DNNN được điều tra về lãi và lỗ, chỉ có 387 doanh nghiệp hoạt
động có lãi với tổng lợi nhuận là 4,868 tỷ đôla và 383 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
5.610 đôla. Phần lớn doanh nghiệp bị thua lỗ là doanh nghiệp có quy mô lớn và ở
trong công nghiệp nặng.
Nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của DNNN ở Malaixia là yếu kém trong
quản lý, kiểm soát và kế hoạch của Chính phủ, những mục tiêu trái ngựơc nhau của
các DNNN, thiếu sự linh hoạt trong môi trường kinh tế. Malaixia đang tiến hành cải
cách trong công tác kế hoạch hoá, bỏ những cản trở về nguồn nhân lực, giảm can thiệp
Chính phủ, cải thiện môi trường hoạt động kinh doanh. Gần đây hệ thống khuyến kích
theo cơ chế thị trường được áp dụng trong việc lập chính sách cho các DNNN.

*Ở Trung Quốc
(2)
:
Giống như các nước XHCN khác, tỷ trọng của khu vực DNNN trong nền kinh
tế quốc dân ở Trung Quốc rất cao. DNNN giữ vị trí chủ đạo, hoạt động của DNNN
theo cơ chế tập trung quan liêu tỏ ra rất kém hiệu quả. Trung Quốc đã tiến hành cảI
cách khu vực DNNN vào cuối những năm 70.
Từ năm 1978 đến nay, cuộc cải cách các DNNN ở Trung Quốc có thể chia
thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1978 đến 1984) là giai đoạn Trung Quốc tập trung
vào thay đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nội dung chính của cải cách trong giai
đoạn này là trao quyền tự do cho các DNNN. Cải cách này đã biến doanh nghiệp từ
một tổ chức hành chính của Chính phủ thành một đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hoá
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

và dịch vụ. Tuy nhiên việc mở rộng quyền tự chủ của các DNNN không mang lại kết
quả gì về mặt thu nhập tài chính cho Nhà nước, thu nhập tài chính của Nhà nước trong
vòng 4 năm gần như không tăng.

chế thị trường, tuy nhiên vẫn còn một số hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ trong sản
xuất kinh doanh, nhìn chung chưa có tính ổn định. Qua đó cho thấy: cơ chế bao cấp đã
ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, trong khi đó bộ
máy chỉ đạo của các doanh nghiệp cồng kềnh, chi phí quản lý quá lớn, cơ cấu chủng
loại sản phẩm còn nghèo nàn, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, gỗ…
Để DNNN giữ được vị trí chủ đạo thực sự, Nhà nước cần phải củng cố để có
được sự phát triển đúng hướng, phục vụ tốt cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của Tỉnh trong những năm tới. Việc triển khai sắp xếp doanh nghiệp theo chỉ thị
500/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện được công tác quy hoạch tổng thể, sắp
xếp lại doanh nghiệp theo ngành kinh tế kỹ thuật gắn với lãnh thổ phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức
năng Nhà nước về mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh ở từng doanh nghiệp rất đa
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

dạng. Do vậy đã làm cho quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá được mở rộng, đồng
thời doanh nghiệp được tự chủ và chịu trách nhiệm về kinh tế hoặc sản xuất kinh
doanh của mình, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức
liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác, cung ứng các dịch vụ về kinh tế
kỹ thuật, thu mua sản phẩm, góp phần tạo ra bước phát triển ổn định cho nền kinh tế
của tỉnh. Sau khi thực hiện phương án sắp xếp DNNN của tỉnh hiện nay toàn tỉnh gồm
có 122 doanh nghiệp.
Như vậy có thể nói sự tồn tại của DNNN là một tất yếu khách quan, DNNN
được sử dụng như một công cụ điều tiết của Chính phủ, vừa làm chức năng chính trị
và xã hội, vừa đảm bảo cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng, xã hội phát triển công
bằng và ổn định. DNNN góp phần thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước.
số DNNN, nắm giữ 66% về vốn, 61% về lao động trong toàn khối DNNN. Trong đó,
riêng 17 tổng Công ty 91 có 532 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập bằng 9%
số DNNN, chiếm 56% tổng số vốn. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, so vớI yêu cầu
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống DNNN còn nhiều yếu
kém và bất cập.
Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé dàn trải trên hầu hết các ngành, nghề và địa
phương phân tán về vốn, trong khi vốn Nhà nước rất hạn chế. Tính đến nay, trong số
5.655 DNNN, kể cả hàng trăm DNNN mới đã thành lập trong những năm gần đây, số
doanh nghiệp vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 65,4%, số doanh nghiệp vốn trên 10 tỷ
đồng chiếm 20,89%, ở các địa phương hơn 30% số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ
đồng. Tình trạng phổ biến là các doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ các doanh nghiệp còn lạc hậu. Ngoài một số ít
doanh nghiệp được trang bị kỹ thuật hiện đại hoặc trung bình, đại bộ phận doanh
nghiệp máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất còn lạc hậu so với thế giới từ 10 – 20
năm, các ngành như ngành cơ khí tới 30 năm, thậm chí có 38% số này ở dạng thanh lý.
Do tình trạng máy móc như vậy nên chưa tạo được nhiều sản phẩm mũi nhọn cho quốc
gia, khả năng cạnh tranh thấp. Một số mặt hàng trong nước như sắt, thép, phân bón, xi
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

măng, … có mức giá cáo hơn mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ 20-40%, cá biệt mặt
hàng đường thô cao hơn tới 70-80%. Chỉ khoảng 15% sản phẩm đạt chất lượng xuất
khẩu. Tình hình này đang là một thử thách rất lớn đối với các doanh nghiệp nước ta
trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh về kinh tế.
Một tình trạng khá phổ biến là số lao động dôi dư trong các doanh nghiệp khá
lớn, ước tính tổng số lao động không có việc làm ở các DNNN tới khoảng 10 vạn
người có tên trong danh sách nhưng đang nghĩ chờ việc hoặc tự bỏ, tự tìm việc ở nơi
khác.
Công nợ tại các doanh nghiệp quá lớn, theo số liệu kiểm kê năm 2000, tổng số
nợ phải trả của DNNN tới 194.841 tỷ đồng, bằng 15,23% tổng số vốn nhà nước trong
các DNNN, trong đó nợ quá hạn là 10.716 tỷ đồng, nợ khó đòi là: 2.748 tỷ đồng. Mặc

Phía bắc tỉnh, tại huyện Bình Sơn đã và đang hình thành khu kinh tế tổng hợp
Dung Quất, trong khu này có cảng nước sâu Dung Quất khu công nghiệp lọc hoá dầu
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

và các khu công nghiệp khác, khu đô thị mới Vạn Tưòng, đây sẽ là khu kinh tế lớn của
đất nước ở Miền Trung.
b. Khí hậu:
Năm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, nên nhiệt độ cao và ít biến động.
Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú nhiệt độ trung bình năm trên 25
0
c. Bình quân 4
năm có một cơn bão hoặc ấp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi,
thường gây nên lũ lụt. Tổng lượng bức xạ trong năm lớn tới 1400-1500Kcal/năm; số
giờ nắng khoãng 2000giờ/năm.
Khí hậu Quảng Ngãi với lượng bức xạ lớn thuận lợi về phơi sấy, sử dụng năng
lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến Nông Lâm Sản làm muối sản xuất điện
năng. Tuy nhiên do địa hình dốc, mưa tập trung theo mùa vào tháng 9,10,11 và 12
hàng năm nên thường xuyên bị lũ lụt làm ảnh hưởng sản xuất, thiệt hại về người và vật
chất cho nhân dân trong vùng.
c. Khái quát về kinh tế -xã hội:
Trải qua một thập kỷ, từ một tỉnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, chúng ta
đã cố gắn phát triển một cách toàn diện, cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế và xã hội được
tăng cường đời sống nhân dân từng bước được cải thiện số hộ đói nghèo giảm đáng kể.
Nền kinh tế từng bước được ổn định và phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng khá so
với mức bình quân chung cả nước. Đặc biệt từ năm 2002 trở lại đây tốc độ phát triển
kinh tế tăng ở “ 2 con số “. (Năm 2002: 10,6 %; năm 2003 : 10,3%; ước thực hiện năm
2004 : 11- 11,5 % ). Năm 2003 tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 420.000 triệu
đồng.
GDP bình quân đầu người tăng năm 2002 là 2,628 triệu đồng (192 USD), năm
2003 là 3,562 triệu đồng (230 USD), ước thực hiện 2004 khoảng 3,838 triệu đồng


36,70

+Công nghiệp-xây dựng 22,20

23,43

24,60

+Dịch vụ 39,00

37,91

38,70

(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Quảng Ngãi )
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng nông-Lâm-Ngư
nghiệp còn cao, tỷ trọng công nghiệp –xây dựng còn ở mức thấp.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngày càng được hoàn thiện, hằng
năm tạo việc làm và thêm việc làm mới cho khoảng 29-30 ngàn lao động, đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo 23,7% (miền núi 50,1%)
năm 2001 xuống còn 14,8% (miền núi 41%) năm 2003, tình hình an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững.
Mặc dù tốc độ tăng trương kinh tế của tỉnh hằng năm tăng cao hơn so với tốc độ
tăng trương kinh tế của cả nước và một số tỉnh trong vùng Duyên Hải Trung Trung Bộ
cũng như vung kinh tế trọng điểm miền Trung nhưng do điểm xuất phát của nền kinh
tế tỉnh còn thấp nên GDP bình quân đầu người qua các năm xấp xỉ một số tỉnh điều

Chỉ tiêu 2001 2002 2003
I.Tổng sản phẩm GDP
Trong đó :
- Kinh tế nhà nước
+ Trung ương quản lý
+ Địa phương quản lý
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể, tiêu chủ
- Tư bản tư nhân
- Tư bản hổn hợp
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài
3.390.887850.211

515.156

335.055

419.354

2.005.942

44.661

63.408

2.039

536.162

500.235

2.439.620

82.075

40.305

2.615

II.Tổng thu ngân sách nhà nước
Trong đó :
- Thu từ kinh tế quốc doanh
+ Trung ương
+ Địa phương
200.000
67.920

15.260220.000

đạt 731.500 triệu đồng (tăng 23,31% so với năm 2002) công nghiệp quốc doanh địa
phương đạt 43.500 triệu đồng tăng (tăng 9,57% so với năm 2002) sản phẩm công
nghiệp dần tăng cao về số lượng, chủng loại chất lượng, tiêu biểu:
- Năng lực chế biến hải sản đạt 5.000 tấn /năm.
- Công suất chế biến mía đường đạt 4000 tấn/ngày. Nhu cầu nguyên liêu mía từ
750.000 tấn – 800.000 tấn/năm và mở rộng đầu tư các tỉnh Gia Lai, Kontum công suất
2.500 tấn/ngày.
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

- Số lượng thiết bị sản xuất hàng may mặc xuất khẩu từ 4 chuyền lên 16
chuyền.
- Sản lượng điện hằng năm từ 65 triệu KWh lên mức 200 tri ệu KWh.
- Về chế biến lâm sản: sản lượng gổ khai thác năm 2002 đạt 57.943 m
3
chủ yếu
là gổ rừng trồng. Quảng Ngãi đang nghiên cứu quy hoạch phát triển nhiều loại cây
công nghiệp như: cao su, ca cao, chè …đặc biệt rừng Trà Bồng thích hợp cho việc phát
triển cây quế công nghiệp, chế biến các mặc hàng từ cây quế, còn nhiều tiềm năng mời
gọi đầu tư. Đây là một điều kiện và đông lực để phát triển hoạt đông trong lãnh vực
này.
Bảng 1: Danh mục các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp quốc doanh.
Các sản phẩm chủ yếu Đơn vị
tính
2001 2002 2003
Xi măng Tấn 12.200

45.000

50.000


23.500

Bia 1000lít 14.158

18.000

20.000

Thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu Tấn 2.681

36.000

3.600

Tinh bột mỳ Tấn 15.000

22.000

25.000

Gạch các loại 1000v 145.737

170.000

200.000

Nước máy 1000m
3
3.990


tục đền bù và chuẩn bị thi công, giải quyết trên 2.000 lao động.
Đến nay các công trình hạ tầng ngoài hàng rào Nhà máy lọc dầu số 1 và khu
công nghiệp đã cơ bản hoàn thành và đang tiếp tục đầu tư, chuẩn bị đầu tư, phục vụ
ngay cho quá trình Xây dựng, vận hành các nhà máy trong khu công nghiệp ( vớI
60,96 km giao thông ), bến cản chuyên dùng cho tàu 10.000 tấn, xây dựng nhà máy
nước 15000 m
3
/ngày đêm; cấp điện, bưu điện Dung Quất với tổng đài điện tử 512 số)
hiện đã có 2 trạm biến áp 110 và 220 KV tại Dung Quất và Dốc sỏi theo tổng sơ đồ 5
trình Chính phủ phê duyệt, thì từ nay đến hết 2005 tại Dung Quất sẽ có trạm BA 500
KV và đường dây cao thế 500 KV Playcu – Dung Quất (là giai đoạn hai của dự án
mạch 500 KV thứ hai đất nước - giai đoạn một đường đây 500 KV Plâycu – Phú Lâm
sắp hoàn thành ).
Tóm lại khu công nghiệp quốc doanh có 1 đóng góp tích cực về mặt xã hội là
đã giải quyết được 5.398 lao động, đã làm giảm bớt nổi lo của Đảng và nhà nước ta
nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Song, thực trạng phát triển công nghiệp của
kinh tế quốc doanh còn chậm, chưa vững chắc. Trong giai đoạn này giá trị sản xuất
của ngành còn phụ thuộc nhiều vào giá trị sản xuất cuả công ty đường nhưng hiện nay
sản phẩm đường đang gặp khó khăn trên thị trường, do đó chất lượng và giá cả còn
hạn chế trong cạnh tranh đối với các sản phẩm cùng loại và các sản phẩm thay thế.
Nguồn nguyên liệu mía hiện nay chỉ đáp ứng khoảng 60% công suất chế biến.
Bên cạnh đó việc triển khai dự án nhà máy lọc dầu số 1 chậm so với kế hoạch
đề ra nhất là gói thầu 5a và gói thầu số 1 là gói thầu chính của nhà máy. Hiện nay đã
chậm khoảng 5-6 tháng và nếu không có giải pháp tích cực thì khả năng cuối 2005 nhà
máy mới hoàn thành. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ phát triển của cả khu
công nghiệp Dung Quất và nền kinh tế của tỉnh.
+ Về đầu tư phát triển xây dựng:
Trong những năm vừa qua DNNN đã hoàn thành nhiều công trình cho tỉnh góp
phần làm hiện đại hơn cơ sở hạ tầng cho tỉnh nhà.
Bảng 2: Danh mục dầu tư cơ bản của DNNN

142.023
350.989
159.201
871.476
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI

Vốn nhà nước đầu tư vào xây dựng tăng lên qua các năm, trong đó là do vốn
ngân sách nhà nước và vốn tự có của DNNN tăng; vốn tín dụng giảm. Điều đó chứng
tỏ năng lực cuả DNNN tăng lên.
Đến nay đã có 177/179 xã có đường ôtô đến trung tâm xã, đã có 100% tuyến
đường trung tâm huyện đến các xã đồng bằng được nhựa hoá, đua vào sử
dụng 10.885 km đường giao thông; trong đó cứng hoá, nhựa hoá 808,5
km, bê tông hoá hơn 200 km, hàng trăm cầu cống được xây dựng. Nâng
cấp và làm mới đưa vào sử dụng 38 công trình thuỷ lợi (tổng công suất
tưới hơn 2070ha); nâng cấp trên 50 km tuyến kênh chính và kênh cấp 2
thuộc công trình thuỷ lợi Thạch Nham; kiên cố hoá 137 km tuyến kênh
mương nội đồng; đưa trung tâm y tế Đức Phổ sử dụng với 150 giường
bệnh, xây dựng trên 1000 phòng học ở các địa phương.
Về điện đã nâng cấp, cảI tạo, mở rộng và xây dựng mới, nhiều trại biến áp 35
KV ở hầu hết các huyện trong tỉnh, xây dựng trạm điện diezel tại Lý Sơn và củng cố
các nguồn diezel dự phòng tại chỗ. Mạng lưới điện nông thôn phát triển, cung cấp
điện cho sản xuất và sinh hoạt ở 131 xã, phường, đạt tỷ lệ 73,2% so vớI tổng số xã,
phường toàn tỉnh, mức tiêu thụ địên bình quân đạt 127 KWh/người/ năm.
Hiện tỉnh đang tiến hành xây dựng các dự án trọng điểm như: dự án đường Trà
Bồng –Trà Phong; Cầu cộng hoà; dự án bảo tàng tổng hợp, dự án bệnh viện đa khoa
mới .
Tuy nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước vốn tự có của DNNN có tăng
hằng năm nhưng chưa đủ mạnh tác động thúc đẩy nhanhj chuyển dịch cơ cấu kinh tế
.cón nhiều mặt hạn chế trong công tác quản lý lãnh đạo như: xét đơn ký -duyệt phải
qua nhiều cửa, nhiều khâu, trang thiết bị máy móc lạc hậu, đa phần là được “ hậu sử

Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Bạch Đàn, đá xây dựng, đường RS …
hoạt động xuất khẩu có sự chuyển biến khá tích cực trong giai đoạn này,lần đầu tiên
sau nhiều năm tỉnh đã đạt được kim ngạch xuất khẩu “ 2 con số “. Tuy vậy giá trị vẫn
còn nhỏ bé.Thiết bị công nghệ lạc hậu chưa đủ sức để đầu tư các công nghệ hiện đại,
chưa mạnh dạng tìm kiếm thị trường. Bên cạnh đó sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý
nhà nước cho các doanh nghiệp còn quá ít trong công tác xuất nhập khẩu , tìm kiếm thị
trưòng …
+ Về Nông-Ngư-Lâm nghiệp:
Năm 2003 giá trị sản xuất nông nghiệp của DNNN đạt 15.246 triệu đồng.
Sản lượng mía cây giảm qua các năm do tình hình giá cả thị trường giảm nên
nông dân chuyển sang canh tác loại khác làm ảnh hưởng đến năng xuất và chất lượng
hoạt động chế biến thực phẩm sau đường của công ty đường Quảng Ngãi .Nguồn
nguyên liệu mía hiện nay chỉ đáp ứng khoảng 60% công suất chế biến cho 2 nhà máy
trong tỉnh.
Cây cao su, cây quế, dâu tằm được tập trung phát triển nhưng chất lượng và
hiệu quả chưa cao. Đến năm 2003 diện tích cao su khoảng 1400 ha, quế gần 4200 ha,
sản lượng vỏ quế khai thác hằng năm từ 100 đến 200 tấn, giá trị sản xuất /ha canh tác
năm 2003 đạt khoảng 163 triệu đồng ,tăng 26% so với năm 2000.
Thực hiện các chương tình dự án về lâm nghiệp, trong năm qua đã trồng và
chăm sóc 15,3 nghìn ha rừng tập trung, quản lý, bảo vệ chăm sóc 49,8 nghìn ha,
khoanh nuôi tái sinh 31,75 nghìn ha rừng; nâng độ che phủ rừng từ 27,6% năm 2000
lên 34,9% năm 2003.Sản lượng khai thác gỗ hằng năm có xu hướng giảm, năm 2003
đạt 57.000m
3
(năm 2000 đạt 63.4000m
3
). Do chủ trương hạn chế khai thác rừng tự
nhiên nên từ năm 2000 đến nay sản lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên có chiều hướng
giảm dần, từ 14.190 m
3

Thành, công ty 19/5 ).
BẢNG 3: DANH MỤC DNNN HIỆN CÓ NĂM 2003 TRÊN ĐỊA BÀN QUẢNG NGÃI.
Số
TT

Danh mục Địa chỉ
Vốn NN
(tr. đồng)
Số LĐ
(Người)
1 Cty Điện ảnh Băng hình
63 Phan Đình Phùng,
TX Quảng Ngãi
3464

74

2 Lâm trường Ba Tơ Ba Tơ, Quảng Ngãi 2155

39

3 Cty sách thiết bị Quảng Ngãi
939 Quang Trung,
TX Quảng Ngãi
1853

55

4 Cty nông thực phẩm Quảng Ngãi
48 Phan Xuân Hoà,

Cty phát triển CSHT Quảng Ngãi
Thôn 3 ,quảng Phú,
TX Quảng Ngãi
12922

812

9
Cty cơ khí và xây lắp Quảng Ngãi

số 6 Nguyễn Thuỵ,
TX Quảng Ngãi
2456

155

10
Cty vậ tư ytế Quảng Ngãi
970 Quang Trung,
TX Quảng Ngãi
2095

24

11
Cty dược Quảng Ngãi
974 Quang Trung,
TX Quảng Ngãi
3562


15
Xí nghiệp vận tải ôtô Quảng Ngãi
Phường Quảng phú,
TX Quảng Ngãi
3423

38

16
Cty TNXP xây dựng NTvà MN
Quảng Ngãi
133 Trương Quang
Trọng,TX Quảng
Ngãi
1788

105

17
Cty xổ số kiến thiết Quảng Ngãi
74Phan Đình Phùng,
TX Quảng Ngãi
3399

25

18
Cty cấp thoát nước Quảng Ngãi
17 Phan chu Trinh,
TX Quảng Ngãi

Cty du lịch Quảng Ngãi
321Quang Trung,TX
Quảng Ngãi
6959

181

23 Cty Nông lân sản xuất khẩu
Quảng Ngãi
108Quang Trung,TX
Quảng Ngãi
3421

75

24 Cty quản lý và xây dựng giao
thông Quảng Ngãi
494Quang Trung,TX
Quảng Ngãi
3789

138

25 Xí nghiệp in Quảng Ngãi
431 Quang Trung,TX
Quảng Ngãi
1596

54


76

30
Cty thương mại tổng hợp Sơn
Tịnh
Thị trấn Sơn Tinh
,Sơn Tịnh ,Quảng
Ngãi
953

9

31 Lâm trường Trà Bồng
Trà Bồng ,Quảng
Ngãi
486

15

32 Nông trường 24/3 Đức Phổ -QuảngNgãi

112

59

(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư)
Trong đó, số lượng DNNN hoạt động công ích 5 doanh nghiệp; DNNN hoạt
động kinh doanh 27 doanh nghiệp. Tổng vốn nhà nước đầu tư là 438.552 triệu đồng
(nếu trừ giá trị công trình thuỷ lợiThạch Nham là vốn DNNN thực chất chỉ là 125 tỷ
đồng) danh thu năm 2001 là 591.196 triêu đồng, đến năm 2003 tăng lên 1.329.949


2-Số DN sản xuất kinh doanh DN 27

27

27

3-Số DN có lãi DN 25

27

26

4-Số DN lổ DN 7

5

6

II.Vốn kinh doanh Triệu đồng 407.746

423.693

438.552

1- Vốn ngân sách nhà nước triệu đồng 373.476

377.929

383.166


- Doanh thu triệu đồng 591.196

659.536

1239.949

- Lãi trước thuế triệu đồng 9.975

9.189

11716

- Lỗ triệu đồng 2.925

1.185

1.555

- Lỗ cộng dồn triệu đồng 8.580

8.950

9163

V.Tổng mức nộp ngân sách Triệu đồng 44.617

49.643

53.461

Ngãi là 5 DN: Cty Thanh niên xung phong xây dựng nông thôn và miền núi tỉnh
Quảng Ngãi, Cty khai thác CTTL Quảng Ngãi, ty môi trường tỉnh Quảng Ngãi, Cty
quản lý va xây dựng giao thông Quảng Ngãi, Cty phát hành sách và VHTH Quảng
Ngãi.
Hiện nay tổng vốn nhà nước của DNNN hoạt động công ích là: 331.469 triệu
đồng ( trong đó có vốn của Công trình Thạch Nham ) .Danh thu năm 2003 đạt 49.739
triệu đồng ,chiếm 3.7% trong năm 2003 đạt 1348 triệu đồng chiếm 10,6% trong tổng
số lợi nhuận của DNNN mức nạp ngân sách năm 2003 đạt 1.027 triệu đồng. Nhìn
chung trong năm qua DNNN hoạt động công ích đã giải quyết việc làm tỉnh Quảng
Ngãi gần 100 lao động của tỉnh, góp phần làm giảm nạn thất nghiệp của tỉnh nhà.

Bảng 5 : Danh mục tổng hợp tình hình hoạt động của DNNN hoạt động công ích.
Thông số Đơn vị
tính
2002 2003
I. Tổng số doanh nghiệp
II. Tổng vốn kinh doanh
Trong đó :
+Vốn ngân sách
+Vốn tự bổ sung
+Vốn huy động từ các nguồn khác.
III. Tổng số lao động
IV. Kết quả kinh doanh
+ Doanh thu
+ lãi trước thuế
V. Tổng mức nạp ngân sách
VI. Tổng nợ phải thu
VII. Tổng nợ phải trả
DN
Triệu đồng

38.169

35.492

5

331.469320.975

957

9534

741

49.739

1.248

1.027

28698

36.959

(Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư)
+ Với DNNN hoạt động kinh doanh:
Hiện nay, số lượng DNNN hoạt động kinh doanh do tỉnh quản lý là 27DN ( 29
IV
V

VI

VII
Tổng số DN
Tổng số vốn kinh doanh
Trong đó :
+Vốn ngân sách
+Vốn tự bổ sung
+Vốn huy động các nguồn khác

Tổng số lao động
Trong đó: ao động chờ sắp xếp
việc làm

Kết quả kinh doanh
- doanh thu
- lãi trước thuế

Tổng mức nộp ngân sách

Tổng nợ phải thu

1400

86

662.557

8.42548.93054.554148.200

27

10.7083

62.191

25.669


- Số lượng : 5 DN (xí nghiệp gạch ngói Phổ Phong, xí nghiệp vôi Tịnh Khuê,
Cty 19/8, xí nghiệp phân bón hữu cơ, cổ phần một bộ phận xí nghiệp vận tải
ôtô Quảng Ngãi )
- Tổng số vốn nhà nước : 3.175 triệu đồng
- Trong đó :
+ Doanh nghiệp độc lập: 04 DN ; vốn nhà nước ; 2.175 triệu đồng (cổ
phần chi phối: 2 DN; cổ phần thương là 01 DN; không nắm giữ cổ phần; 01DN)
+ Bộ phận doanh nghiệp: 01DN; vốn nhà nước là: 1.000 triệu đồng (cổ
phần chi phối).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status