SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ SỞ THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN THỂ THAO THÀNH TÍCH CAO Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010
Chủ nhiệm đề tài: Th.s NGUYỄN HOÀNG NĂNG
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Những đặc trưng của TTTTC
1.1.3. Xu thế phát triển của TTTTC trên thế giới và ảnh hưởng 2
của nó đến công tác đào tạo HLV
1.1.4. Các tiêu chuẩn đánh giá một hệ thống thành tích cao 4
1.1.5. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến TTTTC 5
ở nước ta
1.2: Tình hình nghiên cứu trong/ngoài nước 8
1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước 8
1.2.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước 11
Chương 2 : Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 16
2.1: Mục đích nghiên cứu 16
2.2: Nhiệm vụ nghiên cứu 16
2.3: Phương pháp nghiên cứu 16
2.4: Đối tượng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu 18
Chương 3 : Thực trạng và giải pháp phát triển TTTTC ở TP.HCM 21
trong 5 năm qua (2002 – 2006)
3.1: Thực trạng phát triển từng môn th
ể thao ở thành phố 21
3.1.1. Thực trạng phát triển từng môn 21
3.1.2. Đề xuất hướng phân nhóm môn trọng điểm 33
3.1.2.1. Khái niệm 33
3.1.2.2. Phân nhóm môn trọng điểm ở các nước và tại các 34
địa phương khác ở nước ta
3.1.2.3.
Phân loại nhóm môn trọng điểm ở TP.HCM và một số 36
định hướng đầu tư trọng điểm
+ Phiếu phỏng vấn về các giải pháp phát triển TTTTC ở TP.HCM trong
5 năm qua (2002 – 2006)
+ Phiếu phỏng vấn về định hướng và các giải pháp phát triển TTTTC ở
TP.HCM trong 5 – 6 năm tới (2007 – 2012) PHẦN MỞ ĐẦU
Thể thao thành tích cao (TTTTC) luôn được xác định là một nhiệm vụ
quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao của
mỗi địa phương.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, TTTTC được xác định "là vị thế, là chỉ tiêu
của một nền thể thao phát triển". Vì vậy trong nhiều năm qua, kết hợp với việc
phát triển TDTT quần chúng, công tác xây dựng lực lượng HLV, VĐV
đỉnh cao
tại thành phố luôn được xem trọng. Trong chương trình phát triển nguồn nhân
lực của thành phố giai đoạn 2001 - 2005, ngành TDTT đã thực hiện đề tài "Hoàn
thiện hệ thống, quy trình đào tạo và quản lý đào tạo VĐV tài năng ở thành phố
Hồ Chí Minh" nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể thao đỉnh cao của
thành phố. Trong quá trình thực hiện đề tài, Ban chủ nhiệm đề tài đã tổ chức m
ột
cuộc Hội thảo về "Hiện trạng và giải pháp phát triển TTTTC ở TP.HCM" trong
hai ngày 14 - 15/12/2001, đồng thời đã tổ chức tổng điều tra về nguồn nhân lực
TTTTC của thành phố trong năm 2001. Từ kết quả thực hiện đề tài, 10 chương
trình phát triển nguồn nhân lực của ngành đã được UBND thành phố chấp thuận
cho triển khai và bước đầu đã tạo nên những chuyển biến tích c
ực cho sự phát
triển TTTTC của thành phố trong 5 năm qua.
Bước vào kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT 5 năm (2006 - 2010), Thể
thao Việt Nam đã có những định hướng phát triển mới sau khi Thể thao Việt
Nam đạt ngôi vị hạng nhất toàn đoàn tại SEA Games 22 - năm 2003 nhưng lại
thách thức và cơ hội mới trong lĩnh vực thể dục thể thao thành phố? Báo cáo
cũng nhận định những mặt còn tồn tại trong lĩnh vực TDTT như sau: "Thể dục
thể thao của Thành phố dù có phong trào mạnh như
ng thể thao thành tích cao
chưa tương xứng với tiềm năng. Mặc dù đã có chiến lược, có quy hoạch, có kế
hoạch, có tổ chức hội thảo về giải pháp phát triển TTTTC nhưng thiếu giải pháp
triển khai, thiếu người tổ chức thực hiện, thiếu người kiểm tra, đôn đốc và thiếu
cả quyết tâm thực hiện". Vì vậy, sau 5 năm thực hiện giai đoạn 1 của b
ản "Chiến
lược phát triển TDTT TP.HCM năm 2001 - 2010" và "Chương trình phát triển
nguồn nhân lực", công tác tổng kết, đánh giá những việc làm được, những việc
chưa làm được là điều cần thiết nhằm có những điều chỉnh, bổ sung, thay đổi
phù hợp.
Về mục tiêu, phương hướng phát triển 2006 - 2010, Báo cáo Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM 2006 - 2010 của UBND thành phố chỉ rõ:
"Tập trung đầu tư và nâng cao trình độ tổ chức, quản lý để phát triển TDTT
đúng tầm của thành phố"; về giải pháp: "Tiến hành quy hoạch mạng lưới cơ sở
vật chất kỹ thuật TDTT phục vụ tốt công tác luyện tập TTTTC, chú trọng đầu tư
để nâng cao thành tích các môn thể thao đỉnh cao, …". Để đáp ứng những yêu
cầu đó, việc chỉ rõ những nguyên nhân đích thực tác động đến hiệu quả của cách
làm TTTTC của thành phố trong thời gian qua là điều cấp thiết, đặc biệt khi
TP.HCM phải chuẩn bị tốt lực lượng VĐV cho Hội khỏ
e Phù Đổng toàn quốc
lần 6 - năm 2008 tại Phú Thọ, Olympic lần thứ 29 - năm 2008 tại Bắc Kinh,
SEA Games lần thứ 25 - năm 2009 tại Lào, Indoor Games lần thứ 3 - năm 2009
tại Việt Nam, Asian Games lần thứ 16 - năm 2010 tại Quảng Châu (Trung
Quốc) và Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ 6 - năm 2010.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu hiện
trạng và giải pháp phát triển Thể thao thành tích cao thành phố Hồ Chí
chính cho TTTTC của một quốc gia, thường bao gồm Bộ Thể thao và Giải trí,
Học viện Thể thao quốc gia, các tổ chức thể thao quốc gia và Ủy ban Olympic
quốc gia (theo Học viện thể thao New Zealand).
1.1.2. Những đặc trưng của TTTTC
- Là lĩnh vực ngày càng hoàn thiện, phức tạp và khó điều khiển [7, 41].
2
- Là lĩnh vực hoạt động của những người có năng khiếu và tài năng đặc
biệt, đòi hỏi những điều kiện đặc biệt.
1.1.3. Xu thế phát triển của TTTTC trên thế giới và ảnh hưởng của nó đến công
tác đào tạo HLV
John Bales – Chủ tịch ICCE (International Council for Coach Education - Hội
đồng quốc tế về giáo dục HLV) - trình bày trong khóa đào tạo HLV tổ chức từ
ngày 25 – 27/2/2005 tại Hong Kong – Trung Quốc về các xu thế phát triển của
TTTTC trên thế giới như sau:
1. Mở rộng các nội dung thi đấu
: biểu hiện ở các vấn đề sau:
- Có nhiều nội dung thi đấu mới của Olympic: 3 môn phối hợp (triathlon),
nhào lộn trên ván nhún (trampoline), nhảy cầu đôi (synchronized diving), lướt
ván trên tuyết (snowboarding), BMX, …
- Có nhiều giải vô địch theo nhóm tuổi: giải vô địch thiếu niên thế giới,
giải vô địch trẻ thế giới, …
- Có nhiều nội dung thi đấu dành cho nữ: bóng đá nữ, hốc cây trên băng
nữ, bóng nước nữ, vật nữ, cử
tạ nữ, 5 môn phối hợp nữ, nhảy sào nữ, . . .
- Có các giải thể thao dành riêng cho người khuyết tật: Paralympics,
Special Olympics (là Đại hội thể thao dành cho người thiểu năng trí tuệ), giải
thể thao dành cho người điếc, …
Mặt tác động, ảnh hưởng Những việc cần làm
huấn luyện và những yêu cầu của
VĐV: mô hình phát triển VĐV dài
hạn là cơ sở, nền tảng của một
chương trình huấn luyện hiện đại
2. Phát triển theo phương hướng chuyên nghiệp hóa, thương mại hóa
:
Ngày nay, các hãng truyền hình cần trên 1 tỷ đô la Mỹ để được quyền truyền
hình tại Olympic. Từ đó, điều lệ thi đấu các môn phải thay đổi để thu hút đài
truyền hình. Gilad Weingarten có nói “Để thu hút sự hâm mộ của công chúng
trên các phương tiện truyền thông, khía cạnh kịch tính và xúc cảm trong một bộ
môn thể thao được xem trọng hơn nhiều so với thành tích thật sự của bộ môn đó.
Các HLV phải nhớ
rằng bất cứ điều gì mà VĐV thể hiện đều được phản ánh tức
thì trên tivi”
3. Đối mặt với vấn nạn doping và các vấn đề thuộc phạm trù đạo đức
: biểu
hiện ở các vấn đề sau:
- Tăng cường kiểm tra doping, chia xẻ trách nhiệm
- Trông mong các HLV, các tổ chức thể thao và các chương trình huấn
luyện đối phó với sự gian lận, sự lạm dụng và sự bạo lực trong thể thao trên
quan điểm: “thể thao phải an toàn đối với VĐV trẻ”
4. Công nghệ trong thể thao ngày càng được chú trọng
: biểu hiện ở các vấn
đề sau:
- Ứng dụng máy tính ở nhiều lĩnh vực: huấn luyện trên mạng (sử dụng
email và tin nhắn văn bản), lập kế hoạch và lưu trữ dữ liệu, phân tích kỹ thuật
(video kỹ thuật số), phân tích trận đấu, quảng cáo và giao tiếp (các website của
đội và của cá nhân), học tập và cố vấn trên mạng, …
hoạch thành tích cấp cao thế giới
5
- Có các dịch vụ (được cung cấp bởi các tổ chức trong khu vực) tác động
tốt đến thành tích thể thao.
1.1.5. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến TTTTC ở nước ta
1.1.5.1. Ở cấp độ quốc gia: khi thành lập lại Tổng cục TDTT vào tháng
11/1992, ngành TDTT đã thống nhất xác định 3 nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt
quá trình củng cố và phát triển hoạt động TDTT trong cả nước, đó là: Phát triển
phong trào TDTT quần chúng; phát triển thể thao thành tích cao; mở rộng quan
hệ quốc tế về TDTT.
- Ngày 24/3/1994: Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ban hành Chỉ
thị 36-CT/TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới, theo đó xác định mục
tiêu cơ bả
n, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền thể dục thể thao phát
triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá,
tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt
động thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á.
- Ngày 7/3/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 133/TTg về việc
xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT, theo
đó Thủ tướng Chính phủ yêu
cầu Tổng cục TDTT, UBND các tỉnh, thành phố và các ngành liên quan khẩn
trương xây dựng quy hoạch phát triển TDTT dài hạn trong cả nước, ở từng địa
phương và trong từng ngành theo những nội dung và yêu cầu cụ thể. Ở lĩnh vực
TTTTC, nhiệm vụ cấp bách mà Chính phủ yêu cầu là đầu tư ngay cho việc đào
tạo các tài năng thể thao ở những môn trọng điểm
.
- Ngày 2/4/1998: Thường vụ Bộ Chính trị ban hành Thông tri 03 về tăng
cường lãnh đạo công tác TDTT, theo đó ở lĩnh vực TTTTC cần đa dạng hóa các
ải thể thao
thế giới.
7
Ngoài ra, trong Quy hoạch cũng nêu rõ: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là
trung tâm vùng, đồng thời làm nhiệm vụ trung tâm TDTT quốc gia
- Ngày 23/10/2002: Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành
Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT đến năm 2010. Theo Chỉ thị 17, công
tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, …, giữ vị trí là một
trong ba nước đứng
đầu về thể thao ở khu vực Đông Nam Á, một số môn có thứ
hạng cao tại các giải thể thao châu Á và thế giới.
- Tháng 11/2006: Quốc hội chính thức thông qua Luật thể dục, thể thao.
Luật TD,TT bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7/2007. Thể thao thành tích cao được
Luật quy định thành 2 mục trong chương III: mục Thể thao thành tích cao (từ
điều 31 đến điều 43) và mục Thể thao chuyên nghiệp (từ đi
ều 44 đến điều 53).
Theo điều 31 của Luật TD,TT, Nhà nước có chính sách phát triển TTTTC, đầu
tư tập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo, bồi dưỡng
VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu thể thao thành tích
cao, tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia
phát triển thể thao thành tích cao.
1.1.5.2. Ở cấp
độ thành phố
- Nghị quyết 20-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy ngày 26/3/1999 đã
đề ra 5 nhiệm vụ của TDTT thành phố đến năm 2010, trong đó có 2 nhiệm vụ
liên quan đến TTTTC: 1) Không ngừng nâng cao chất lượng công tác xây dựng
lực lượng, đa dạng hóa hình thức đào tạo VĐV; chủ động trong việc phát hiện
tài năng trẻ, kiên quyết chấn chỉnh lại khâu tuyển chọn, bảo đảm đúng đối
u thực trạng và các giải pháp phát triển thể thao tại một địa phương
hay tại một nước là một công việc được thực hiện mang tính định kỳ theo những
chu kỳ nhất định nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định kế hoạch mới
trong tương lai. Thực trạng và các giải pháp phát triển thể thao thường được
trình bày trong “Chiến lược phát triển thể thao”, “Đề
cương phát triển TDTT”,
“Quy hoạch phát triển TDTT” của một quốc gia hay một địa phương.
9
1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở cấp độ quốc gia, trong những năm gần đây (2004 - 2005), Ủy ban TDTT Việt
Nam liên tục tổ chức các Hội nghị chuyên đề TTTTC nhằm tổng kết, đánh giá
tình hình phát triển của TTTTC trong 10 năm qua (1994 - 2004) và đề ra các
giải pháp phát triển mới cho Thể thao Việt Nam. Trong kế hoạch công tác
TDTT năm 2007, ngành đã triển khai xây dựng dự thảo “Chiến lược phát triển
TTTTC đến 2015 và định hướng đến 2020” trình Chính phủ phê duyệt. Phục v
ụ
cho kế hoạch dài hạn đến 2015, Ủy Ban TDTT Việt Nam tập trung tổ chức thực
hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo VĐV” và “Xây dựng trung
tâm thể thao trọng điểm”, xem đó là giải pháp chiến lược chính của ngành nhằm
thúc đẩy TTTTC Việt Nam phát triển, đồng thời là biện pháp tích cực tạo nên
sức nhảy vọt về thành tích thể thao vượt lên ngang tầm với các nước mạnh
ở
Châu Á, một số môn, nội dung có trình độ Châu Á và thế giới.
Ở cấp độ tỉnh thành, theo thống kê năm 2006 của Ủy ban TDTT, trên toàn quốc
đã có 38/64 tỉnh thành phố xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT đến năm
2020. Khuôn mẫu chung trong các bản quy hoạch này là 4 nội dung lớn: đánh
giá thực trạng, dự báo tình hình phát triển, quy hoạch phát triển ở các lĩnh vực
khác nhau và các giải pháp để thực hiện quy hoạch.
Hà Nội đã đi
Tại Lào Cai, đề án phát triển sự nghiệp TDTT đến năm 2020 đã được Hội đồng
Nhân dân tỉnh thông qua, trong đó cụ thể hóa thành 3 tiểu đề án về xây dựng cơ
sở vật chất, thành tích cao, thể thao cơ sở với tổng kinh phí được duyệt lên đến
970 tỷ đồng. Tại Khánh Hòa, HĐND tỉnh cũng đã thông qua Nghị quyết phát
triển ngành TDTT tỉnh đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2015, trong đó
tỉnh quyết định đầu tư 130,6 tỷ đồng để xây dựng 3 khu liên hợp TDTT và vui
chơi giải trí.
Tại TP.HCM, khi triển khai thực hiện đề tài "Hoàn thiện hệ thống, quy trình đào
tạo và quản lý đào tạo VĐV tài năng ở thành phố Hồ Chí Minh" nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực thể thao đỉnh cao của thành phố, Ban chủ nhiệm đề
11
tài đã tổ chức một cuộc Hội thảo về "Hiện trạng và giải pháp phát triển TTTTC
ở TP.HCM" trong hai ngày 14 - 15/12/2001. Hội thảo đã tập hợp được 28 bản
báo cáo, ý kiến tham luận và đóng góp từ nhiều góc độ khác nhau (nhà quản lý,
nhà khoa học, nhà báo, HLV, VĐV từ cấp trung ương, thành phố đến quận
huyện), tạo cơ sở cho ngành TDTT đề xuất và thực hiện nhiều giải pháp khả thi
sau khi đề tài được nghi
ệm thu.
Ngoài ra, mặc dù chỉ trong khuôn khổ một bài giảng cho lớp bồi dưỡng, nâng
cao trình độ HLV thành phố vào giữa năm 2006, nhưng chuyên đề "TTTTC
TP.HCM" của TS Lâm Quang Thành cũng được xem là một công trình nghiên
cứu khoa học về thực trạng từ quan sát khách quan, chắt lọc số liệu và tổng hợp
kinh nghiệm thực tế. Theo tác giả, TTTTC TP.HCM cần đổi mới từ 3 nhóm giải
pháp chính, đó là thể chế, thiết chế và con người.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu ngoài n
ước
Năm 1985, Ban nghiên cứu chiến lược TDTT của Trung Quốc đã công bố báo
cáo chiến lược TTTTC đầu tiên để thực hiện đến năm 2000. Mục tiêu cơ bản
ọc kỹ thuật, chú trọng bồi dưỡng nhân tài; 4) Tăng
cường hợp tác và mở rộng giao lưu TDTT; 5) Cải cách thể chế TDTT về chiều
sâu, đẩy mạnh chuyển đổi cơ chế TDTT; 6) Tăng cường công tác lãnh đạo, hoàn
thiện các biện pháp đảm bảo phát triển sự nghiệp TDTT [17, 63].
Tại Đức, GS-TS Helmut Digen - Viện trưởng Viện khoa học TDTT Trường Đại
học tổng hợp Đức - đã thực hiệ
n đề án "Tổ chức của TTTTC - so sánh giữa các
quốc gia có thể thao thành công nhất tại thế vận hội Olympic mùa hè Atlanta
1996". Mục đích của đề án nhằm phân tích sự vận hành và cơ chế của TTTTC ở
8 cường quốc về thể thao (Úc, Trung Quốc, Đức, Pháp, Anh, Ý, Nga và Mỹ),
qua đó phát hiện ra những tiềm năng khác nhau, phù hợp với cơ cấu của thể thao
đỉnh cao và cố gắng hiểu cách thức nguồn năng l
ực đó tác động tới sự biểu hiện
tốt nhất của TTTTC của mỗi quốc gia. Tiêu chí quan trọng của cuộc điều tra này
được giới hạn ở những đặc trưng cấu trúc chung và riêng của những thành tố
ảnh hưởng tới thể thao như một tổng thể và không giải quyết những vấn đề liên
quan tới các môn thể thao đặc biệt. Theo tác giả, đặc điể
m đáng chú ý nhất của
13
TTTTC là bản thân nó luôn ngày càng hoàn thiện và khi TTTTC ngày càng trở
nên phức tạp thì nó cũng ngày càng khó điều khiển. Vì vậy, giải pháp tốt nhất
cho tương lai là khẩn trương thực hiện những công trình nghiên cứu cần thiết
trên phạm vi toàn thế giới [7, 41].
Tại Úc, chính phủ bang Tây Úc đã hình thành "Nhóm làm việc thành tích cao"
và yêu cầu nhóm đánh giá hệ thống TTTTC hiện tại, điều tra các phương án
khác, và đưa ra giải pháp để tiếp tục cải thiện hệ th
ống đã được coi là nền móng
thành công này. Để làm được điều này, nhóm làm việc đã thực hiện 4 buổi
chuyên đề tại Perth và 9 buổi chuyên đề tại các địa phương Tây Úc dành cho đối
- Thanh niên ngày nay phải đương đầu với nhiều sức ép và những điều
chi phối, chúng ta phải “trao” thể thao cho thanh niên, chúng ta phải tranh đấu
để giành lấy sự quan tâm của thanh niên đối với thể thao.
- Phải tạo ra một “cơ quan công luận tích cực” về thể thao. Các phương
tiện thông tin đại chúng có một vai trò cực kỳ quan trọng.
- Phải nhân đạo hóa hệ thống thể thao v
ới việc tập trung chú ý vào cá
nhân VĐV. Vai trò của chính quyền và HLV là phải ủng hộ VĐV, đáp ứng các
nhu cầu về tập luyện, về đời tư, về việc làm và cả khi về hưu.
- Phải tăng cường số lượng các nhà khoa học và HLV thể thao trong khu
vực.
- Để có các VĐV thành tích cao, các nước trong khu vực phải có một
phương thức hệ thống hóa việc tuyển chọn những nhân tài trẻ tuổ
i. Điều này cần
có một quá trình phát triển một cách khoa học các cuộc thi tài hợp lệ và chuẩn bị
các tài năng trẻ để tiến tới trở thành những VĐV thành tích cao.
Tóm lại
:
Qua nghiên cứu một số các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan,
chúng tôi nhận thấy:
15
- Tại các nước có nền thể thao phát triển mạnh, việc nghiên cứu, đánh giá
thực trạng, từ đó tìm kiếm các giải pháp cho một chiến lược phát triển dài hơi
(5, 10, 15 năm) là một công tác thường xuyên, bài bản và mang tính khoa học
cao, đặc biệt khi hệ thống cũ vẫn đang vận hành thành công nhưng không đáp
ứng tốt với cơ hội hoặc nguy cơ trong tương lai. Điều này thể hiện bản chấ
t luôn
biến đổi của hoạt động thể thao và tính đi trước, đón đầu của kế hoạch.
- Ở nước ta, tuy mức độ nghiên cứu có khác nhau nhưng các tỉnh thành
17
kiếm các giải pháp phù hợp, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và các
chỉ tiêu điều tra phù hợp.
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu
Để làm rõ các tiêu chí đánh giá thực trạng, chúng tôi xây dựng 3 loại phiếu
điều tra như sau:
- Phiếu điều tra thực trạng các bộ môn thể thao tại TP.HCM: bao gồm
các tiêu chí đánh giá 5 khía cạnh của một bộ môn: 1) Tính phổ biến (sự phát
triể
n của bộ môn và tính phổ cập của bộ môn); 2) Tính triển vọng; 3) Tính
truyền thống; 4) Thành tích đỉnh cao; 5)Tính kinh tế trong đầu tư.
- Phiếu phỏng vấn về các giải pháp phát triển TTTTC ở TP.HCM trong
5 năm qua (2002 – 2006): nhằm đánh giá thực trạng triển khai 4 nhóm giải
pháp với 18 giải pháp cụ thể của Sở TDTT TP.HCM, đó là: 1) Nhóm giải
pháp về tổ chức – cơ cấu (có 2 giải pháp); 2) Nhóm giải pháp về xã hội hóa
(có 3 giả
i pháp); 3) Nhóm giải pháp về đào tạo (có 8 giải pháp); 4) Nhóm
giải pháp về điều kiện đảm bảo (có 5 giải pháp).
- Phiếu phỏng vấn về định hướng và các giải pháp phát triển TTTTC ở
TP.HCM trong 5 – 6 năm tới (2007 - 2012): với 6 nhóm giải pháp với 11
giải pháp cụ thể.
2.3.3. Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp thu thập và tổng hợp các ý kiến của các chuyên gia, các nhà
khoa học, các nhà quản lý TDTT, các HLV về thực trạng và giải pháp phát
triển TTTTC ở
TP.HCM thông qua 2 hình thức:
- Hội thảo: những ý kiến tham luận và phát biểu của các chuyên gia tại
hội thảo sẽ làm cơ sở đánh giá nội dung của các vấn đề được nghiên cứu.