Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước - Pdf 26

A.MỞ ĐẦU:
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước.
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân
luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm,theo dõi và
bảo hộ. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển với 4000 năm
lịch sử,có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ
đời này qua đời khác. Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi
trọng các phong tục, tập quán,tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó
keo sơn đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa
kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc. Bên cạnh đó có những người
đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di
chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật
phân xử hộ (đưa ra tòa) làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc
vốn có. Chính vì vậy phần lớn các vụ việc thừa kế ở Việt Nam được giải
quyết theo qui định của pháp luật.
Việt Nam đang trên bước đường hội nhập thế giới đồng thời xu hướng toàn
cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ .Vì vậy tầm quan trọng của pháp luật
ngày càng nâng cao. Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi luật pháp cho phù
hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cần thiết.
Phương pháp nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung tốt nhất cho pháp luật Việt Nam
có rất nhiều phương pháp,nhưng phương pháp chính và chủ yếu chính là
nghiên cứu, so sánh pháp luật Việt nam với pháp luật các nước trên thế giới
để tìm ra những yếu tố đặc sắc, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử,điều kiện kinh
tế-xã hội-văn hoá của nước ta từ đó có những sửa đổi,bổ sung tốt nhất để áp
dụng vào thực tiễn nước ta.
Từ những lí do nêu trên ta thấy nghiên cứu vấn đề thừa kế theo qui định của
pháp luật ở một số nước trên thế giới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
B.NỘI DUNG:
I.Vấn đề chung về thừa kế:
1.Khái niệm về thừa kế:
-Theo Từ Điển Tiếng Việt:

2.1.1. Diện thừa kế:
Theo pháp luật Việt Nam, diện những người thừa kế được dựa trên 3
mối quan hệ chính với người chết:
+ Thứ nhất, quan hệ hôn nhân: xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và
chồng.
+ Thứ hai, theo quan hệ huyết thống: Quan hệ giữa những người cùng
dòng máu (cụ với ông, bà; ông bà với cha mẹ; cha mẹ với các con; Anh chị
em ruột…)
+ Thứ ba, theo quan hệ nuôi dưỡng: xuất phát từ sự quan tâm, chăm
sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay
không có quan hệ hôn nhân (cha mẹ nhận nuôi con nuôi).
2.1.2. Hàng thừa kế:
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ
gần gủi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản
thừa kế mà người chết để lại.
Theo khoản 1 điều 678 BLDS 2005, pháp luật Việt Nam chia những
người trong diện thừa kế ra làm 3 hàng:
+ Hàng thứ nhất bao gồm: Vợ (chồng), cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
+ Hàng thứ hai bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
chị em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông
bà nội, ngoại.
+ Hàng thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú
ruột, cô ruột, gì ruột, cậu ruột; cháu ruột của người chết mà người chết là
chú, bác, cô, dì, cậu (ruột), chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội,
ngoại.
2.2. Pháp luật thừa kế của nước Nga
Ở nước Nga cũng như VN chế định về thừa kế được chia thành thừa kế theo
pháp luật và thừa kế theo di chúc.
Trước hết, ta xem xét trên phương diện thừa kế theo pháp luật.

- Hàng thừa kế thứ 6 bao gồm những thân thích bậc 5
- Hàng thừa kế thứ bảy là những người không có mối quan hệ huyết
thống với người chết là : Con riêng, bố dượng, mẹ kế.
Pháp luật Nga cũng có những qui định về trường hợp nuôi con nuôi
nhưng khác với Việt Nam, luật pháp Nga không công nhận quyền
thừa kế của con nuôi đối với cha mẹ nuôi và ngược lại (khoản 2 điều
1147).
Diện thừa kế
• theo pháp luật VN dựa trên 3 quan hệ là quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Và theo pháp luật Nga thì diện
thừa kế cũng tương tự như VN.
• Đặc biệt trong chế định thừa kế theo pháp luật của Liên Bang Nga còn
quy định về người nhận di sản (người hưởng thừa kế) là trẻ em (điều
1147) và người tàn tật (điều 1148).
2.2.2. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
• Cũng như các nước khác trên thế giới thì nước Nga cũng quy định
ngoài chế định thừa kế theo pháp luật còn có thừa kế theo di chúc.
• Giống như pháp luật VN mà cụ thể là tại điều 652 BLDS 2005 quy
định các điều kiện để 1di chúc được coi là hợp pháp. Thì pháp luật
nước Nga quy định các trường hợp di chúc hợp pháp là di chúc phải
được lập thành văn bản và phải có công chứng bởi một công chứng
viên. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì di chúc sẽ vô hiệu ( theo
điều 1124 BLDS Liên Bang Nga) trừ trường hợp bất thường quy định
tại điều 1129 (Một công dân người đang ở trong một tình huống mà rõ
ràng là đe dọa cuộc sống của mình và những người, do đức hạnh của
hoàn cảnh bất thường hiện hành) thì không cần phải theo quy định tại
điều 1124.
• Luật cũng xác định những người không được làm chứng, chứng thực
di chúc gồm có: người liên quan đến di chúc như vợ chồng, cha mẹ,
con cái của người lập di chúc; công dân mà không có năng lực dân sự

trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng giữa người thừa kế và
người để lại di sản. So với pháp luật thừa kế của Việt Nam thì diện thừa kế
được xác định trên ba cơ sở là quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng và
quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa kế và người để lại di sản, mặt khác
pháp luật Pháp quy định về diện thừa kế chủ yếu là thừa kế dựa trên quan hệ
huyết thống.
* Hàng thừa kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status