Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 so với Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là một trong những phương tiện quản lý
được cơ quan nhà nước sử dụng để tác động, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quản lý nhà nước, có giá trị bắt buộc thi hành và được bảo đảm thực hiện bằng
sức mạnh Nhà nước. Văn bản QPPL được ban hành theo quy định của Nhà nước, cụ
thể là Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996. Nhưng nhằm khắc phục những tồn tại,
hạn chế và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật ban hành văn bản
QPPL, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng ban hành văn bản QPPL,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, ngày 03/6/2008, Quốc hội Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ ba đã thông qua Luật ban hành
văn bản QPPL mới năm 2008, thay thế Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002. Bài
tiểu luận sau đây chúng em xin trình bày những điểm mới về thẩm quyền ban hành
văn bản QPPL của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 so với Luật ban hành văn
bản QPPL năm 1996 (sửa đổi năm 2002).
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1.Khái niệm văn bản QPPL.
Theo Khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 thì “Văn bản
QPPL là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban
hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử
sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh
các quan hệ xã hội”.
Dấu hiệu của văn bản QPPL gồm: văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật; do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; được ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật
quy định và được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế. Từ đó, ta có
cách định nghĩa khác về văn bản QPPL như sau: “văn bản quy phạm pháp luật là văn
bản có tính áp dụng chung, tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 so với Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002).
1.Luật BHVBQPPL 2008 đã điều chỉnh lại thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của
các chủ thể.
Theo quy định của Luật BHVBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) thì hệ
thống văn bản QPPL ở nước ta bao gồm hơn 20 loại, do nhiều cơ quan có thẩm quyền
khác nhau ban hành, mỗi cơ quan có thẩm quyền ban hành từ 2 đến 3 loại văn bản.
Theo quy định tại chương 2 Luật BHVBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002)
thì:
- Quốc hội có thẩm quyền ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết;
- Ủy ban thường vụ quốc hội có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh, Nghị quyết;
- Chủ tịch nước có thẩm quyền ban hành Lệnh, Quyết định;
- Chính phủ có thẩm quyền ban hành Nghị quyết, Nghị định;
- Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền ban hành Quyết định, Chỉ thị;
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành Quyết định,
Chỉ thị, Thông tư;
2
- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết; Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
Quyết định, Chỉ thị, Thông tư;
- Giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền với tổ chức chính trị - xã hội có thể phối hợp với nhau để ban hành Nghị
quyết, Thông tư liên tịch;
- HĐND có thẩm quyền ban hành Nghị quyết, UBND có thẩm quyền ban hành
Quyết định, Chỉ thị.
Việc quy định như trên dẫn đến tình trạng thẩm quyền ban hành văn bản QPPL
chồng chéo, nhiều cơ quan cùng ban hành một hình thức văn bản và một cơ quan
được ban hành nhiều loại văn bản. Điều này làm cho hệ thống văn bản QPPL rất phức
tạp, rối rắm, gây khó khăn cho việc quản lý, ban hành văn bản và khó đảm bảo tính
nhất quán trong các văn bản QPPL. Thậm chí nhiều văn bản được ban hành trái với

- Tòa án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội trong trường
hợp pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà
nước.
Và các cơ quan này có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL liên tịch dưới hình
thức thông tư, nghị quyết.
Còn tại khoản 11 Điều 2 Luật BHVBQPPL 2008 lại quy định thẩm quyền phối
hợp ban hành thông tư liên tịch thuộc về:
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Đây là một quy định mới hoàn toàn hợp lý khi giao thẩm quyền ban hành văn
bản QPPL liên tịch cho người đứng đầu các cơ quan bởi đây là các cơ quan tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc thủ trưởng “Thủ trưởng cơ quan quyết định độc lập và chịu
trách nhiệm về những quyết định của mình”. Việc quy định thẩm quyền ban hành văn
bản QPPL liên tịch cho người đứng đầu các cơ quan không chỉ tạo điều kiện thuận lợi,
nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan trong việc phối hợp ban hành
văn bản QPPL liên tịch mà còn góp phần rút ngắn thời gian bàn bạc, thảo luật, thông
qua văn bản QPPL liên tịch giữa các cơ quan.
Đồng thời nếu như trong Luật cũ chỉ quy định các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội để ban
hành Nghị quyết, Thông tư liên tịch thì Luật BHVBQPPL 2008 đã quy định cụ thể
thẩm quyền ban hành Nghị quyết liên tịch thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội với cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội hoặc Chính phủ với cơ quan trung ương
của tổ chức chính trị xã hội. Như vậy luật đã xác định rõ thẩm quyền phối hợp với cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội để ban hành văn bản QPPL liên tịch chỉ
thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ thay vì quy định chung là “cơ
quan nhà nước có thẩm quyền” như trước đây và cũng chỉ được ban hành một loại văn

dù Luật BHVBQPPL 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002) không quy định thẩm quyền ban
hành văn bản QPPL cho Tổng Kiểm toán Nhà nước nhưng thẩm quyền này lại được
quy định trong Nghị quyết của UBTVQH, việc Luật BHVBQPPL 2008 bổ sung thẩm
quyền ban hành văn bản QPPL cho Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ là sự pháp điểm hóa
quy định trong Nghị quyết 1053/2006/NQ-UBTVQH11 của UBTVQH, tạo nên sự
thống nhất trong hệ thống pháp luật.
4.Luật BHVBQPPL 2008 không quy định cụ thể thẩm quyền ban hành văn bản
QPPL của HĐND, UBND.
Luật BHVBQPPL 2008 chỉ xác định HĐND, UBND có thẩm quyền ban hành
văn bản QPPL chứ không nêu rõ HĐND, UBND có thẩm quyền ban hành văn bản
QPPL dưới hình thức gì mà dẫn chiếu đến quy định của Luật BHVBQPPL của
HĐND, UBND năm 2004. Còn trong Luật BHVBQPPL 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002)
nêu rõ: HĐND được ban hành Nghị quyết, còn UBND ban hành quyết định, chỉ thị.
Quy định này của Luật là phù hợp bởi thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của
HĐND, UBND đã được quy định trong một đạo luật riêng là Luật BHVBQPPL của
HĐND, UBND 2004. Luật BHVBQPPL 2008 chỉ khẳng định quyền ban hành văn bản
QPPL của cơ quan nhà nước địa phương tránh được sự trùng lặp trong quy định giữa
các văn bản.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status