Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TR
Ƣ
ỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THANH PHÚC
¬
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY LÂM NGHIỆP PHÂN TÁN
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên, năm
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
ớng
dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đặng Kim Vui
2. TS. Trần Thị Thu Hà
Thái Nguyên, năm
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp này được hoàn thành tại Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao hoc Lâm nghiệp
hệ chính quy, khóa học 2006-2009.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được
sự quân tâm, giúp đỡ của của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy, cô
giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các sở, ban, ngành, các cơ quan
đơn vị, các bạn bè đồng nghiệp và địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
n
MỤC
LỤC
Nội dung Trang
Danh mục các chữ cái viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh
MỞ ĐẦU 1
Ch
ƣ
ơng
1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1. Tình hình nghiên cứu trến thế giới 5
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 7
1.2.1. Về nguồn gốc của trồng cây lâm nghiệp phân tán 7
1.2.2. Về hình thức tổ chức thực hiện 8
1.2.3. Về cơ chế, chính sách 8
1.2.4. Về cơ cấu cây trồng và chất lượng giống 11
1.2.5. Về các loại mô hình trồng cây phân tán 13
1.2.6. Về kết quả đạt được từ trồng cây phân tán 13
Ch
ƣ
ơng
2. MỤC TIÊU, ĐỐI
TƢỢNG,
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG 16
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu 16
2.2. Đối tượng nghiên cứu 16
2.3. Giới hạn nghiên cứu 16
3.1.5. Các nguồn tài nguyên 25
3.1.6. Thực trạng môi trường 28
3.2. Đặc điểm dân sinh, kinh tế-xã hội 29
3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động 29
3.2.2. Cơ sở hạ tầng 30
3.3. Thực trạng ngành lâm nghiệp 32
3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng 32
3.3.2. Tài nguyên rừng 34
3.3.3. Hệ động, thực vật rừng 35
3.3.4. Tái sinh phục hồi rừng 36
3.3.5. Diễn biến tài nguyên rừng giai đoanh 2002-2007 36
Ch
ƣ
ơng
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1.Đánh giá hiện trạng chương trình trồng cây lâm nghiệp phân tán tại 39
tỉnh Thái Nguyên
4.1.1. Quá trình phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán 39
4.1.2. Hiện trạng về công tác quy hoạch trồng cây phân tán 40
4.1.2.1. Chức năng và mục đích của trồng cây lâm nghiệp phân tán 40
4.1.2.2. Quy hoạch trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 43
4.1.3. Hiện trạng về công tác kỹ thuật trồng cây phân tán 46
4.1.4. Hiện trạng sinh trưởng, phát triển của các loài cây lâm nghiệp 58
được trồng phân tán trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
4.1.5. Hiện trạng quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng cây trồng phân tán 60
4.2. Sơ bộ tổng kết, đánh giá hiệu quả của các Mô hình trồng cây lâm 71
nghiệp phân tán đã có trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
4.2.1. Các mô hình trồng cây lâm nghiệp phân tán đã có ở tỉnh Thái Nguyên
71
4.2.2. Đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng 74
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
4.5.1. Quan điểm và định hướng chung 97
4.5.2. Các giải pháp cụ thể 98
Ch
ƣ
ơng
5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIÊN NGHỊ 105
5.1. Kết luận 105
5.2. Tồn tại 109
5.3. Kiến nghị 109
Tài liệu tham khảo 110
Phần phụ biểu 112
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SD ĐNN Sử dụng đất nông nghiệp
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
DANH MỤC CÁC
BẢNG
B¶ng 3.1 BiÓu tæng hîp diÖn tÝch 3 lo¹i rõng tØnh Th¸i Nguyªn
B¶ng 3.2 DiÔn biÕn rõng giai ®o¹n 2000 – 2007
Bảng 4.1 Tổng hợp khối lượng cây trồng phân tán giai đoạn 2002-2007.
Bảng 4.2 Thành phần loài cây trồng phân tán chủ yếu trên địa bàn
Bảng 4.3 Năng suất một số loài cây trồng phân tán chủ yếu
Bảng 4.5 Thống kê thu nhập và chi phí mô hình Keo lai trồng phân tán
Bảng 4.6 Thống kê thu nhập và chi phí mô hình Keo tai tượng trồng phân tán
Bảng 4.7 Thống kê thu nhập và chi phí mô hình Mỡ trồng phân tán
Bảng 4.8 Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng cây
phân tán
Bảng 4.9 Công lao động tạo ra từ các mô hình trồng cây phân tán
Biểu 4.10 Tiềm năng diện tích đất đai có khả năng trồng cây phân tán
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
tại huyện
Đồng
Hỷ
Ảnh 4.9 Mô hình trồng Keo lai phân tán tại Trường học ở Thành phố Thái
Nguyên
Ảnh 4.10 Mô hình trồng Keo tai tượng phân tán trên đất vườn hộ
tại Đại Từ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ các loài cây lâm nghiệp trồng phân tán
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
11
MỞ
ĐẦU
Việt Nam với kho¶ng 58% diện tích là vùng đồi núi, đây là nơi sinh sống
của 25 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít
người mà cuộc sống của họ luôn gắn bó mật thiết với đất rừng và các sản phẩm
từ rừng [6]. §ây cũng là nơi hoạt động chủ yếu của ngành lâm nghiệp. Vì vậy,
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
12
đã phát động phong trào trồng cây. Khi nước nhà thống nhất, Thủ tướng
Chính phủ đã ra Chỉ thị số 425/TTg ngày 19/11/1977 về việc phát triển phong
trào trồng cây nhân dân phân tán trong cả nước. Chỉ thị này đã tạo đà cho việc
phát triển trồng cây phân tán nhanh chóng, sôi nổi, rộng khắp trên phạm vi
toàn quốc.
Trồng cây lâm nghiệp phân tán có mặt ở trên khắp mọi vùng, mọi miền,
mọi khu vực của đất nước, từ vùng Đồng bằng đến vùng Trung du miền núi,
từ khu vực nông thôn đến thành thị và cây trồng mang tính đặc trưng cho
những khu vực đó. Ví dụ như ở vùng đồng bằng và trung du, nhân dân trồng
các cây gỗ phổ biến là Xoan ta, Tre gai, Bạch đàn, Sấu, Trám, Lát hoa, Me
nhằm mục đích tạo cảnh quan bóng mát làm hàng rào cho các vườn cây ăn
quả, bảo vệ đồng ruộng và hoa màu đồng thời cung cấp gỗ củi, chất đốt cho
nhân dân; còn ở vùng ven biển trồng các loại cây Phi lao để phòng hộ chắn
sóng và cát bay; hoặc ở khu vực nông thôn, người dân trồng một số các cây
gỗ để bảo vệ bờ ao, bảo vệ đồng ruộng chống xói lở trong mùa mưa như
Xoan, Bạch đàn, Keo; hay khu vực chùa, đình, miếu, cổng làng nhân dân
trồng các loại như Đa, Si, Đề, Chò, Thông đỏ vừa biểu hiện cho sự uy
nghiêm, linh thiêng vừa tạo kiến trúc, cảnh quan và bóng mát; khu vực các
công sở, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp trồng các loại cây như
nghiệp phân tán giai đoạn
2006
-2020 trên phạm vi toàn quốc tại Quyết
định số 2241/QĐ-BNN-LN, ngày 03/02/2006 với mục tiêu:
- Duy trì và phát triển được phong trào trồng cây nhân dân mà Bác
Hồ đã khởi xướng, tạo thành một nét đẹp truyền thống của dân tộc.
- Tạo ra sản phẩm hàng hoá góp phần đảm bảo nguyên liệu gỗ cho công
nghiệp chế biến đồ gỗ, giảm nhập khẩu gỗ lớn.
- Tận dụng triệt để qũy đất và lao động góp phần tạo công ăn việc làm,
tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho
người dân và giảm sức ép vào rừng tự nhiên.
- Góp phần bảo vệ các công trình hạ tầng cơ sở, bảo vệ đất đai, phòng
hộ sản xuất nông nghiệp và bảo về môi trường sinh thái.
Với nhiệm vụ của Đề án trồng mới 2 tỷ cây phân tán trong đó trồng 1,2
tỷ cây cung cấp gỗ lớn và 0,8 tỷ cây gỗ nhỏ. Giai đoạn I (2006-2010); trồng
mới 1 tỷ cây trong đó 400 triệu cây cung cấp gỗ nhỏ và 600 triệu cây cung
cấp gỗ lớn. Giai đoạn II (2010 - 2020); khai thác và chế biến sản phẩm 400
triệu cây gỗ nhỏ đã trồng trong giai đoạn I và trồng mới 1 tỷ cây trong đó 400
triệu cây cung cấp gỗ nhỏ và 600 triệu cây cung cấp gỗ lớn. Việc làm này
không chỉ thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia mà còn huy động được
nhiều nguồn vốn từ các tổ chức cá nhân và các thành phần kinh tế khác trong
và ngoài nước cho phát triển trồng cây, trồng rừng.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc với tổng diện tích
tự nhiên 354.150 ha, dân số 1.137.671 người cư trú trên địa bàn 7 huyện, 1 thị
xã và 1 thành phố. Bên cạnh việc phát triển trồng rừng theo các chương trình
dự án của trung ương và của tỉnh thì trồng cây lâm nghiệp phân tán cũng là
một trong những hình thức được nhân dân hết sức quan tâm hưởng ứng tham
gia [10].
Tuy nhiên, trong năm qua, trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn
tỉnh mặc dù đã được phát động và tổ chức thực hiện, nhưng vẫn còn nổi lên
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
15
Chƣơng
1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thật khó xác định phong trào trồng cây phân tán trên thế giới có từ bao
giờ. Nhưng chắc chắn khi con người có nhu cầu về củi đun và cần gỗ gia dụng,
gỗ làm nhà cửa và cần phải trồng cây để giảm bớt các tác hại của thiên tai như
gió, bão, hạn hán, cát bay, cát bị nhiễm mặn nhằm đảm bảo sản xuất nông
nghiệp có năng suất cao và ổn định thì con người đã biết trồng cây phân tán. Lúc
đầu từ 1 vài hộ dân lẻ tẻ, sau do hiệu quả kinh tế đạt được khá cao và thỏa mãn
được các yêu cầu của cuộc sống nên trồng cây phân tán trong dân đã trở thành
phong trào rộng rãi hơn. Nhiều vùng đất sa mạc khô cằn ở Châu Phi, chỉ có cỏ
mọc như ở Kênya, Negira, Ma-Rốc người ta đã biết trồng cây lấy gỗ chủ yếu
là trồng cây gỗ họ Đậu có khả năng cố định đạm. Họ đã trồng thành các hàng
cây, hay băng cây, chia đồng cỏ chăn nuôi thành nhiều ô để thực hiện chăn thả
gia súc luân phiên, hoặc trồng cây gỗ rải rác trên đồng cỏ để giữ độ ẩm cho đất,
và tạo bóng mát cho gia súc[15].
Ở Trung Quốc, Srilanca và Ấn Độ, các cây gỗ được trồng rải rác để tạo
với chính quyền các bang và công nghiệp địa phương là phổ biến để thực hiện
chương trình này. Ngoài ra, hầu hết chính quyền các bang đều cung cấp dịch vụ
tư vấn, trồng cây và giảm thuế. Các nhóm bảo vệ đất địa phương được thành lập
nhằm khuyến khích nông nghiệp bền vững, cũng đẩy mạnh trồng cây, nhất là
những vùng đất thoái hóa [16]
Theo kết quả điều tra cây trồng phân tán ở Ấn Độ (1991-1995) cho thấy:
Theo tập quán lâu đời, với đặc tính văn hóa của người Ấn Độ, thì trồng cây là
một phần trong toàn bộ hệ thống canh tác nông nghiệp ở Ấn Độ, để cung cấp
nguồn gỗ, củi, thức ăn gia súc và phân xanh cho nhu cầu của người dân địa
phương. Ngoài các tác dụng về môi trường như bảo về đất và nguồn nước, bảo
tồn đa dạng sinh học, còn tăng mức độ hấp phụ cacbon và nâng cao hàm lượng
oxy trong không khí. Cho nên ngay từ năm 1970, một chương trình Lâm nghiệp
xã hội đã được thực hiện ở Ấn Độ, nhằm thúc đẩy mọi người dân tham gia rộng
rãi vào phong trào trồng cây phân tán, có sự trợ giúp và hướng dẫn của Nhà
nước nhằm giảm bớt sức ép lên rừng tự nhiên. Cung cấp nguồn gỗ, củi và thức
ăn gia súc cho người dân địa phương và chắn gió hại cho các cây nông nghiệp.
Và đến năm 1980 hầu hết các vùng đất rộng lớn ở ấn Độ đã trồng theo chương
trình này.
Kết quả điều tra ở Bang Haryana nằm ở phía Tây Bắc Ấn Độ cho thấy:
Diện tích tự nhiên của Bang Haryana 4,42 triệu ha
Diện tích đất không có rừng là: 4,36 triệu ha
Diện tích đất có rừng là: 60.000 ha (độ che phủ của rừng 1,36% diện tích
tự nhiên của Bang)
Tổng số làng đã điều tra là 219 làng, thuộc 12 huyện của Bang
Tổng số cây trồng phân tán ở Haryana là 54.984.000 cây, trải rộng trên
4,36 triệu ha, bình quân 12,6 cây/ha.
Tổng trữ lượng cây phân tán là 10,3 triệu m
3
hay 2,36 m
3
thân gỗ trong các vườn hộ gia đình như Nhãn, Vải, Cam, Quýt, Mít, Hồng xiêm,
Sầu riêng, Măng cụt.v.v chủ yếu phục vụ cho gia đình và cung cấp nhỏ lẻ cho
thị trường. Từ năm 1959, nhân ngày Tết âm lịch, Hồ Chủ tịch đã phát động
phong trào trồng cây và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở động viên
phong trào. Tết trồng cây dần trở thành một phong tục tốt đẹp của nhân dân ta.
Nhìn lại kết quả trồng cây các năm ta thấy năm 1955 - 1956 chỉ có 3 tỉnh tham
gia phong trào trồng cây là Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Thọ đã trồng được
445.000 cây phân tán chủ yếu là trồng Phi Lao trên đất cát vùng ven biển, trồng
Xoan, Tre ở các vùng đồng bằng và một số cây ăn quả ở Trung du. Đến năm
1959, có tới 26 tỉnh trên tổng số 31 tỉnh ở miền Bắc tham gia phong trào trồng
cây và kết quả là đã trồng được 14 triệu cây [2].
Trồng cây phân tán được coi là một hoạt động lâm nghiệp phong trào hay
lâm nghiệp quần chúng, được phát triển mạnh theo lời kêu gọi thực hiện Tết
trồng cây được Bác Hồ phát động từ năm 1959. Từ đó đến nay hàng năm kể cả
những năm chiến tranh ác liệt, năm nào ở khắp mọi nơi nhất là ở các thành phố
lớn cứ đến độ xuân về cũng tổ chức lễ phát động tết trồng cây, huy động hàng
chục vạn người trồng được hàng triệu cây xanh cùng với sự tham gia của các vị
lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể ở địa phương. Hoạt động
đó đã trở thành phong trào, tạo thành một lễ hội truyền thống tốt đẹp không chỉ
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
Cơ chế chính sách cho trồng cây phân tán trong thời gian qua chưa được
rõ ràng và còn nổi lên nhiều bật cập.
Sau năm 1990 do nhiều nguyên nhân khác nhau, phong trào trồng cây
phân tán có phần lắng xuống, các cấp các ngành ít quan tâm, một số cơ sở, tập
thể và cá nhân trồng cây tốt chỉ là do tự phát, việc tổ chức chỉ đạo không chặt
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
chẽ. Ngay cả trong chương trình 327 và sau này là dự án 661 đều không có nội
dung đầu tư cho mảng trồng cây phân tán. Do vậy thiếu cơ chế chính sách để
khuyến khích và tạo động lực cho phong trào trồng cây phân tán phát triển [4].
Đầu tư cho trồng cây phân tán từ lâu nay không thành một chủ trương
thống nhất, mà do từng địa phương, từng tổ chức và cá nhân, tập thể tự quyết
định. Vì vậy hiệu quả thu đươc không cao, vẫn là hình
thứ
c mang tính
phong trào.
- t
nu . e
du . v
n
- Về chính sách đầu tư: Từ lâu nay việc đầu tư cho trồng cây phân tán
không thành một chủ trương thống nhất, mà do từng địa phương, từng tổ chức
và các cá nhân tập thể tự quyết định.
+ Đầu tư từ nguồn ngân sách: Tuy không thành chủ trương nhưng một
số tỉnh hàng năm vẫn trích một khoản ngân sách địa phương để dành cho trồng
cây phân tán. Ví dụ Nghệ An dành mỗi năm 120 triệu đồng, Đồng Nai dành
mỗi năm 450 triệu, Hải Dương dành mỗi năm 400 triệu và An Giang mỗi năm
dành gần 1 tỷ đồng cho trồng cây phân tán.
+ Đầu tư từ nguồn vốn tự có: Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã bỏ vốn
tự có hàng tỷ đồng để trồng cây phân tán như Nông trường Sông Hậu, Nông
truờng Cần Thơ; Nông trường Cờ đỏ và Nông trường Hậu Giang. Qua điều tra
cho thấy các đơn vị tự bỏ vốn để trồng đều đem lại hiệu quả cao.
+ Cá nhân bỏ vốn: các đối tượng này chủ yếu là trồng trong vườn
hộ, trên đất được giao. Mô hình này hầu hết các tỉnh đều có và cũng
t
hu được
hiệu quả kinh tế rõ rệt. Như mô hình trồng Quế ở Yên Bái và Quảng Nam;
trồng Bời lời ở Gia Lai và Kon Tum; mô hình trồng Dó trầm ở Tiên Phước
tỉnh Quảng Nam và ở Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh; mô hình trồng Hòe ở Nam
Định và Thái Bình.
+ Nguồn tài trợ của các dự án trong và ngoài nước
- Về chính sách hưởng lợi: hiện nay nhà nước cũng chưa có những chính
sách nhất quán cho người trồng cây phân tán, do vậy chưa khuyến khích được
sản phẩm thu hoạch được chỉ nộp lại 30%, nếu địa phương bỏ vốn thì người
trồng rừng chỉ được hưởng 30% [4]
Từ thực tế trên cho thấy, trồng cây phân tán mặc dù đã được hình thành
và phát triển từ lâu, song cơ chế chính sách còn mang tính tự phát, thiếu sự
thống nhất trong cả nước, kể cả từ chính sách đầu tư hỗ trợ cho đến chính sách
hưởng lợi. Những chính sách nêu trên đều xuất phát từ điều kiện thực tế của
mỗi địa phương, do các địa phương tự đặt ra và quyết định, chính vì vậy thiếu
đồng bộ, thiếu nhất quán, từ đó làm hạn chế đến hiệu quả của phong trào trồng
cây phân tán.
Để có định hướng phát triển lâm nghiệp trên phạm vi toàn quốc trong
những giai đoạn tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phê duyệt Chiến
lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, trong đó mục tiêu,
nhiệm vụ cụ thể đến năm 2020 đặt ra là trồng 200 triệu cây phân tán/năm. Cũng
trong Chiến lược của Chính phủ, định hướng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử
dụng rừng được xác định là phát triển mạnh trồng cây phân tán để đáp ứng kịp
thời, có hiệu quả các nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho địa phương, đặc biệt ở
vùng đồng bằng và ven biển [10]. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để
phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán trong thời gian tiếp theo.
Do vậy việc nhìn nhận và đánh giá thực trạng của trồng cây lâm nghiệp
phân tán, đặc biệt là về cơ chế chính sách là việc làm hết sức cần thiết để đề xuất
giải pháp phát triển có hiệu quả chương trình trong thời gian tới.
2.2.4. Về cơ cấu cây trồng và chất lượng giống:
Trồng cây lâm nghiệp phân tán là hình thức phát triển lâm nghiệp đa
dạng hoá về chủng loại cây trồng, với nhiều loại cây trồng phong phú khác nhau.
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
phân tán chỉ có nhóm loài cây mọc nhanh như Bạch đàn, Keo là đã được chọn
lọc từ các dòng có năng suất cao còn lại các loài cây khác đều cung ứng không
qua chọn lọc, chất lượng kém. Đối với các cây trồng lâm nghiệp, trong thời gian
qua các loài cây phục vụ trồng cây phân tán hầu hết là các cây được ươm từ hạt,
chỉ có khoảng 10-15% số cây được sử dụng từ nuôi cấy mô. Duy nhất chỉ có
Nông trường Sông Hậu trong mấy năm gần đây đã sử dụng các giống mới với
kỹ thuật sản xuất theo hướng công nghệ cao, đưa tỷ lệ sử dụng cây nuôi cấy mô
với loài Bạch đàn lên tới 80%. Vì vậy, ngoài Nông trường Sông Hậu ra, sinh
trưởng và năng suất của các loài cây trồng phân tán dưới mức bình thường,
thậm chí có nhiều nơi được gọi là nôi của trồng cây nhân dân trước đây như Hà
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
Nam,
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
xã Bồ Đề, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Nam, Đặng Quang Hưng (2006) [6] đã
thống kê được 04 loại mô hình chính:
+ Mô hình trồng keo tai tượng (do tổ chức SIDA tài trợ)
+ Mô hình trồng bạch đàn Camal dọc đường liên thôn của xã
+ Mô hình trồng Xoan ta dọc bờ kênh của xã
+ Mô hình trồng cây phân tán trong các vườn hộ ( do các hộ tự trồng)
Trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành xây dựng 04 mô hình trồng cây phân
tán cung cấp gỗ củi có năng suất cao:
Mô hình 01: Trồng cây phân tán dọc đường liên thôn, liên xã
Mô hình 02: Trồng cây phân tán trên bờ vùng, bờ kênh, bờ thửa
Mô hình 03: Trồng cây phân tán trong trường học
Mô hình 04: Trồng cây phân tán trong trang trại nông nghiệp.
2.2.6. Về kết quả đạt được từ trồng cây phân tán:
Trồng cây phân tán từ khi được hình thành, trải qua quá trình phát triển
đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Kết quả phong trào trồng cây
phân tán ở nước ta đã đem lại nhiều lợi ích to lớn cho người dân và các địa
phương, vừa đáp ứng được nhu cầu gỗ củi cho người dân nông thôn, vừa
24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
cải thiện đời sống cho người dân và cộng đồng [8].
* Đánh giá nhận xét chung:
Như vậy từ những nhận định và đánh giá nghiên cứu của các tác giả trên ở
trên cho thấy trồng cây lâm nghiệp phân tán có nguồn gốc xuất phát từ rất lâu
đời, ở Việt Nam được hình thành từ lễ phát động Tết trồng cây của Bác Hồ (năm
1959) và đã trở thành một phong trào, một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
Trồng cây phân tán trong những năm qua không chỉ mang lại lợi ích về mặt kinh
tế mà còn mang lại lợi ích vô cùng to lớn về mặt môi trường, sinh thái, tạo việc
làm và cải thiện đời sống cho người dân nông thôn.