I, Đặt vấn đề.
1, Lí do chọn đề tài.
- Quá trình xác lập chế độ phong kiến Việt Nam là một quá trình tất yếu
của lịch sử. Trong suốt quá trình đó lịch sử Việt đã trải qua nhiều biến
động thăng trầm để có thể có được những bước phát triển rực rỡ.
- Không chỉ là một quá trình phát triển tất yếu trong tiến trình lịch sử mà
đây như một vấn đề, móc xích quan trọng để chúng ta có thể nhìn được
một chặng đường dài của quá trình phát triển lịch sử dân tộc. Từ đó ta
có thể tìm hiểu được những bản chất hình thành và đặc điểm của chế độ
phong kiến nước ta.
- Đây là một đề tài hay và làm cho chúng ta có thể đưa những trải nghiệm
của mình về những vấn đề lịch sử có tính chất bước ngoặt. Đặc biệt là
chế độ phong kiến thống trị tồn tại trong suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Sự tồn tại của chế độ phong kiến là một minh chứng sống động cho cả
một thời kì phát triển của lịch sử dân tộc. Tìm hiểu quá trình hình thành
và xác lập chế độ phong kiến cũng giống như chúng ta đang tìm hiểu cả
một giai đoạn dài trong phát triển dài của lịch sử dân tộc.
- Từ lí luận đến thực tiễn là cả một quá trình dài. Nếu như không có thực
tiễn thì lí luận cũng chỉ là lí luận xuông, xáo rỗng công thức. Vì vậy từ
trước tới nay đã rất nhiều tài liệu nghiên cứu về mặt lí luận của quá
trình xác lập chế độ phong kiến ở Việt Nam. Bằng những kiến thức lí
thuyết đã học về quá trình xác lập của chế độ phong kiến ở Việt Nam
tôi xin chứng minh nó qua thực tiễn phát triển của lịch sử dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề.
- Xưa nay cũng có rất nhiều nghiên cứu của các nhà sử học, những luận
văn tốt nghiệp nói về chế độ phong kiến Việt Nam. Trải qua quá trình phát
Page 1
triển, những nghiên cứu này đã là nguồn tài liệu quý giá phục vụ cho công
tác nghiên cứu cũng như việc học tập của học sinh, sinh viên.
triển đó không phải là một sự phát triển riêng rẽ không có sự chắt lọc từ những
thời kì trước mà là sự tiếp nối có chọn lọc có sự kế thừa và phát triển.
- Quá trình xác lập chế độ phong kiến của Việt Nam sẽ cho chúng ta
những hiểu biết cơ bản đặc điểm của chế độ phong kiến và những ưu việt của
nó không chỉ trên mặt lí thuyết mà còn chứng minh qua thực tiễn.
4. Đối tượng, phương pháp và giới hạn nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: chế độ phong kiến Việt Nam từ những đặc điểm và
quá trình hình thành và phát triển.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Liên ngành: sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như địa
lí, lịch sử, tôn giáo… để cùng nhìn nhận một vấn đề lịch sử có tính chất bước
ngoặt đó là quá trình xác lập chế độ phong kiến Việt Nam.
+ So sánh, phân tích, tổng hợp số liệu: so sánh những triều đại với nhau và quá
trình phát triển của nó để từ đó phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề quá
trình phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam từ bộ máy nhà nước, chế độ
ruộng đất, văn hóa – xã hội…
+ Một số phương pháp khác: như thu thập thông tin: từ những nguồn tài liệu
chính thống như sách lịch sử nghiên cứu hay những thông tin từ những trang
web có uy tín….
Page 3
- Giới hạn nghiên cứu: vì trong lịch sử Việt Nam, chế độ phong kiến được tồn
tại dài với nhiều giai đoạn và quá trình phát triển khác nhau, có quá trình hình
thành, phát triển và suy vong của chế độ phong kiến. Trong bài tiểu luận chỉ
tập trung nghiên cứu quá trình từ khi hình thành đến lúc xác lập và phát triển
rực rỡ của chế độ phong kiến Việt Nam nghĩa là tới thế kỉ XV với những đặc
điểm về mặt lí luận và thực tiễn.
II, Nội dung chính.
1, Cơ sở lí luận của chế độ phong kiến Việt Nam.
1.1. Hoàn cảnh ra đời của chế độ phong kiến
1.2. Một số ý kiến về đặc điểm của chế độ phong kiến.
Từ lâu chế độ phong kiến hình thành như một quá trình tất yếu của lịch
sử. Chế độ phong kiến ra đời trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau nên mang
những đặc điểm khác nhau. Sau đây là một số nghiên cứu của những nhà lí
luận nổi tiếng về chế độ phong kiến.
+ C. Mác: “ Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Châu Á cổ đại
phong kiến, tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của của hình
thái kinh tế - xã hội”.
Page 5
+ Ăng-ghen: “ Hình thức thứ 3 là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp. Sở
hữu phong kiến cũng dựa vào một cộng đồng nhất định những kẻ đối lập với
cộng đồng này với tư cách là một giai cấp trực tiếp sản xuất không phài là nô
lệ như trong thế giới cổ đại mà là những người tiểu nông nô dịch”.
+ C. Mác và Ăng- ghen: “ Đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến là ở chỗ
người nông dân bị trói buộc vào ruộng đất của địa chủ và họ bị bóc lột bằng tô
và sức lao động trên miếng đất mà chủ phong kiến cho họ nhưng họ còn có
những ngày khác cũng bị lệ thuộc vào chủ”
Những ý kiến trên đã khẳng định sự ra đời của chế độ phong kiến như
một tất yếu khách quan của lịch sử. Đó là một bước phát triển của thể
chế chính trị, sự củng cố quyền lực của nhà nước với những đặc điểm
đặc trưng. Chế độ phong kiến tồn tại ở bất kì nơi nào trên thế giới ở cả
Phương Đông và Phương Tây. Tuy nhiên do điều kiện xã hội- chính trị
khác nhau nên ở mỗi khu vực, lãnh thổ, quá trình phong kiến hóa lại
diễn ra mang những đặc điểm riêng. Ở Châu Á được nhận định là khu
vực chế độ phong kiến phát triển mạnh với những đặc điểm đầy đủ nhất
theo những gì mà Mác và Ăng ghen đã khẳng định. Điều đó chứng
minh rằng ở Châu Á đã từng có thời kì hoàng kim phát triển của chế độ
phong kiến và sự hình thành của nó có ý nghĩa vô cùng to lớn cho sự
phát triển về mọi mặt.
thế giới thì ở phương Đông đặc biệt là chế độ phong kiến ở Việt Nam
còn mang những đặc điểm riêng:
- Chế độ công hữu về ruộng đất tồn tại lâu dài song song với chế độ tư
hữu về ruộng đất trên phạm vi toàn quốc. Đây là một điều dễ nhận thấy
ở Việt Nam. Ta thấy Việt Nam là một đất nước có nhiều giai cấp, tầng
lớp. Trong quá trình công hữu về tư liệu sản xuất mà đặc trưng của Việt
Page 7
Nam là công hữu ruộng đất (Việt Nam chủ yếu làm nông nghiệp) của
nhà nước phong kiến thì đồng hành cùng với nó là sự tư hữu ruộng đất
của địa chủ phong kiến và bản thân những quý tộc của nhà vua. Họ có
tiền và đầy đủ điều kiện vật chất để có thể chiếm hữu phần ruộng đất đó
về tay mình nhờ những chính sách bán đất, khai hoang ruộng đất của
nhà vua. Điều này đã hình thành nên quá trình song hành giữa tư hữu
ruộng đất cùng với công hữu ruộng đất ở Việt Nam.
- Một đặc trưng của chế độ phong kiến Việt Nam là quyền lực của nhà
vua tồn tại đồng hành cùng tính tự trị văn hóa làng. Văn hóa làng là văn
hóa của tinh thần cộng đồng, sự đúc kết những giá trị truyền thống với
sự quy chặt trong những quy ước luật lề cộng đồng mà thành viên trong
làng đặt ra. Một làng là tập hợp một số lượng thành viên nhỏ, họ sống
với nhau bằng tình nghĩa và theo “hương ước”, những nguyên tắc
chung. “ Phép vua thua lệ làng”. Tính tự trị của làng xã khá cao. Do vậy
việc quyền lực của nhà vua, chính quyền trung ương với tay xuống tận
làng xã là một điều không hề đơn giản. Thay vì nhà nước tìm cách xóa
bỏ nó thì phải học cách chung sống với văn hóa làng. Đó là một đặc
điểm khá riêng biệt của chế độ phong kiến Việt Nam.
- Chế độ tư hữu ruộng đất phát triển chậm chạp vì nhà nước ra sức bảo vệ
chế độ công hữu để bóc lột nhân dân và giữ vững địa vị mình đang có.
Nhà nước phong kiến luôn muốn bảo vệ quyền lợi cho giai cấp của
mình nên luôn muốn bảo vệ những của cải vật chất của đất nước đều
mưu đồng hóa nước ta bằng mọi cách dưới nhiều thủ đoạn khác nhau.
- Nhưng lúc này cũng tạo một điều kiện vô cùng thuận lợi để chúng ta có
thể hình thành manh nha xuất hiện dấu hiệu của chế độ phong kiến:
• Ruộng đất tập trung trong tay địa chủ phong kiến phương Bắc, bước
đầu quá trình tư hữu hóa về ruộng đất được xác lập ở nước ta mặc dù
Page 9
ruộng đất đó tập trung trong quyền sở hữu của thế lực xâm lược. Đây
là cơ sở tiền đề để hình thành sự tư hữu ruộng đất của địa chủ phong
kiến về sau này. Trên cơ sở đó nó đã làm cho sự manh nha của quá
trình tư hữu về tư liệu sản xuất. Nhưng điều quan trọng là lúc này
chúng ta chưa có quyền lực của vua và bộ máy nhà nước do lúc này
chúng ta đang bị quân phương Bắc xâm lược.
• Quan hệ bóc lột ruộng đất giữa địa chủ phương Bắc và nông dân
Việt Nam dần dần được xác lập, người nông dân phải trả cho địa chủ
bằng tô thuế hay hoa màu mà họ thu nhận được. Những mối quan hệ
đầu tiên của địa chủ với nông dân đã dần dần được phát triển trong
quá trình đó làm nền tảng bước đầu cho những mối quan hệ phụ
thuộc về sau giữa nông dân và địa chủ phong kiến.
• Sự truyền bá của Đạo Nho một hệ tư tưởng chính của chế độ phong
kiến. Đạo Nho dần dần truyền bá vào Việt Nam và ảnh hưởng khá
sâu rộng đối với những tầng lớp trí thức nội dung là những quan
điểm bảo vệ giai cấp thống trị, những mối quan hệ ràng buộc gắn
liền với tư tưởng “trung quân ái quốc”, trung thành với giai cấp
thống trị.
Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là thời kì manh nha của chế độ phong kiến, nó làm nền
tảng cho sự phát triển về sau vì trong thời kì này chưa xuất hiện một nhà nước
tự chủ với bộ máy nhà nước và những quan lại giúp việc. Ở đây vẫn chưa xuất
hiện những dấu hiệu làm nền tảng căn cốt cho sự xác lập chế độ phong kiến
mà chỉ manh nha, mơ hồ. Nhưng nó lại giữ một vai trò vô cùng quan trọng, là
Hoàn đã dùng một vị đại sư làm quốc sư. Điều đó khẳng định sự linh hoạt
trong bộ máy nhà nước, sự sáng tạo và tập quyền trong tay vua. Chính quyền
vì thế mà ngày càng được củng cố, mở rộng.
Page 11
b. Luật pháp:
- Vì đây là giai đoạn đầu phát triển những đặc điểm của chế độ phong kiến nên
nhà Ngô – Đinh – Tiền Lê chưa có pháp luật chính thức nào thành văn, chính
quyền còn sơ khai, làng xã còn mang tính tự trị cao. Điều đó cho thấy trong
giai đoạn này quá trình phong kiến hóa đã phát triển đến một mức độ nhất
định nhưng vẫn có những đặc điểm chưa được phát triển thêm. Luật pháp là
công cụ bảo vệ quyền lực tối cao của nhà nước. Nếu như luật pháp không phát
triển cũng đồng nghĩa với việc chính quyền đó chưa thực sự có quyền lực tâp
trung và những điều luật bảo về quyền lợi của giai cấp thống trị. Khoảng cách
giữa nhà vua và dân chúng còn rất gần. Nó được chứng minh qua thực tiễn
lịch sử khi nhà vua Ngô Quyền bị ám hại ngay trong cung cấm của mình.
c. Ruộng đất:
- Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê ruộng đất công nhiều, nhà nước muốn chiếm hữu
ruộng đất công để có thể dễ dàng bóc lột sức lao động của nông dân, phong
ruộng đất cho những họ hàng thân thích.
- Nhà nước quan tâm nhiều đến nông nghiệp, khuyến khích người nông dân
sản xuất.
- Ruộng đất trong nước cũng một phần được sở hữu giành cho làng xã. Nhân
dân trong làng được chia ruộng đất cùng nhau sử dụng tư liệu sản xuất là
ruộng đất để nộp thuế cho nhà nước.
- Tuy nhiên, rải rác ở quanh làng xã đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của sự tư
hữu ruộng đất làm một đặc điểm nổi bật để tiếp tục phát triển quá trình phong
kiến hóa của Việt Nam.
d. Tôn giáo – xã hội:
Page 12