MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới 4
1.1.1. Hiện trạng các loài cá ngoại lai trên thế giới 4
1.1.2. Công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới 6
1.2. Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai ở Việt Nam 10
1.2.1. Hiện trạng các loài cá ngoại lai ở Việt Nam 10
1.2.2. Công tác quản lý các loài cá ngoại lai tại Việt Nam 12
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Địa điểm nghiên cứu 14
2.2. Thời gian nghiên cứu 14
2.3. Đối tượng nghiên cứu 14
2.4. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1. Phương pháp tiếp cận 14
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu 15
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn 18
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 31
3.2 Các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại đã gặp và đặc điểm phân
bố của chúng ở hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn (Hà Nội) 35
3.3 Thông tin chi tiết về đặc điểm sinh học và nguồn gốc của các loài cá ngoại lai
xâm hại và có nguy cơ xâm hại tại hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn 44
3.3.1 Cá rô phi đen 44
3.3.2 Cá tỳ bà lớn 46
3.3.3 Cá tỳ bà 48
3.3.4 Cá trê phi 50
3.3.6 Cá trôi Nam Mỹ 53
Hình 4 Bản đồ phân bố các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm
hại có mặt tại huyện Sóc Sơn
42
Hình 5 Cá rô phi đen Oreochromis mossambicus Peters, 1852 45
Hình 6 Cá tỳ bà lớn Pterygoplichthys pardalis Castelnau, 1855 47
Hình 7 Cá tỳ bà bé Hypostomus punctatus Valenciennes, 1840 49
Hình 8 Cá trê phi Clarias gariepinus Burchell, 1822
chụp tại huyện Mê Linh
51
Hình 9 Cá trôi Nam Mỹ Prochilodus lineatus Spix & Agassi, 1829 54
Hình 10 Cá chim trắng bụng đỏ Piaractus brachypomus Cuvier, 1818
chụp tại xã Liên Mạc huyện Mê Linh
55 PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Mẫu bảng hỏi phỏng vấn về từng loài cá ngoại lai
Phụ lục 2: Phiếu điều tra các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại
Phụ lục 3: Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT
Phụ lục 4: Ảnh thực địa tại huyện Mê Linh
Phụ lục 5: Ảnh thực địa tại huyện Sóc Sơn DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SVNLXH : Sinh vật ngoại lai xâm hại
TSVNL : Thủy sinh vật ngoại lai xâm hại
HST : Hệ sinh thái
ĐDSH : Đa dạng sinh học
GTSX : Giá trị sản xuất (tính bằng tiền)
Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, và còn nhiều sông khác
2
như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Đây là điều kiện hết sức thuận
lợi cho việc phát triển thủy sản.
Hai huyện Mê Linh, Sóc Sơn là hai huyện ngoại thành nằm phía Bắc thủ đô
Hà Nội. Với hệ thống sông, hồ và đầm khá phong phú, 2 huyện có nhiều điều kiện
thuận lợi cho các loài thủy sinh vật phát triển mạnh mẽ. Cùng nằm trong tình trạng
chung của cả nước về việc phải đối mặt với vấn nạn SVNLXH, hai huyện Mê Linh
và Sóc Sơn chứa đựng các mối đe dọa, rủi ro từ TSVNL nói chung và các loài cá
ngoại lai nói riêng ở các sông, đầm, hồ. Song cho đến nay, tại hai huyện Mê Linh và
Sóc Sơn chưa có nghiên cứu nào để kiểm kê, đánh giá các tác động của các loài cá
ngoại lai trên địa bàn hai huyện, cũng như chưa có các biện pháp quản lý các loài cá
ngoại lai phù hợp.
Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “ Kiểm kê, đánh giá các loài cá ngoại lai
xâm hại và có nguy cơ xâm hại ở hai huyện Mê Linh, Sóc Sơn (Hà Nội) và đề
xuất biện pháp quản lý” là thực sự cần thiết. Qua đề tài tôi mong muốn góp phần
nào đó trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu, tiến đến là loại bỏ và kiểm soát chặt chẽ
các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại ở 2 huyện Mê Linh và Sóc Sơn.
Đề tài có các mục tiêu và nội dung nghiên cứu như sau:
Mục tiêu:
Xác định được các loài cá ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại (theo
thông tư 22 Bộ Tài nguyên và môi trường) ở địa bàn hai huyện Mê Linh và Sóc
Sơn, đồng thời đề xuất biện pháp quản lý chúng.
Cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập danh sách và xây dựng cơ sở dữ
liệu các loài cá ngoại lai của thành phố Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung.
Nội dung:
Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội ở 2 huyện Mê
Linh và Sóc Sơn, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp.
Khảo sát hiện trạng các hệ sinh thái thủy vực chính của hai huyện.
Nhiều quốc gia có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản đã di nhập các giống loài
cá để phục vụ nhu cầu thực phẩm của người dân và phục vụ sự phát triển kinh tế
của đất nước. Đã có rất nhiều loài trở thành loài được người dân nuôi như loài bản
địa và được được phát tán ngoài thủy vực tự nhiên, và việc di nhập các đối tượng
thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống cho dân nghèo.
Ví dụ nhập cá rô phi từ Phi Châu vào các nước Đông Nam Á, Nam và Trung
Mỹ. Cá chép nhập vào nuôi ở Madagasca [18].
Những loài cá đó đến nay đã trở thành các loài cá sống tự nhiên ở đây vì chúng
thích nghi nhanh với điều kiện nơi ở mới, sinh sản được ở thuỷ vực tự nhiên [9].
5
Ở Philippines, cá rô phi đen đóng một vai trò quan trọng trong khai thác thủy
sản nội địa. Theo Baluyut, đất nước Philippines có khoảng 230.000 ha ao và hồ
chứa, đặc biệt cá rô phi đen được tìm thấy trong hầu như tất cả trong số ao hồ này.
Theo thống kê vào cuối năm 1990, cá rô phi chiếm khoảng 25 phần trăm tổng sản
lượng cá của vùng [27]. Hiện nay, cá rô phi đen là loài được nuôi làm thực phẩm
chính ở Philippines và chiếm khoảng 31 000 tấn [FAO FishStat].
Ở Thái Lan, tổ chức FAO đã thống kê và xác định có 17 loài cá ngoại lai
xâm hại, trong đó có 5 loài đã thành lập đực quần thể ngoài tự nhiên. Theo Chavalit
Vidthayanon, người dân Thái Lan tiêu thụ 28, 8 kg cá bình quân đầu người, trong
đó 41, 6% là các loài ngoại lai [28].
Campuchia là đất nước có nguồn lợi thủy sản năng suất nhất thế giới. Theo
Rainboth (1996) ước tính có khoảng 500 loài cá nước ngọt chiếm các hệ sinh thái
khác nhau [32]. Năm 1997, chương trình Thủy sản của Ủy hội sông Mekong (MRC)
đã đánh giá kiến thức địa phương trong lưu vực sông Mekong đã thống kê và cho
biết, có 15 loài cái ngoại lai đã xuất hiện phổ biến trên lưu vực sông Mekong chảy
qua Campuchia. Trong 15 loài cá ngoại lai, cá chép Ấn Độ và cá rô phi đen xuất
hiện rất nhiều, trở thành 1 trong những thực phẩm hàng ngày của người dân [33].
Vui chơi giải trí và làm cảnh
Đời sống kinh tế được nâng cao đồng thời nhu cầu vui chơi giải trí cũng
đưa ra các công ước, các nghị định, các công rình nghiên cứu về các SVNLXH
Công ước ĐDSH là một hiệp ước khung được thông qua tại Hội Nghị thượng
đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero (Brazin), có
hiệu lực từ ngày 29/12/1993. Tính đến tháng 5 năm 2009 đã có 191 quốc gia là
thành viên của Công ước này. Trong điều 8 của công ước ĐDSH có nêu rõ “Ngăn
ngừa việc đưa vào lưu hành, kiểm soát hoặc tiêu diệt các loài lạ đe dọa tới các hệ
sinh thái, môi trường sống tự nhiên hoặc các loài” [23, 42]. Theo khuyến cáo của
Công ước đa dạng sinh học, các nước nhập nội các loài mới từ nước ngoài vào
(thậm chí từ vùng này sang vùng khác ở một nước) cần phải đánh giá được tác động
lên ĐDSH và nghề nuôi cá truyền thống của địa phương để có các biện pháp phát
7
triển bền vững, đồng thời để quản lý phòng ngừa nhằm hạn chế thiệt hại, có giải
pháp tổ chức và thực hiện việc loại trừ loài xâm hại theo một quy trình quản lý
mang tính chiến lược thích hợp… [23, 42].
FAO- Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc cũng có chương
trình kiểm kê đánh giá hậu quả môi trường đối với các loài thủy sinh vật nhập nội
trong sự phát triển nuôi trồng thủy sản [43].
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra danh sách 100 loài
sinh vật ngoại lai xâm lấn gây hại cho các loài bản địa, ảnh hưởng xấu đến môi
trường và làm thiệt hại đến nền kinh tế [25]. Do vậy IUCN đã đưa ra khuyến cáo
các nước cần ngăn cấm hoặc có các hình thức bảo vệ. Trong số 100 loài này có
nhiều loài đang sinh sống ở Việt Nam [7].
Các nước khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau về mức độ tác động đến
kinh tế và môi trường tùy theo số lượng SVNLXH đã xác lập được quần thể ngoài
tự nhiên. Các nước có ĐDSH ở mức cao đều đã điều tra, đánh giá tác động của các
loài cá nhập nội ảnh hưởng đến ĐDSH và nghề nuôi truyền thống một cách đầy đủ
và toàn diện, đồng thời có sự cập nhật thường xuyên các số liệu.
Khu vực Châu Úc – Thái Bình Dương: Do sinh vật ngoại lai xâm lấn đã làm
tuyệt chủng một số loài sinh vật bản địa, do đó khu vực này đã đề xuất các giải pháp
gia và khu vực về SVNLXH.
Khu vực châu Á: Các nước trong khu vực châu Á đang đẩy mạnh công tác
quản lý SVNLXH. Các quốc gia tăng cường đẩy mạnh công tác quản lý ngay từ
khâu nhập khẩu, chú trọng việc ngăn chặn, đồng thời phối hợp với các quốc gia
khác trao đổi, chia sẻ thông tin.
Ở Nhật Bản việc quản lý các loài nhập nội do Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhật Bản quản lý. Hàng năm, Bộ đều cấp kinh phí cho các trường Đại học có
nghiên cứu quản lý các đối tượng thuỷ sinh vật nhập nội nói chung, các loài cá nhập
nội nói riêng từ đó cập nhật danh sách các loài nhập nội mới và đưa ra các hình thức
quản lý phù hợp [9].
9
Chính phủ Indonesia đã công bố danh sách các loài sinh vật ngoại lai có tác
động tiêu cực tới kinh tế và môi trường gồm 11 loài thực vật, 2 loài côn trùng, 1 loài
động vật không xương sống và 9 loài cá, đồng thời vẫn cho phép các công ty nhập
khẩu thuỷ sinh vật với mục đích khác nhau nhưng phải được kiểm tra, giám sát chặt
chẽ của các cơ quan chức năng. Ngoài ra Chính phủ còn thành lập nhóm công tác về
Môi trường do Bộ Môi trường điều phối cùng Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp, Bộ
Thuỷ sản để thảo ra một văn bản điều chỉnh các vấn đề về sinh vật lạ. Họ đã xây
dựng chiến lược với mục tiêu: ngăn chặn các sinh vật ngoại lai có biểu hiện xâm lấn
các loài bản địa; có sự đánh giá rủi ro về môi trường; kiểm soát hoặc giảm thiểu loài
ngoại lai xâm nhập; xây dựng cơ sở dữ liệu về các sinh vật ngoại lai xâm nhập;
đồng thời yêu cầu các vấn đề kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm nhập phải được xây
dựng trên cơ sở pháp lý phân tích rủi ro và hệ thống chứng nhận [9].
Chính phủ Philippin đã đưa ra được danh sách các loài sinh vật nhập nội ảnh
hưởng tiêu cực tới các hệ sinh thái, bao gồm 10 loài thực vật trên cạn, 9 loài động
vật không xương sống ở cạn, 2 loài thực vật thủy sinh và 9 loài động vật thủy sinh.
Họ đã thành lập được mạng lưới quản lý các sinh vật ngoại lai của Chính phủ bao
gồm các cơ quan: Cục Môi trường & Tài nguyên thiên nhiên, Cục Nông nghiệp,
Cục Du lịch, Cục Thương mại & Công nghiệp, Cục Ngoại giao [35].
2 loài trở lên sẽ bị phạt tù đến 6 tháng. Chính phủđã vận động người dân phóng sinh
những loài cá bản địa ra vực nước tự nhiên [9].
1.2. Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai ở Việt Nam
1.2.1. Hiện trạng các loài các loài cá ngoại lai ở Việt Nam
Việt Nam được biết là một quốc gia phong phú, đa dạng về nguồn gen, thành
phần loài và các hệ sinh thái nhưng kém bền vững trước sự thay đổi, tác động của
các yếu tố môi trường. Và một trong những nguyên nhân đó là sự du nhập của các
loài SVNLXH. SVNLXH có thể xâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường
như nhập khẩu có chủ đích phục vụ công tác nuôi, trồng, sản xuất, kinh doanh hoặc
du nhập theo con đường tự nhiên và không chủ đích của con người.
11
Việt Nam đã nhập rất nhiều loài cá ngoại lai như cá trắm cỏ, cá rô phi đen, cá
tỳ bà, cá chép các dòng… để phục vụ cho công tác vui chơi giải trí, làm cảnh, sản
xuất lương thực thực phẩm… Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân, một số loài đã thoát
khỏi ra môi trường tự nhiên và trở thành mối đe dọa có thể phá vỡ hệ sinh thái các
thủy vực bản địa.
Trong quá trình hội nhập, việc tìm kiếm giống loài cá có giá trị kinh tế, giải
trí và mục đích thương mại khác đã được các cơ quan nghiên cứu, các nhà doanh
nghiệp quan tâm, trong đó nhiều loài cá nhập nội đã có giá trị kinh tế và trở thành
đối tượng nuôi quan trọng như: cá trắm cỏ, cá mè hoa, cá rôhu, cá mrigan; nhưng
cũng có nhiều đối tượng nhập nội chưa được thống kê đánh giá tác động tới
ĐDSH và nguồn lợi thuỷ sản. Theo Lê Thanh Lựu và Nguyễn Văn Thanh, hiện
nay các loài cá ngoại lai chiếm ưu thế trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt,
chúng đã đóng góp hơn 50% tổng sản phẩm nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt
Nam [29].
Theo kết quả nghiên cứu của Cục Bảo vệ Môi trường - Bộ Tài nguyên và
Môi trường thì: trong hơn 50 năm qua, đã có 20 loài cá nước ngọt đã nhập vào Việt
Nam từ 12 nước trên thế giới và 12 loài cá nước lợ được nhập từ 7 nước trên thế
giới. Ngoài ra, Việt Nam còn nhập nhiều loài cá cảnh với mục đích nghiên cứu hoặc
tổ chức thực hiện Công ước này. Cục Bảo vệ môi trường- Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã có nhiều đề tài cấp quốc gia về các vấn đề xung quanh sinh vật ngại lai
xâm hại, đồng thời phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Môi trường- Đại
học Quốc gia in ấn, phát hành tờ rơi giới thiệu về các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn
có mặt tại Việt Nam
Ngày 13/11/2008, Việt Nam ban hành Luật đa dạng sinh học, giao cho hai cơ
quan quản lý, kiểm tra, giám sát và tổ chức cô lập tiêu diệt các loài ngoại lai xâm
hại tại các địa phương trên cả nước là Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn [16].
Cá ngoại lai được nhập nội với nhiều mục đích khác nhau. Theo luật Thủy
sản (2003), cho phép các cá nhân nhập các loài thủy sản mới về Việt Nam nhưng
phải qua kiểm tra, khảo nghiệm. Nghiêm cấm nhập những loài thuộc danh mục
13
không được phép nhập phát tán tại Việt Nam [15]. Những loài này thường nhập
theo đường chính ngạch có sự kiểm tra, cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền.
Thành phố Hà Nội là địa phương có ĐDSH cao, có 15 hệ sinh thái với nhiều
loài động – thực vật bản địa và các loài có nguồn gốc ngoại lai phong phú, đa dạng.
Đặc biệt, có loài ngoại lai đã phát tán và hình thành được quần thể ngoài tự nhiên,
gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, kinh tế và nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Cơ
quan quản lý về các vấn đề xung quanh sinh vật ngoại lai là Sở Tài nguyên và Môi
trường thành phố Hà Nội và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà
Nội. Hai đơn vị đã có nhiều đề tài cấp thành phố về sinh vật ngoại lai, đồng thời đã
tổ chức tuyên truyền văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý sinh vật ngoại lai
cho các quận, huyện.
Hiện nay, hai huyện Sóc Sơn và Mê Linh chưa được kiểm kê và đánh giá các
loài cá ngoại lai. Tuy nhiên, hiện nay, Cục Bảo vệ Môi trường - Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã và đang phối hợp với một số cơ quan liên quan tiến hành các hoạt
động nghiên cứu, điều tra, khảo sát ban đầu về sự phân bố các loài sinh vật ngoại lai
và các tác động của chúng đối với môi trường đối với các huyện trên địa bàn thành
tạp, từ thông tin tổng quát đến các loài cụ thể. Các câu trả lời định tính cho bản câu
hỏi của cuộc điều tra thường không đủ chất lượng cần thiết để đưa vào mô hình
15
thống kê. Mặt khác các câu hỏi không phải lúc nào cũng dễ hiểu, người được phỏng
vấn không phải lúc nào cũng biết đưa câu trả lời cần thiết và tinh thần cuộc điều tra,
bản chất của việc đặt câu hỏi không phải lúc nào cũng được lĩnh hội.
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng,
tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin trong đó người dân địa
phương tham gia ở 3 mức độ. Các phương pháp đánh giá nông thôn sẽ được sử
dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu. Các phương pháp này giúp thu thập
được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có
thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như phát triển các loài cá hay
cần có các giải pháp quản lí, bảo vệ và ngăn ngừa.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này có sự kết hợp các
phương pháp nghiên cứu trong ngư loại học, xã hội học, nuôi trồng thủy sản, kinh tế
học…
a) Phương pháp kế thừa
Tập hợp số liệu về thành phần loài được nghiên cứu từ các đề tài, dự án, từ
các chuyến điều tra thực hiện ở các vùng khác nhau của Việt Nam và các tài liệu,
báo cáo khoa học liên quan đến các loài cá ngoại lai nói riêng và các loài TSVNL
nói chung. Ngoài ra còn kế thừa số liệu báo cáo về kinh tế - xã hội địa phương. Bên
cạnh đó cần tham khảo các thông tin từ các website
b) Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát phỏng vấn người dân
Khảo sát các cán bộ ở phòng kinh tế huyện và các cán bộ của các hợp tác xã
ở hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn, kết hợp với điều tra thu mẫu và phỏng vấn người
dân tại hai huyện trên.
Loài cá nhập nội được phỏng vấn chỉ tập trung vào các loài được phát tán
o
hoặc formalin 8-10%.
Về phương pháp đánh bắt có hai nhóm chính
Nhóm đánh bắt chủ động gồm:
Lưới động kéo bằng sức người, quăng chài với các kích cỡ khác nhau hoặc
dùng vợt.
Nhóm đánh bắt thụ động gồm:
Thả lưới tĩnh, đặt bẫy (đó, lờ ), …
17
Nguyên tắc thu mẫu:
Mẫu vật thu được phải nguyên vẹn. Ngoài việc trực tiếp đánh bắt, tiêu bản cá
còn được thu thập từ một số nguồn khác như thu thập tiêu bản từ các ngư dân, dân
địa phương, các chợ tại khu vực thu mẫu. Tuy nhiên, trong trường hợp này phải thu
thập đầy đủ các thông tin về tiêu bản như địa điểm bắt, môi trường sống…
Xử lý và bảo quản mẫu:
Các mẫu được bảo quản trong formalin 8-10% hoặc cồn êtylic 76
o
[12].
c) Phương pháp chuyên gia
Lĩnh vực cá ngoại lai xâm hại là lĩnh vực mới nên để nhận biết và hiểu rõ các
loài, do vậy không thể không tham vấn các chuyên gia là các cán bộ khoa học về
phân loại học, sinh học, sinh thái học cá.
18
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội hai huyện Mê Linh và Sóc Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Huyện Mê Linh
Địa giới
Bệnh viện
Đường đê
Đường tỉnh lộ
Di tích lịch sử
Sông Đường quốc lộ Đường sắt
Bến cảng
: Nghĩa trang
Chùa
Hình 1: Bản đồ huyện Mê Linh