LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong chuyên
đề là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
chuyên đề đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong chuyên đề đều được
chỉ rõ nguồn gốc, bản chuyên đề này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân
tôi (ngoài phần đã trích dẫn).
Tác giả chuyên đề
Quách Thành Đạt
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế &
Phát triển nông thôn - Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp
đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo Ths. Hồ Ngọc
Cường thuộc bộ môn kinh tế môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn,
Trường Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các hộ gia đình tại các thôn thuộc
xã Đoàn Đào, cán bộ và toàn thể nhân dân xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Và tôi cũng không quên nói lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả chuyên đề
Quách Thành Đạt
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Nông nghiệp là ngành kinh tế rất quan trọng, chiếm một tỷ lệ rất lớn trong nền kinh
tế quốc dân. Nền Nông nghiệp Việt Nam muốn phát triển một cách bền vững và
tại địa bàn xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Để hiểu rõ hơn về đối tượng cần nghiên cứu, trong phần nội dung đề tài tôi đã
đưa ra một số khái niệm và quan điểm về phát triển. Ngoài ra, trong đề tài tôi còn đưa
ra một số vấn đề về phát triển lao động nông nghiệp như: khái niệm về lao động, đặc
điểm và vai trò của việc phát triển lao động nông nghiệp. Trong đề tài, tôi có đưa ra
cơ sở thực tiễn bao gồm tình hình phát triển lao động nông nghiệp trên thế giới và tình
hình phát triển lao động nông nghiệp tại Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tại xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên kết quả nghiên cứu mà tôi đạt được như sau: Thứ nhất, số lượng lao
động trên địa bàn xã rất dồi dào, ngày càng được củng cố về kiến thức chuyên
môn, nền nông nghiệp được quan tâm phát triển. Việc áp dụng khoa học kĩ thuật
được chú trọng phát triển đặc biệt là ngành trồng trọt và chăn nuôi. Thứ hai, việc
phát triển lao động nông nghiệp trên địa bàn xã hiện nay gặp rất nhiều khó khăn.
Các vấn đề khó khăn trong việc phát triển lao động nông nghiệp như: Lao động
nông nghiệp thiếu việc làm;vấn đề về lao động nông nghiệp thiếu kiến thức về
chuyên môn, thiếu vốn đầu tư sản xuất, tập quán sản xuất vẫn còn lạc hậu, cơ sở hạ
tầng nông nghiệp chưa được phát triển, vấn đề thiếu tư liệu sản xuất; hệ thống dịch
vụ khoa học kỹ thuật, tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển lao động nông nghiệp
mở rộng quy mô còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn; cơ chế phát triển nông
nghiệp còn chậm khiến việc phát triển lao động nông nghiệp gặp nhiều khó
khăn Thứ ba, để khắc phục được những trở ngại này, đề tài đã đề xuất một số
giải pháp chủ yếu cho phát triển lao động nông nghiệp tại địa bàn xã như: Đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn giữa các ngành trồng trọt, chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp; phát triển công nghiệp và dịch vụ; phát triển ngành
nghề nông thôn như các ngành tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống
trên địa bàn xã, ; đào tạo dạy nghề cho lao động nông nghiệp trên địa bàn xã
Đoàn Đào; tạo vốn và xúc tiến hoạt động tín dụng cho lao động nông nghiệp; khai
thác nguồn lực tự nhiên và mở rộng sản xuất.
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
la nơi tư liệu sản xuất ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và phát triển
công nghiệp. Kết quả nhận thấy rõ lao động nông nghiệp thì bị mất đất, thiếu đất
dẫn tới dư thừa lao động, lao động này phải đi làm thuê và công việc không được
ổn định. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ngày một tăng dẫn tới tình trạng
thu nhập giữa các nhóm dân cư và các vùng sẽ tiếp tục ngày càng tăng đi theo đó là
các bất ổn của xã hội. Hơn nữa do tính chất phổ thông và tính mùa vụ nên thu nhập
của họ không cao và thất thường do nông nghiệp chứa đựng nhiều yếu tố rủi do.
Chính vì vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu tới thực trạng lao động nông nghiệp ở
nước ta và nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp đưa ra để khắc phục vấn đề.
Nhưng còn có rất nhiều vấn đề tồn tại và một số vấn đề vẫn chưa có thể giải quyết
được.
Tỉnh Hưng Yên nói chung và xã Đoàn Đào nói riêng đã có nhiều biện pháp
thúc đẩy và tạo điều kiện cho lao động nông nghiệp . Nhưng vẫn còn có rất nhiều
khó khăn và có những vấn đề mà xã chưa thể giải quyết được, chưa tìm ra. Những
vấn đề này có thể ảnh hưởng chung tới sự phát triển của xã Đoàn Đào, xa hơn là sự
phát triển chung của nhà nước ta . Nguồn lao động nông nghiệp tại địa phương
đang có rất nhiều thay đổi và đang có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của xã.
Nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng đến sự phát triển của địa phương.Vì
vậy tôi chọn đề tài : ‘‘ Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lao
động nông nghiệp tại xã Đoàn Đào, Huyện Phù Cừ, Tỉnh Hưng Yên ’’ nhằm có
thể khái quát được thực trạng nguồn lao động ở xã Đoàn Đào từ đó góp ý một số
giải pháp giải quyết những vấn đề còn tồn tại.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lao động nông nghiệp, từ đó đưa ra
một số giải pháp phát triển lao động trong nông nghiệp xã Đoàn Đào, Phù Cừ,
Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan tới lao động nông nghiệp,
phát triển lao động nông nghiệp.
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan:
2.1.1.1 Lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội (Từ điển tiếng Việt 200,NXB Đà Nẵng,
TP.Đà Nẵng).
+) Đặc điểm chung của lao động:
- Mọi quá trình sản suất luôn luôn đòi hỏi sự kết hợp của 3 yếu tố : lao động,
tư liệu lao động, và đối tượng lao động, trong đó yếu tố lao động có vai trò quyết
định.
- Lao động là yếu tố quết định thuộc tính giá trị của hàng hóa. 2 thuộc tính
của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng.
- Trong nền kinh tế thị trường sức lao động – nguồn lực của lao động là một
loại hàng hóa đặc biệt. tính đặc biệt của sức lao động là giá trị sử dụng của nó có
thể sản sinh ra hàng hóa có giá trị cao hơn bản than nó
- Xây dựng và phát triển thị trường sức lao động ở nước ta là một yếu tố
khách quan.
+) Phân loại lao động : xã hội thường phân ra các loại như sau:
Thứ nhất là lao động đơn giản và phức tạp:
- Lao động đơn giản là lao động không cần qua đào tạo, huấn luyện chuyên
môn, là hao phí sức lao động của người lao động không có trình động chuyên môn,
lao động không thành thạo. Trong sản xuất sản suất hàng hóa, tất cả lao động quy
thành lao động giản đơn. Lao động giản đơn là đơn vị đo lường của lao động phức
tạp ( Từ điển Kinh tế 1979, NXB Sự Thật, Hà Nội).
- Lao động phức tạp là lao động đã qua huấn luyện chuyên môn, có nhận
thức trong công việc( Từ điển Kinh tế 1979, NXB Sự Thật, Hà Nội).
Thứ hai, là lao động cụ thể và lao động trìu tượng
- Lao động cụ thể là lao động nhằm mục đích nhất định; lao động tạo ra giá
trị sử dụng. Để tạo ra mỗi loại giá trị sử dụng cần phải có những loại lao động nhất
định, sựu phân biệt các loại lao động căn cứ vào phương pháp lao động, công cụ
xuất nông nghiệp và có hộ khẩu thường chú ở nông thôn( được giao đất để sản xuất
nông nghiệp). Gồm hai bộ phận: Lao động trong độ tuổi lao động và có khả năng
lao động ( theo quy định của nhà nước: Nam có độ tuổi từ 16 – 60; Nữ có độ tuổi
từ 16 – 55 ) và ngoài độ tuổi lao động. Ngoài ra, do tính chất công việc và đặc
điểm kinh tế xã hội nông thôn một lực lượng lao động có nhu cầu làm việc cũng
cần được giải quyết việc làm. Đó là lực lượng trên và dưới tuổi.
- Vai trò của lao động nông nghiệp:
Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và trong
thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem xét là
yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói
chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện
CNH - HĐH đất nước trong đó CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặc biệt
quan tâm. Vì vậy lao động nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, nó được thể
hiện qua các mặt sau:
- Nguồn lao động nông nghiệp tham gia vào quá trình phát triển của các
ngành trong nền kinh tế quốc dân: Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số lao động xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá,
nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương
đối và tuyệt đối.
- Nguồn lao động nông nghiệp tham gia vào sản suất lương thực thực phẩm:
Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sông chủ
yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông nghiệp tham gia vào quá trình
sản suất nông nghiệp rất đông đảo. Cùng với sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về
lương thực thực phẩm ngày càng tăng. Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có
thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực, thực
phẩm là do nguồn lao động nông nghiệp cung cấp.
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu
nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày càng
“ Phát triển NNL là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian
xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc “ [33, tr.1-3].
UNESCO sử dụng khái niệm phát triển NNL(theo nghĩa hẹp): là làm cho toàn bộ
sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của
đất nước.
Tổ chức lao động của thế giới (ILO) lại cho rằng phát triển NNL bao hàm phạm vi
rộng hơn, không chỉ trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là
sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như
thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển NNL theo nghĩa rộng, bao gồm giáo
dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH và
nâng cao chất lượng cuộc sống.
Do vậy, phát triển lao động nông nghiệp là việc giáo dục và đào tạo kĩ năng, kiến
thức nông nghiệp, nâng cao trình độ của người lao động để phục vụ cho quá trình
sản xuất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc
sống.
- Vai trò của việc phát triển lao động nông nghiệp:
+ Giải quyết vấn đề thiếu việc làm, dư thừa lao động trong sản xuất nông nghiệp.
+ Nâng cao thể lực cũng như trí lực của người lao động nông nghiệp vào trong sản
suất.
+ Phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế nông thôn.
- Nội dung phát triển lao động nông nghiệp:
+ Phát triển về số lượng: Thực tế tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất cao
nhưng mất cân bằng về giữa các ngành nghề do vậy, việc phân bổ lao động sao cho
một cách hợp lý cũng là vấn đề cần được lưu ý tới trong quá trình phát triển lao
động nông nghiệp.
+ Phát triển về chất lượng: Lao động nông nghiệp có số lượng lớn nhưng tỷ lệ có
chuyên môn và được qua đào tạo rất ít, do vậy việc đào tạo và nâng cao tay nghề
cho người lao động là vẫn đề tất yếu và rất quan trọng trong quá trình phát triển lao
động nông nghiệp.
Thứ ba, là quá trình đô thị hóa và quá trình phát triển công nghiệp đang ngày
một tăng cao. Quá trình phát triển này dẫn tới việc hình thành nhiều đô thị nhiều
công ty xí nghiệp nhà máy mới. Tiến trình này dẫn tới nông nghiệp bị mất đất để
phục vụ quá trình đô thị hóa và công nghiệp mới. Sự hình thành này cũng thu hút
lực lượng lao động trẻ, có chuyên môn kĩ thuật đi vào hoạt động kinh tế xã hội ở
các khu đô thị xí nghiệp nhưng sẽ đẩy một bộ phận lao động có độ tuổi cao và lao
động có trình độ chuyên môn, văn hóa thấp ra khỏi, trở thành những người không
có việc làm. Mất tư liệu sản xuất mất việc làm đã trở thành vấn đề lớn với lao động
nông nghiệp.
Thứ tư, là chất lượng lao động nguồn lao động nông nghiệp chưa cao được
đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe. Về trình độ học
vấn và chuyên môn kỹ thuật nguồn lao động ở nước ta đông về số lượng nhưng sự
phát triển của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng
được với thời đại mới. Riêng ngành nông nghiệp chiếm số lượng lớn nhưng nguồn
nhân lực nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết được những tiềm năng do do
trình độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật thấp. Do đó vấn đề nâng cao kỹ thuật và
chuyên môn cũng là vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Về vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người lao động nó liên quan
tới lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi
trường làm việc,… Nhìn chung do nước ta do thu nhập thấp nên dẫn tới nhu cầu
thiết yếu hàng ngày chưa được đáp ứng đầy đủ, việc quan tâm tới sức khỏe của
người lao động nước ta đặc biệt kém chính vì vậy sức khỏe của lao động nói chung
và của người lao động nông nghiệp nói riêng là chưa tốt.
Với những tình trạng và những đặc điểm mang tính tự nhiên đã làm tăng tính
trầm trọng của nguồn lao động nông nghiệp với số lượng lớn, chất lượng thấp. Tất
cả những vấn đề trên đã đặt ra vấn đề lớn đó là vấn đề tạo ra việc làm cho lao động
nông nghiệp và những khó khăn trong việc giải quyết những vấn đề liên quan tới
việc làm và chất lượng của lao động nông nghiệp.
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển lao động nông nghiệp
2.1.2.2.1 Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
ảnh hưởng rất lớn đến quy mô và phương hướng sản xuất, cơ cấu và sử dụng phân
bố của cây trồng, mức độ thâm canh và năng suất của cây trồng. Diện tích đất nông
nghiệp, mặt nước càng lớn thì tài nguyên nông lâm thỷ sản càng nhiều và càng
phong phú khả năng tạo việc làm càng nhiều. Nhưng đất đai ở từng địa phương có
diện tích khác nhau và càng ngày càng giảm do quá trình đô thị hóa và phát triển
công nghiệp làm giảm tư liệu sản xuất cũng như giảm lợi ích mà nó mang lại. Nó
cũng là tài nguyên khai thác vô hạn vì vậy việc cải tạo cũng như sử dụng một cách
hợp lý đem lại nguồn lợi nhuận lớn trước mắt cũng như sau này đối với ngành
nông nghiệp.
Cùng với đất đai và điều kiện khí hậu, nguồn nước, địa hình,… Sẽ thích ứng
với giống cây trồng và mỗi con vật nhất định. Muốn tạo ra việc làm đem lại thu
nhập cũng như tăng thu nhập cho người lao động nông nghiệp thì phải biết vận
dụng hợp lí điều kiện tự nhiên và canh tác hợp lí để khai thác hiệu quả mà nó đem
lại. Nhưng cũng phải tránh làm hại tới môi trường và nơi sinh sống của người lao
động.
Qua đây thấy được đât đai cũng như các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn
tới quá trình sản xuất nông nghiệp. Nó cũng chính là yếu tố quan trọng cho vấn đề
tào việc làm và tăng sức hút cho tầng lớp lao động hoạt động cho lĩnh vực nông
nghiệp.
2.1.2.2.2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế xã hội
- Dân số và trình độ dân trí:
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động. Quy mô và
cơ cấu của dân số ảnh hưởng tới quy mô và cơ cấu của nguồn lao động. Các yếu tố
cơ bản ảnh hưởng tới sự biến động của dân số là : phong tục, tập quán của từng
nước, trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách sinh đẻ của
từng nước. Từ đó ảnh hưởng tới quy mô dân số và nguồn lao động nói chung cũng
như lao động nông nghiệp nói riêng. Dân trí hay trình độ học vấn của người dân
cũng ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển của xã hội cũng như vấn đề của việc
làm. Trình độ dân trí cao thì việc tiếp thu cũng như chuyển giao công nghệ nhanh
thì việc tạo việc làm và phát triển lao động càng cao. Từng vùng, từng địa phương
Giá cả nông sản là nhân tố quyết định đến thu nhập của lao động nông
nghiệp khi khối lượng sản xuất như nhau. Tính chất mùa vụ và tính vùng của sản
phẩm nông nghiệp ảnh hưởng lớn đến cung nông sản làm cho giá cả của chúng
thường bấp bênh. Vì vậy, Nhà nước cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
như đường xá giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, kho dự trữ, cơ sở chế biến
nông sản tại chỗ sẽ góp phần ổn định giá cả hàng hóa, ổn định thu nhập cho người
nông dân.
- Vấn đề về vốn:
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp
nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng: từ phạm vi sản xuất đến phạm vi
lưu thông và trở về sản xuất. Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư
liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Để
phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốc
gia, tăng nông sản xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá
nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định là vốn.
Vốn đầu tư của các hộ nông dân cũng góp phần rất quan trọng trong phát
triển nông nghiệp, nông thôn. Nguồn vốn này được đầu tư để phát triển sản xuất,
mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, giống
mới Hiện nay, vốn đầu tư của các hộ nông dân được tập trung vào mở rộng quy
mô sản xuất hàng hoá theo mô hình trang trại với số vốn đầu tư tương đối lớn.
Tiềm năng của nguồn vốn này là rất to lớn bởi vì nó phụ thuộc lớn vào thu
nhập của các hộ nông dân. Khi năng lực sản xuất tăng, năng suất lao động tăng thì
thu nhập của hộ nông dân cũng tăng. Thu nhập của các hộ nông dân một phần phục
vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, một phần tích luỹ. Mặt khác, đầu tư của các hộ
nông dân phụ thuộc phần lớn vào tiết kiệm của họ nên khi năng lực sản xuất tăng
thì đầu tư của hộ nông dân cũng tăng lên. Nếu vốn được sử dụng có hiệu quả, hợp
lý sẽ thu hút nhiều lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nguời dân.
- Vấn đề sức khỏe và an sinh xã hội cho người lao động:
Đóng vai trò quan trọng tới quá trình lao động. Nếu có sức khỏe thì tần suất
và làm việc sẽ đạt hiệu quả cao, còn nếu không có sức khỏe thì hiệu quả làm việc
2.1.2.2.3 Những nhân tố thuộc về chính sách
Với xã hội đang tiến lên thời kì CNH – HDĐH đất nước, các ngành công
nghiệp và dịch vụ phát triển thu hút nhiều lao động có chuyên môn kĩ thuật, có
trình độ cao vào làm việc còn lao động nông nghiệp thì thiếu hụt đi những lao động
có trình độ chuyên môn và có kĩ thuật. Việc này sẽ làm mất cân bằng về lực lượng
lao động gây áp lực lớn cho nền nông nghiệp chính vì vậy, việc phát triển lao
động nông nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.
Chính sách nhà nước chưa thực sự hướng tới mục tiêu giải quyết việc làm
cho người lao động. Mặc dù đã có những chính sách được đặt ra để giải quyết việc
làm cho người lao động , Song các chính sách chưa được thực hiện hiệu quả và
chưa hướng tới các mục tiêu chính là giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy
nhiên, các chính sách này chưa được thực hiện sự hiệu quả, nguồn vốn cho các
chính sách vẫn hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Một số chính sách cảu nhà
nước và địa phương ảnh hưởng xấu tới cơ hội tạo việc làm cho người lao động
nông nghiệp nông thôn. Ví dụ như chính sách phân bố đất không hỗ trợ nông dân
tích tụ đất để phát triển trang trại, hay nhà nước thu hồi đất để phát triển công
nghiệp trong khi đó các khu công nghiệp này lại không sử dụng lao động nông
nghiệp tại khu vực này… Vì vậy, để phát triển nguồn lao động cho nông nghiệp
thì nhà nước cần quan tâm hơn đến việc giải quyết việc làm, tạo tư liệu sản suất
cho người lao động nông nghiệp
Qua đây thấy được việc phát triển lao động nông nghiệp thực sự là rất khó
khăn vì nó có rất nhiều vướng mắc, do vậy để đạt được hiệu quả trong quá trình
nghiên cứu phải hệ thống và những quan điểm cụ thể không gian và thời gian xác
định.
2.1.2.3 Ý nghĩa của nghiên cứu phát triển lao động nông nghiệp
Việc nghiên cứu và phát triển lao động nông nghiệp có ý nghĩa rất quan
trọng trong quá trình phát triển của xã hội, đặc biệt là quá trình phát triển nông
thôn mới:
Về mặt xã hội, tạo việc làm nhằm giúp con người nâng cao vai trò của mình
trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội.