Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ NHÂM Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ CAO THƯỢNG,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠNKHÓA LUẬN TỐT NGIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014

Thái Nguyên, năm 2014

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
“Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã
Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo Th.s Trần Thị Bích Hồng đã tận tình hướng dẫn trong quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa cùng tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông
thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận đã tận tình truyền đạt kiến
thức trong 4 năm học tập, một hành trang quý báu để tôi bước vào cuộc sống.
Tôi xin chân thành cám ơn UBND xã Cao Thượng cùng toàn thể người
dân trong xã đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập, thu
thập thông tin nghiên cứu để hoàn thành đề tài này.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Trong quá trình thực tập do thời gian có hạn, năng lực và kinh nghiệm bản
thân còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để đề tài
này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 6, năm 2014
Sinh viên

Hoàng Thị Nhâm MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii

2.4.1. Phân vùng và chọn điểm nghiên cứu 20
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 21
2.4.3. Phương pháp phân tích SWOT 22
2.4.4. Phương pháp xử lý thông tin số liệu 22
2.4.5. Phương pháp phân tích số liệu 22
2.5. Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của kinh tế hộ 23
CHƯƠNG 3
: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Khát quát cơ bản tại địa bàn xã Cao Thượng 24
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã
hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Cao Thượng 33
3.2. Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở xã Cao Thượng 35
3.2.1. Đánh giá chung về phát triển kinh tế hộ nông dân của xã Cao Thượng
(2011- 2013) 35
3.2.2. Đánh giá tình hình kinh tế hộ nông dân theo nhóm hộ điều tra 36
3.2.3. Điều kiện sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 40
3.2.4. Mức độ đầu tư chi phí cho sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 44
3.2.5. Kết quả sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 47
3.2.6. Tổng hợp và đánh giá thu nhập của nhóm hộ điều tra năm 2013 52
3.2.7. Tình hình chi tiêu và tích lũy của nhóm hộ điều tra 53
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của nhóm hộ điều tra 54
3.3.1. Ảnh hưởng của trình độ văn hóa. 54
3.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất 55
3.3.3. Ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng 57
3.3.4. Ảnh hưởng về khoa học công nghệ 57
3.3.5. Ảnh hưởng của yếu tố thị trường 57

3.3.6. Một số chính sách tại địa phương có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế của nhóm hộ điều tra 58

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tên đầy đủ
ĐVT Đơn vị tính
CC Cơ cấu
UBND Ủy ban nhân dân
GO Giá trị sản xuất
LĐ Lao động
CN – TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
HĐND Hội đồng nhân dân
BQC Bình quân chung
SL Số lượng

qua đã khẳng định chủ trương đúng đắn của đảng và nhà nước ta trong việc khơi
dậy và phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của các đơn vị, thành phần kinh tế
trong đó có kinh tế hộ nông dân.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ nông dân
giữ vai trò không thể thiếu. Nó là đơn vị đặc thù và phù hợp với thực trạng phát
triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Sự tồn tại và phát triển của nó là
một tất yếu khách quan. Trong những năm qua, cùng với sự quản lý kinh tế của
nhà nước, kinh tế hộ nông dân được coi trọng và nó đã thúc đẩy sự phát triển
ngành nghề nông nghiệp nước ta, đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực, thực
phẩm đã vươn lên đảm bảo vững chắc an ninh lương thực trong nước và trở
thành nước xuất khẩu có vị thế quan trọng trên thế giới.
Kinh tế hộ nông dân ở nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của
mình trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ở vùng nông thôn nói riêng. Sự
phát triển của kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta
đạt được những thành tựu to lớn biến bộ mặt nông nghiệp nông thôn và đời sống
của người dân nông thôn có những bước thay đổi đáng kể.
Như vậy kinh tế hộ nông dân đã tỏ ra là một đơn vị kinh tế đặc thù và phù
hợp trong sản xuất nông nghiệp. Nó góp phần giải quyết kinh tế việc làm, nâng
cao thu nhập và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn, đáp ứng tốt nhu cầu ngày
càng cao và phong phú của con người về lương thực, thực phẩm.
Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu to
lớn như: Đưa giống vật nuôi và giống cây trồng có năng suất và chất lượng cao
vào sản xuất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp từng bước được
cải thiện, nâng cấp cùng với các chính sách đầu tư, ưu đãi của đảng và nhà nước.
Tuy nhiên kinh tế nông nghiệp vẫn còn nhiều mặt tồn tại: Sản xuất trong kinh tế
hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo hướng
hàng hóa chưa phát triển mạnh, nó còn mang tính chất tự cung tự cấp, hộ sản
2
3 3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nâng cao nhận thức, tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hộ và
những chính sách liên quan đến phát triển kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình thực hiện đề tài sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ
năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân.
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên
trong quá trình nghiên cứu.
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân xã Cao
Thượng.
- Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp người
dân địa phương phát triển kinh tế.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
địa phương trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trong thời gian tới, là
cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành đưa ra các phương hướng để
phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại để phát triển
kinh tế hộ ngày càng hiệu quả và bền vững.
4 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về hộ
Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn

sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn
hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Nhà khoa học Traianốp cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn
định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp”
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông
nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và
Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất
cơ bản”. Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã
thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được
tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
V.I.Lênin chi rằng “Cải tạo tiểu nông nghiệp không phải là tước đoạt của
họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau
một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ”.
Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế – xã hội,
là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [1]. Đào Thế Tuấn
(1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo
nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nồng nghiệp ở
nông thôn” [2]. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều
tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc
50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng,
bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
nghiệp”[3].
6
7 xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản
phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước hết
phải nhằm khai thác tốt kinh nghiện truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn Huân,
năm 1993) [4].
1.1.3. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế hộ
nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển. Kinh tế
hộ nông dân có những đặc trưng chủ yếu sau:
Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa
trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ
phân phối các nguồn thu nhập và chỉ tiêu. Đó chính là những lợi ích về kinh tế
cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân công
lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực
tiếp lao động. Sau đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi
người hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành
viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực
đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không
có hình thức kinh doanh nào có được.
Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử
dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi
người đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng
và bảo quản tốt nhất. Bởi vì chúng là những yếu tố của gia đình (Chu Văn Vũ,
1995)[5].
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình phát triểnh tế hộ nông dân
* Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý và đất đai

những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản
xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao. Điều
này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh
của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh
(Phạm Vân Đình, 1998)[6].
9 - Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều
kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng
như thuê nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu, là
yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm.
- Công cụ sản xuất
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng,
công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ
thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng hệ
thống công cụ phù hợp. Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản
xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao cho các
hộ nông dân trong sản xuất. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên,
chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả và hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao
thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông
nghiệp…, đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế
hộ nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất
phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ được ổn định và cải thiện.
- Thị trường

* Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước:
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của đảng và nhà nước:
chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm,
miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính
sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới…Các chính sách này có
ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước
can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông
dân phát triển kinh tế [5].
Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có
thể khẳng định: Hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần
phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô
11 lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiễn bộ kỹ thuật
mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả.
1.1.5. Quan điểm về phát triển kinh tế hộ nông dân
* Quan điểm về phát triển và phát triển kinh tế
- Quan điểm về phát triển:
Theo quan điểm của Patchanee napracha and Alexxandra Steppens trong
cuốn “Talking hold of ruallif” thì “Phát triển là một quá trình thay đổi. Nó đòi
hỏi sự hoàn thiện trong các lĩnh vực mà các nhân tố này ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống”. Nghĩa là nó đáp ứng nhu cầu của con người ở mức độ cao
trong mọi lĩnh vực, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, cả phát triển
kinh tế và phát triển xã hội theo hướng văn minh nhân loại.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong
một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và
tiến bộ mọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí.
- Phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế xã hội với mức độ cao liên tục

12/2000. Trọng tâm của vấn đề là: Quyền sử dụng lâu dài và 5 quyền là chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế.
Như vậy:
Chính sách đất đai của đảng và nhà nước đã giải quyết quan hệ giữa
quyền sử dụng và quyền sở hữu, là động lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển. Nhờ
vậy hộ nông dân yên tâm sản xuất, yên tâm đầu tư, một bộ phận nông dân thoát
khỏi tình trạng sản xuất tiểu nông, sản xuất nhỏ lẻ sản xuất hàng hóa.
Tuy nhiên 5 quyền trong luật chưa phù hợp chung trong cả nước, nhất là
đối với từng địa phương cụ thể, trong đó có quyền chuyển nhượng, quyền cho
thuê đang bị thả lỏng.
Các hộ nông dân cần đứng trên quan điểm quản lý sử dụng đất đai bền
vững trong quyền sử dụng lâu dài ruộng đất của hộ nông dân nhằm:
+ Duy trì nâng cao sản lượng.
+ Giảm rủi ro sản xuất.
+ Bảo vệ tiềm năng ngăn ngừa và thoái hóa đất và nước.
+ Sử dụng đất đai có hiệu quả hơn.
+ Được xã hội và cộng đồng chấp thuận.
13 Kiểm soát được thị trường đất: Một thị trường đất tất yếu sẽ hình thành,
cần kiểm soát và có sự hướng dẫn của các cấp quản lý Nhà nước.
Giải quyết vấn đề hộ nông dân không có đất và hình thành kinh tế trang trại.
- Chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hộ nông dân
Khoa học chỉ có thể thành công nếu xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của
người tiếp cận khoa học kỹ thuật đó, trong đó việc kết hợp giữa các kiến thức
hàn lâm và kiến thức bản địa là rất quan trọng.
Đối với hộ nông dân, vấn đề chuyển giao khoa học kỹ thuật phải đứng
trên các quan điểm sau đây:
+ Có tính khả thi về mặt kỹ thuật.

đã thực hiện nhiều chính sách để đất nước từ một nước lạc hậu trở thanh nước
có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến việc phát
triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến 1980).
+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng nông thôn. Mạng lưới đường
bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập giữa các vùng ở xa (Bắc,
Đông Bắc, Nam …), đầu tư xây dựng nước ở các vùng.
+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản
phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng
phía Đông Bắc.
+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu như
ngô, sắn sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản.
+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính sách
tài chính cho nông dân như: Cam kết với giá sản phẩm định trước …, cùng
nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản
xuất hàng hóa. Hằng năm có 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do
nông dân sản xuất ra.
Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là
việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt
đất đai, kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ quê
hương ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng.
15 - Đài Loan: Ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan trọng là
nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng và
chú ý đầu tư cho nông nghiệp. Trong những năm 1950 đến 1960 chủ trương
“Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp”.
Từ năm 1950 đã có chương trình cải cách ruộng đất theo ba bước: Giảm tô, giải
phóng đất công, bán đất cho tá điền thực hiện người cày có ruộng (1953 - 1954)

bởi Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà hai buồng, 0.5
ha đất thổ cư và 2 ha đất canh tác (1 ha cây lâu năm và 1 ha cây hằng năm), một
năm lương thực khi đến khu định cư mới. Được chăm sóc y tế, giáo dục, được
vay vốn với lãi suất ưu đãi, vay đầu tư cho cây nông nghiệp, khi đến kì thu
hoạch mới trả nợ. Hiện nay ở Indonexia có 80.000 - 100.000 hộ đến các vùng
kinh tế mới, chi phí bình quân/hộ từ 5.000 - 7.000 USD.
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số địa phương
trong nước
- Hà Giang: Huyện Bắc Quang được coi là một huyện đồng bằng của tỉnh
Hà Giang, nhờ có địa hình tương đối thuận lợi cho sản xuất nông - lâm - ngư
nghiệp và công nghiệp, lại nằm ngay cửa ngõ phía Nam của tỉnh, có quốc lộ 2 đi
qua và cũng là con đường duy nhất cho giao thông Hà Giang nối liền các tỉnh
nội địa và nối liền với cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy. Nhờ đó mà mô hình kinh
tế hộ nông dân được chọn làm mũi nhọn kinh tế nơi đây.
Với lợi thế của mình những năm qua Bắc Quang đã có nhiều giải pháp
phát triển kinh tế, lấy kinh tế hộ nông dân làm mũi nhọn, hình thành phong trào
phát triển kinh tế hộ nông dân vừa và nhỏ theo định hướng hàng hóa. Những mô
hình kinh tế hộ đã trở thành điểm mẫu để người nông dân trong thôn, xã học hỏi
và nhân rộng thành phong trào khắp toàn huyện.
Các mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ nông dân với nhau, tạo
ra một lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại sản
phẩm, đủ điều kiện để cung cấp cho thị trường hay tư thương theo từng chu kỳ
chăn nuôi hay mùa vụ sản xuất. Để trao đổi hàng hóa thuận lợi, huyện Bắc
Quang đã xây dựng hàng chục chợ xã và cụm ngoài xã những chợ truyền thống,
đây vừa là đầu mối thu gom tiêu thụ sản phẩm vừa là những vùng “vệ tinh” kinh
tế, giúp người nông dân tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng và đúng giá.
17 Đồng thời các chợ đầu mối này cũng là nơi thu hút các nhà đầu tư các doanh

với khoa học kỹ thuật canh tác mới thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật, các mô
hình thử nghiệp giống cây trồng, vật nuôi, mô hình thâm canh cây ăn quả theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status