Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt - Pdf 28



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--- W  X ---

LÊ THỊ KIM ĐÍNH LỊCH SỰ
TRONG HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN
TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01

văn.
Sau cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã cổ vũ, khích lệ để tôi có thể yên tâm học tập và nghiên cứu.
Một lần nữa tôi xin gởi đến tất cả lời cảm ơn chân thành và sâu
sắc nhất.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2006
Lê Thò Kim Đính
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt MỤC LỤC

DẪN NHẬP
0.1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ..................................1
0.2. Lòch sử vấn đề ..................................................................................2
0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................10
0.4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ................................11
0.5. Cấu trúc của luận văn ....................................................................12
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỰ NGÔN NGỮ VÀ HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN
1.1. Lòch sự ngôn ngữ .............................................................................15
1.1.1. Khái niệm .....................................................................................15
1.1.1.1. Khái niệm lòch sự ..........................................................................15
1.1.1.2. Vai giao tiếp .................................................................................16
1.1.2. Các phương châm lòch sự ............................................................17
1.1.3. Thể diện với lòch sự .....................................................................18

2.1.2.4. Hành động thỉnh cầu ...............................................................79
2.2. Phương thức biểu hiện lòch sự các hành động cầu khiến trong
tiếng Việt ................................................................................................... 84
2.2.1. Phương thức thể hiện trực tiếp ................................................86
2.2.1.1. Dùng thành phần mở rộng .....................................................86
2.2.1.2. Dùng từ xưng hô ......................................................................101
2.2.2. Phương thức thể hiện gián tiếp .................................................108
2.2.2.1. Dùng hình thức khẳng đònh/ phủ đònh ..................................111
2.2.2.2. Dùng hình thức nghi vấn ........................................................116
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt KẾT LUẬN .......................................................................................................127
TÀI LIỆU THAM KHẢO
..............................................................................132
PHỤ LỤC ..........................................................................................................141
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 1

DẪN NHẬP

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU


0.2.1. Trong vài chục năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ứng
xử lòch sự trong ngôn ngữ trên nhiều bình diện. Robin Lakoff (1972, 1977), Geoffery
Leech (1983), Penelop Brown & Stephen Levinson (1978, 1987), George Yule
(1977)… đã xây dựng mô hình lòch sự chung cho tất cả các ngôn ngữ và cho rằng lòch
sự là chiến lược hay là phương tiện giữ thể diện trong giao tiếp. Còn J. House (1989),
Held (1992), Blum-Kulla (1987), Maria Sifianou (1999) lại nghiên cứu đối chiếu hiện
tượng lòch sự giữa các ngôn ngữ khác nhau.
Ngoài ra, vấn đề lòch sự có liên quan đến giới tính hay lòch sự trong sự tương
tác giữa các nền văn hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu như P. Brown (1976), S.
Zimin (1981)… đề cập đến. Tuy nhiên, về mặt quan điểm, giữa các nhà nghiên cứu
trên vẫn có nhiều bất đồng khi xác đònh nội dung, phương tiện biểu hiện lòch sự hay
vai trò các nhân tố xã hội đối với sự đánh giá mức độ lòch sự của ngôn ngữ trong giao
tiếp.
Sau đây, luận văn sẽ đi vào mô tả khái quát những điểm chính trong lý thuyết
của các tác giả đã nêu trên.
R. Lakoff (1973) là người mở đầu cho việc nghiên cứu lòch sự trong ngôn ngữ.
Kế thừa và phát huy nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) trong lý thuyết hội
thoại của P. Grice, tác giả này đã mở rộng các khái niệm về quy tắc ngữ pháp
(grammatical rules) và khái niệm về tạo dựng các hình thức phù hợp với ngữ dụng
học. Từ đó, bà đã đưa ra khái niệm “lòch sự là tôn trọng nhau”. Đây chính là biện
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 3

pháp hữu hiệu để giảm bớt sự xung đột trong diễn ngôn. Theo R. Lakoff, có ba quy
tắc lòch sự trong giao tiếp:
- Không được áp đặt (Don’t impose)
- Để ngỏ sự lựa chọn (Offer optionality)

giữa người nói và người nghe, quy tắc, tôn ti, tuổi tác, mối quan hệ…. Hơn nữa, có
những loại lệnh được thiết chế xã hội cho phép trong một số hoàn cảnh nào đó nên
nó không thể bò xem là mất lòch sự. Khen là một biểu hiện lòch sự, nhưng lời khen
không đúng lúc sẽ tác động tiêu cực đến người nghe.
Có thể nói P. Brown & S. Levinson (1978 – 1987) là hai tác giả lớn và có ảnh
hưởng sâu rộng nhất trong lónh vực nghiên cứu về lòch sự. Dựa trên khái niệm “thể
diện” của E. Goffman (1972), “thể diện là hình ảnh của bản thân trước người khác”
(public self image), hai tác giả này đã xây dựng một cặp lưỡng phân quan trọng: thể
diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face). Hai loại thể diện
này bao giờ cũng nằm trong mối quan hệ đối lập nhưng thống nhất.
- Thể diện dương tính là mong muốn hình ảnh cái tôi của mình được người
khác xác nhận, bênh vực và ủng hộ.
- Thể diện âm tính là mong muốn được tự do hành động, không bò người
khác ép buộc, áp đặt.
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, có nhiều lời nói tiềm tàng nguy cơ gây mất thể
diện của chính người nói hay của người nghe. Khi ấy, lòch sự là một chiến lược nhằm
giảm thiểu mức độ “mất thể diện” cho những đối tượng tham gia giao tiếp. Theo P.
Brown & S. Levinson, có ba chiến lược lòch sự cơ bản: lòch sự dương tính (positive
politeness) là hành vi sửa đổi hướng đến thể diện dương tính của người nghe, lòch sự
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 5

âm tính (negative politeness) là hành vi sửa đổi hướng đến thể diện âm tính của
người nghe và gián tiếp là hành vi sửa đổi bằng cách tránh bộc lộ trực tiếp giá trò
ngôn trung của lời nói.
Mặc dù lý thuyết của P. Brown & S. Levinson vẫn chưa hoàn toàn thỏa đáng
khi cho rằng lòch sự là một chiến lược giao tiếp của cá nhân mà bỏ qua sự ảnh hưởng
của các chuẩn mực xã hội trong ứng xử bằng ngôn ngữ nhưng lý thuyết này vẫn được

Việt. Từ đó, tác giả đưa ra 12 chiến lược thay đổi mức lợi – thiệt cho các hành động
cầu khiến cạnh tranh và 9 chiến lược thay đổi mức lợi – thiệt cho các hành động cầu
khiến hòa đồng. Qua đó, tác giả cũng cho rằng nguyên tắc phổ niệm đồng nhất giữa
tính lòch sự và gián tiếp của các tác giả nước ngoài không phù hợp với tiếng Việt.
Dưới góc nhìn lòch sự trong sự liên quan mật thiết với văn hóa, Nguyễn Quang,
với bài viết Các chiến lược lòch sự dương tính trong tiếng Việt, đã giới thiệu chi tiết 17
chiến lược lòch sự dương tính sử dụng trong giao tiếp. Theo tác giả, tính được ưa
chuộng hơn của một hay một một số chiến lược phụ thuộc vào các thành tố giao tiếp
và các “ẩn tàng văn hóa” như các giá trò, quan niệm, đức tin và phong cách giao tiếp…
Cũng xem xét lòch sự dưới góc nhìn văn hóa, Tôn Nữ Mỹ Nhật có bài “Bước
đầu tìm hiểu các đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa trong hành vi yêu cầu của người Việt”,
Đỗ Quang Việt thì so sánh sự khác biệt trong việc sử dụng các chiến lược thỉnh cầu
của người Việt và người Pháp, còn Nguyễn Văn Độ thì đối chiếu để tìm ra những nét
tương đồng và khác biệt từ những yếu tố làm biến đổi lực ngôn trung của lời thỉnh
cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt…

0.2.3. Về vấn đề câu cầu khiến, chúng ta thấy trong lòch sử nghiên cứu tiếng Việt, câu
cầu khiến được bàn luận rất nhiều. Ở đây, chúng tôi chỉ điểm qua một số quan điểm
tiêu biểu.
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 7• Theo quan điểm ngữ pháp học truyền thống, các tác giả như Lê Văn
Lý, Bùi Đức Tònh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Diệp
Quang Ban phân loại câu theo “mục đích phát ngôn” gắn liền với các phương tiện
ngôn ngữ điển hình cấu tạo nên nó.
Trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1968), Lê Văn Lý chia câu tiếng Việt ra

tiểu loại nhỏ:
- Câu mệnh lệnh
- Câu yêu cầu
- Câu khuyên răn
- Câu dặn dò
Tuy nhiên, theo lý thuyết về hành động ngôn từ của J. Searle (1969) thì không
phải lúc nào kiểu câu cũng phù hợp với mục đích phát ngôn của người nói. Muốn xác
đònh chính xác mục đích phát ngôn ấy, người nghe phải dựa vào nhiều yếu tố không
hiện diện trong lời nói như ngữ cảnh…. Vì thế, suy cho cùng, cách phân loại câu của
các nhà nghiên cứu theo quan điểm ngữ pháp truyền thống cũng chưa hoàn toàn thỏa
đáng.

• Ngược lại các nhà nghiên cứu dụng học Việt ngữ tiêu biểu như Nguyễn
Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân… lại tiến hành phân loại câu theo hành
động ngôn trung.
Nguyễn Thiện Giáp trong Dẫn luận ngôn ngữ học (1997) đã tách biệt đơn vò
câu và đơn vò phát ngôn trước khi tiến hành phân loại chúng. Phát ngôn là biến thể
của câu trong lời nói. Khi xem xét phát ngôn dựa vào hành động ngôn trung và mục
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 9

đích giao tiếp đơn thuần của nó, tác giả này chia phát ngôn ra làm bốn tiểu loại: phát
ngôn nghi vấn, phát ngôn mệnh lệnh, phát ngôn cảm thán và phát ngôn tường thuật.
Theo tác giả, với cách phân tích này, một phát ngôn hỏi hay phát ngôn tường thuật
cũng có thể trở thành một phát ngôn cầu khiến….
Trước đó, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã có sự đổi mới khi phân
loại câu tiếng Việt. Hai tác giả này không phân loại câu theo mục đích nói mà phân
loại câu theo ngữ điệu thành câu có giọng thường, giọng hỏi và giọng biểu cảm.

hành động cầu khiến được thể hiện qua “câu cầu khiến”. Qua những công trình
nghiên cứu đó, chúng tôi cũng nhận thấy các nghiên cứu về lòch sự trên ngữ liệu tiếng
Việt, đặc biệt là trong hành động cầu khiến còn quá khiêm tốn. Vì vậy, trên cơ sở kế
thừa và phát triển các thành tựu đã có, luận văn này tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt.

0.3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, việc nghiên cứu về tính lòch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt vẫn
còn là một vấn đề khá mới mẻ và thành tựu chưa nhiều.
Như đã trình bày ở phần trên, cầu khiến là một khái niệm rộng và nó có nhiều
nét nghóa khác nhau. Cách thức thể hiện nội dung cầu khiến trong ngôn ngữ cũng vô
cùng đa dạng, phong phú. Tuỳ theo vò thế xã hội, bối cảnh và nội dung cầu khiến mà
người Việt lựa chọn cách cầu khiến phù hợp làm cho lời cầu khiến có hiệu quả cao
nhất. Đó chính là cách cầu khiến lòch sự.
Do tính phức tạp của vấn đề, do hạn chế nguồn tài liệu nghiên cứu cũng như
trình độ hiểu biết của người viết nên luận văn này chỉ tập trung miêu tả các hành
động cầu khiến và cách thể hiện lòch sự các hành động cầu khiến trong tiếng Việt sau
khi làm rõ các khái niệm liên quan đến lòch sự và hành động cầu khiến.
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 110.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
0.4.1. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu trên, luận văn này sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với đặc trưng của chuyên ngành lí luận ngôn ngữ.
Ngoài những thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như: quan sát, sưu tầm, thu thập
ngữ liệu, nhạän xét, phân loại… , luận văn chủ yếu vận dụng xuyên suốt những phương

1. Lòch sự ngôn ngữ
2. Cầu khiến và hành động cầu khiến
Chương 2 : Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt
1. Các hành động cầu khiến trong quan hệ với phép lòch sự
2. Cách biểu hiện lòch sự các hành động cầu khiến tiếng Việt
Ở chương 1, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề liên quan đến lòch sự trong ngôn
ngữ; khái niệm “cầu khiến”ø, “hành động cầu khiến” và “cầu khiến lòch sự”.
Sang chương 2, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu, phân loại các hành động cầu
khiến chủ yếu trong tiếng Việt dựa trên tính lòch sự âm tính hay dương tính, xem xét
chúng trong mối quan hệ với lòch sự rồi từ đó miêu tả cách biểu hiện lòch sự của các
hành động ấy.

Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 13

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỰ NGÔN NGỮ
VÀ HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN

Hoạt động giao tiếp xuất hiện ngay từ khi con người bắt đầu tồn tại. Trong quá
trình tồn tại và phát triển, con người đã dùng nhiều phương tiện khác nhau để thực

quan niệm của mình mà đưa ra những khái niệm khác nhau về lòch sự. Sau đây, luận
văn sẽ nêu ra một số khái niệm về lòch sự của vài tác giả tiêu biểu.
“Lòch sự là những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá nhân”
(G. Green) [8].
“Lòch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (…),
Những chiến lược lòch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận
lợi” (R. Lakoff) [8].
“Phép lòch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia giao tiếp mà chúng
ta có thể gọi là ta và người”. Cụ thể, lòch sự có chức năng “gìn giữ sự cân bằng xã
hội và quan hệ bè bạn, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối
thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta”. (G. Leech) [8].
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy quan niệm về lòch sự của P. Brown & S.
Levinson là rõ ràng hơn cả.
“Lòch sự chỉ bất cứ phương thức nào được dùng để tỏ ra lưu ý đến tình cảm
(feelings) hay là thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa
người nói và người nghe như thế nào”(P. Brown & S. Levinson).

Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 15

1.1.1.2. Vai giao tiếp
“Vai giao tiếp” là một thuật ngữ dùng để biểu hiện vò thế xã hội của những
người tham gia hội thoại. Có thể nói rằng khái niệm “vai giao tiếp” gắn liền với khái
niệm lòch sự bởi vì tính lòch sự của lời nói phụ thuộc rất nhiều vào vò thế xã hội (tuổi
tác, giới tính, cương vò xã hội) của người nói và người nghe.
Trong quan hệ vai, mỗi tham thoại có một số diễn đạt mang tính cá nhân tương
thích với vò thế xã hội của nó. Khi một cá nhân chuyển từ cương vò xã hội này sang
cương vò xã hội khác thì cá nhân đó đồng thời chuyển sang một mã giao tiếp khác

Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc trên thành sáu phương châm lòch sự như sau:
- Phương châm khéo léo (tact maxim): Giảm đến mức tối thiểu những điều
thiệt và tăng tối đa những điều lợi cho người.
- Phương châm hào hiệp (generosity maxim): Giảm đến mức tối thiểu những
điều lợi và tăng tối đa những điều thiệt cho ta.
- Phương châm tán thưởng (approbation maxim): Giảm đến mức tối thiểu
những lời chê, tăng đối đa những lời khen cho người.
- Phương châm khiêm tốn (modesty maxim): Giảm tối thiểu việc khen ta, tăng
tối đa việc chê ta.
- Phương châm tán đồng (agreement maxim): Giảm đến mức tối thiểu sự bất
đồng, tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người.
- Phương châm cảm thông (sympathy maxim): Giảm đến mức tối thiểu ác
cảm, tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người.
Phương châm khéo léo và phương châm hào hiệp được sử dụng khi thực hiện
hành động thỉnh cầu hay cam kết còn phương châm tán thưởng thường được sử dụng
trong hành vi biểu cảm.
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 17

Điểm chung giữa các phương châm khiêm tốn, tán đồng, cảm thông là sự tương
phản giảm – tăng về việc khen – chê, bất đồng – tán đồng, không thiện cảm – thiện
cảm hướng về người nói và người nghe.
Thực tế, có nhiều tình huống mà những người tham gia giao tiếp khó có thể
tuân thủ trọn vẹn tất cả các phương châm này. Trong trường hợp ấy, họ sẽ sử dụng
các chiến lược lòch sự dương tính và lòch sự âm tính (mà chúng tôi sẽ nêu ra ở phần
sau) để bảo đảm cho cuộc thoại được thành công. Ví dụ, để người nghe dễ chấp nhận
lời mời của mình, người nói thường thực hiện chiến lược “giảm tối thiểu điều thiệt và
tăng tối đa điều lợi cho mình” như “Mai cậu phải qua nhà tớ ăn tối đấy nhé, không có

và được biết rằng những nhu cầu của mình đang được người khác chia sẻ” [88, 121].
Nói cách khác, thể diện dương tính chính là nhu cầu, là mong muốn hình ảnh cái tôi
của mình được người khác xác nhận, bênh vực và ủng hộ.

1.1.3.2. Thể diện âm tính
Thể diện âm tính là “mong muốn được tự do hành động, không bò người khác áp
đặt” [88, 121]. Đó là nhu cầu “được người khác tôn trọng sự riêng tư cá nhân, quyền
tự chủ, quyền tự do hành động và từ chối” (P. Brown & S. Levinson).
Thể diện âm tính còn được gọi là thể diện “lãnh đòa của cái tôi” (theo quan
điểm của E. Goffman). Lãnh đòa này bao gồm cả lãnh đòa vật chất và lãnh đòa tinh
thần. Trong quá trình giao tiếp, người nói luôn có ý thức tôn trọng, không xâm phạm
đến “lãnh đòa của cái tôi” của người nghe. Hành động này được gọi là “giữ thể diện”.

1.1.3.3. Hành vi đe dọa thể diện
Như trên vừa nêu, trong giao tiếp người nói luôn có ý thức “giữ thể diện” cho
người khác. Thế nhưng phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm
Lòch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt 19

thương tổn đến thể diện của người khác. P. Brown & S. Levinson gọi chúng là những
hành vi đe dọa thể diện (face threatening acts). Các tác giả này đã phân chia các
hành vi đe dọa thể diện thành bốn loại sau:
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nói: tặng, biếu, hứa hẹn…
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nói: xin lỗi, thú nhận, tự
phê bình..
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nghe: ra lệnh, chỉ bảo,
khuyên răn, doạ nạt…
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nghe như: phê bình, chê

Theo P. Brown & S. Levinson, cụ thể có 10 chiến lược lòch sự âm tính như sau:
- Dùng cách nói gián tiếp: Cậu có thể cho tớ mượn một cây viết không?
- Dùng các yếu tố rào đón: Tôi biết là tôi đang làm khó cậu, nhưng cậu có
thể gởi lại tôi số tiền cậu đã mượn hôm trước không?Dạo này tôi kẹt quá.
- Tỏ rõ sự bi quan: Tôi biết là không hy vọng gì, nhưng anh thử cố giúp tôi
một lần nữa được không?
- Giảm thiểu sự áp đặt: Hình như anh không được khoẻ.
- Tỏ rõ sự kính trọng: Anh quả là một chuyên gia trong lónh vực này.
- Xin lỗi : Tôi xin lỗi vì phải làm phiền đến anh.
- Dùng phát ngôn phiếm chỉ: Đi chơi đi bà con ơi.
- Trình bày hành vi đe doạ thể diện như một quy tắc chung: Trời sáng rồi.
Dậy đi thôi.
- Sử dụng thủ pháp danh hóa: Sự từ chối của anh làm tôi buồn nhiều lắm.
- Sử dụng lối nói trắng để bày tỏ sự biết ơn của người nói đối với người
nghe: Tôi vô cùng biết ơn anh vì anh đã giúp tôi làm xong giấy tờ nhà hoặc thể hiện

Trích đoạn Hănh động khuyín răn/nhắc nhở Hănh động ra lệnh Hănh động yíu cầu Hănh động thỉnh cầu
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status