Thực hiến kế hoạch kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho giáo
viên theo Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
Để nhằm bổ trợ kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy môn
Ngữ văn cho giáo viên, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn tài
liệu phục vụ chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên
Ngữ văn cấp THPT(thời lượng 30 tiết), tài liệu gồm các chuyên đề
sau:
1. Đặc trưng của thơ và phương pháp đọc hiểu tác phẩm thơ
trong nhà trường.
2. Cách tiếp cận nhân vật trong tác phẩm tự sự
3. Đề mở- một hình thức đổi mới cách ra đề môn Ngữ văn ở
trường THPT
Trong quá trình biên soạn, mặc dầu đã có nhiều cố gắng song
không tránh khỏi những thiếu sót, về nội dung cũng như hình thức.
Trong quá trình nghiên cứu, học tập rất mong các thầy, cô giáo, đồng
nghiệp chỉ ra những hạn chế, góp ý kiến bổ ích để nội dung tài liệu
ngày càng được hoàn thiên hơn. Xin chân thành cảm ơn!
1
!"##$%
&'#
()*+, /0*123,(4.
56789:,;**<=>?0@7A*B/C<
5656+,;**<=>?DE78
Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm
khác nhau về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được
tất cả mọi đặc trưng của thể loại này. Quan niệm dưới đây của nhóm
tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy
3
+ Thơ trữ tình trung đại: do đặc điểm hệ tư tưởng thời đại mà
thơ ở thời đại này thường nặng tính tượng trưng, ước lệ, tính quy
phạm và tính phi ngã. Chủ thể trữ tình trong thơ trung đại thường là
cái tôi đại chúng, cái tôi “siêu cá thể”. Nội dung thơ trữ tình trung đại
thường nặng về tỏ chí và truyền tải đạo lí.
J Thơ trữ tình hiện đại: thuộc loại hình Thơ mới, xuất hiện từ
đầu thế kỷ XX và phát triển cho đến ngày nay. Do nhu cầu đề cao
mạnh mẽ của của thi sĩ, nên màu sắc cá thể của cảm xúc in
đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, các biện pháp tu từ
hay ngữ điệu, giọng điệu. Lời thơ thường linh hoạt, uyển chuyển hơn
so với thơ cũ.
Ở nước ta lâu nay vẫn còn tồn tại quan niệm dựa vào nội dung
để chia thơ thành các loại: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng, thơ
cách mạng (có nội dung tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu bảo
vệ đất nước)
Nhìn chung, mọi cách phân chia trên đây đều mang tính chất
tương đối. Bởi thơ nào mà chẳng trữ tình, dù ít dù nhiều loại thơ nào
cũng theo thi luật nhất định (theo đặc trưng của thơ, của ngôn ngữ,
dung lượng,…). Mặt khác, những bài thơ trữ tình biểu lộ tình cảm
trước thiên nhiên đất trời, giang sơn gấm vóc cũng là một “kênh” thể
hiện lòng yêu nước,… Tuy vậy, việc phân chia thơ thành các loại
khác nhau là cần thiết, phục vụ cho việc nghiên cứu, đọc – hiểu và
thẩm bình tác phẩm một cách thuận lợi hơn.
G6K.E(L*M.N;E78
4
Để tạo cơ sở khoa học cho việc đọc – hiểu, thẩm bình thơ,
chúng tôi xin được tổng hợp và đúc rút ra một số điểm đặc trưng của
thể loại này như sau:
- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ
/7B*3@<A&.*1!@3)**;*C&A
-*D.*.81&.@A0>*
3B!. Một miếng trầu đem mời, một cái bánh trôi nước, một tiếng
gà gáy canh khuya có thể là những sự kiện gây cảm xúc cho Hồ Xuân
Hương; sự kiện Dương Khuê qua đời trong "Khóc Dương Khuê"
(Nguyễn Khuyến); cuộc đời tài hoa mệnh bạc của nàng Tiểu Thanh
trong "Độc Tiểu Thanh kí" (Nguyễn Du),…
- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác
(tự sự, kịch). Hệ quả là .8A1*EF0**3
( =G2H8A =
A2=I%2=A2"B Nhiều khi, cảm xúc
vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý
tại ngôn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thực
hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc
6
phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng
như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
- Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người
và cuộc sống khách quan. Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm
của thơ có được còn do 2.*@F2.
1.?A. J(-I%2.A(0&, K
(, @LIMAN&.*@6-*.&O2B*
@-0:. Bàn về đặc điểm này, nhà thơ Sóng Hồng viết: PThơ là
một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình
cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là có tình
cảm, lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm
và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời
thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường ".
- Về cấu trúc, *Q8.&.*3BF H8A. Sự
sắp xếp các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức
7C>Mab/
P2,.),.7,*M9
1 Cảm nhận được vẻ đẹp của con người thời Trần, người anh hùng vệ
quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao; vẻ đẹp
của thời đại và khí thế hào hùng.
1Thấy được nghệ thuật của bài thơ: ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao.
8
- Bồi dưỡng nhân cách, lí tưởng, lòng yêu nước và tự hào dân tộc
V*77LW*ME<X@.Y*9
Thời đại anh hùng sản sinh ra những con người anh hùng. Thời
Trần đã hun đúc nên những nhân vật kì vĩ, danh tướng Phạm Ngũ Lão
là sản phẩm của hào khí Đông A. Ông vốn xuất thân từ tầng lớp bình
dân. Tài năng cùng với lí tưởng yêu nước sáng ngời đã tạo nên mọt
con người ưu tú trong lịch sử: Phạm Ngũ Lão văn võ toàn tài.
"Tài võ" của ông đem hiến dâng cho sự nghiệp cứu nước. "Tài
văn" dùng để làm thơ bày tỏ nỗi lòng của mình với bè bạn, với hậu
thế và trước hết là tự nói với mình về ý thức trách nhiệm thiêng liêng,
nghĩa vụ cao cả với Tổ quốc yêu quý. O&%7&."/0
*3*!54"+R"/B!2G
5*STU(0*!54.
Cần bám sát những đặc trưng của thơ trữ tình trung đại để đọc
hiểu bài thơ, như :
- Thể thơ : Bám vào đặc điểm kết cấu của thơ Đường luật (thất
ngôn tứ tuyệt), thường gặp nhất có bài gồm một giải hoặc hai giải:
tiền giải và hậu giải để chia bố cục của bài thơ làm 2 phần: phần 1
(thường là sự việc, câu chuyện, cảnh vật):Vẻ đẹp của con người và
thời đại nhà Trần, phần 2 (thường là cảm nghĩ của tác giả): Nỗi lòng
của tác giả.
- Ngôn ngữ: Văn học trung đại thiên về xây dựng những kiến
trúc ngôn từ vững chãi, hàm súc, được viết bằng chữ Hán hoặc chữ
Ngũ Lão. Chủ thể trữ tình rõ ràng là Phạm mà không chỉ có Phạm. Đó
là một con người vừa cá thể , vừa tổng hợp, vừa phổ quát, có khả
năng gây đồng cảm mạnh mẽ.
- Thơ trữ tình trung đại thiên về biểu hiện tâm sự, chí hướng, lý
tưởng của nhà thơ vì thế cần khai thác tâm sự, chí hướng, lý tưởng,
nhân cách của tác giả được thể hiện trong bài thơ. Ngay nhan đề
"Thuật hoài" cũng đã thể hiện rõ ý" kể ra cái chí hướng hoài bão của
mình". "Thuật hoài " - (Tỏ lòng ) là cái chí, cái tâm của người anh
hùng. Chí được nói tới là chí làm trai để trả món nợ công danh, trả nợ
công danh là phải hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước.
Còn cái tâm của người anh hùng được thể hiện qua nỗi "thẹn", Phạm
Ngũ Lão "thẹn" vì chưa có được tài mưu lược lớn như Vũ Hầu - Gia
Cát Lượng để trừ giặc, cứu nước, đó là cái thẹn có ý nghĩa nâng tầm
nhân cách.
c
_d,A*<=,`
P2,.),.7,*M9
- Cảm nhận được lòng yêu đời, yêu sống mãnh liệt, quan niệm
mới về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc của thi sĩ Xuân Diệu.
- Thấy được sự kết hợp giữa mạch cảm xúc dào dạt và mạch lí
luận trong bài thơ, những sáng tạo trong nghệ thuật biểu hiện.
- Biết quý trọng thời gian, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống, góp phần
làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp.
11
V*77LW*ME<X@.Y*9
Cái mới của Thơ mới là dám coi cái tôi cá nhân như một quan
điểm một tư cách để nhìn đời và nói với mọi người. Sự thức tỉnh về ý
thức cá nhân đòi hỏi thơ lấy cái tôi, cái cá nhân làm đề tài, thậm chí
làm trung tâm. Thơ mới thể hiện khát vọng "được thành thực" để giãi
bày mọi cảm xúc, tâm tư "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần
*# *+
Nhạc điệu trong bài thơ được quy định bởi cách ngắt nhịp các
câu thơ, thường nhịp điệu trong câu thơ tám chữ ngắt theo nhịp phổ
biến 3/3/2 nhưng ở đây tác giả dùng cách linh hoạt: \0!"`.!
-!`<F@ (3/2/3); có khi là 5/5: \"*a*2
C!@. Tạo ra nhịp điệu sôi nổi, chuyển tải được một
tâm hồn say sưa chếnh choáng
Hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, động từ chỉ động thái đắm
say, danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân tươi trẻ tạo ra hình ảnh tình tứ,
quyến rũ: 8K**b2*-! /&G2 >2O
?2*a*2@, 2E- D…
Bài thơ là tiếng nói sôi nổi, hăm hở của một tâm hồn yêu đời,
yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt. Đồng thời thể hiện một cái nhìn mới
mẻ về cuộc sống, Xuân Diệu đã nhìn đời bằng "cặp mắt xanh non,
biếc rờn" nên cuộc sống hiện lên tràn đầy xuân sắc, xuân tình, như
một thiên đường trên mặt đất này. Xuân Diệu đã hoà lẫn cái tôi của
13
mình vào cuộc đời trần thế với một niềm khát khao giao cảm mãnh
liệt. Mặt khác, bài thơ cũng thể hiện những quan niệm nhân sinh hết
sức mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc: Đời người ngắn ngủi,
hữu hạn, tuổi trẻ là phần đẹp đẽ quý giá nhất của đời người. Vậy nên
cần sống "vội vàng " từng giây, từng phút, tận hiến và tận hưởng cuộc
sống này. "Vội vàng" là tâm thế sống, cũng là triết lý sống của thi sĩ.
eP
+,;*Ma*M
P2,.),.7,*M9
- Cảm nhận được nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ về :
+ Con đường Tây Tiến dữ dội, hùng vĩ mà thơ mộng, mĩ lệ một
thời.
+ Hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và đậm
khắc nghiệt, hoang sơ, hùng vĩ ("Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm
thẳm", "Heo hút cồn mây", "Chiều chiều oai linh thác gầm thét - Đêm
đêm Mường Hịch cọp trêu người", " Sông Mã gầm lên khúc độc
hành"). Bên cạnh đó lại có những hình ảnh thiên nhiên đầy thơ mộng,
ẩn hiện trong sương khói, trong màn mưa, đong đưa bóng hoa, ("Sài
Khao sương lấp đoàn quân mỏi", "Mường Lát hoa về trong đêm hơi",
"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi", "Châu Mộc chiều sương", "hồn lau
nẻo bến bờ", "dòng nước lũ hoa đong đưa"). Hình ảnh con người
cũng hiện ra với nhiều sắc thái, mà chủ yếu là hào hùng và hào hoa.
Hào hùng ở ý chí hiên ngang, vượt lên và coi thường những gian khổ,
15
thiếu thốn, hi sinh. Còn hào hoa là ở tâm hồn nhạy cảm trước thiên
nhiên, đằm thắm tình người và cả những khát khao, mơ mộng.
Đặc sắc trong ngôn ngữ của Tây Tiến là sự phối hợp, hòa trộn
của nhiều sắc thái phong cách với những lớp từ vựng đặc trưng. Có
thứ ngôn ngữ trang trọng, có màu sắc cổ kính. Lại có lớp từ ngữ
thông tục, sinh động của lời ăn tiếng nói hàng ngày, in đậm phong
cách người lính: nhớ chơi vơi, súng ngửi trời, anh bạn, bỏ quên đời,
cọp trêu người
Những kết hợp từ độc đáo, mới lạ, tạo nghĩa mới hoặc sắc thái
mới cho từ ngữ ( ví dụ: 425*2@FL2*E
<2c\-*ad*2 2I<>*2>B )
Sử dụng địa danh cũng là một nét chú ý trong ngôn ngữ của bài
thơ. Các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức
tranh thiên nhiên và đời sống con người, lại vừa gợi được sự hấp dẫn
của xứ la, phương xa.
Về giọng điệu: Cả bài thơ bao trùm là nỗi nhớ với nhiều trạng
thái cảm xúc khác nhau. Ở đoạn 1, giọng chủ đạo là giọng tha thiết,
bồi hồi được cất lên thành những tiếng gọi, những từ cảm thán. Ở
đoạn 2, khi tái hiện kỉ niệm về những đêm liên hoan thắm tình quân
Hoàng Cầm ). Đến giai đoạn chống đế quốc Mĩ, tư tưởng Đất nước
của Nhân dân một lần nữa được nhận thức sâu sắc thêm bởi vai trò và
17
những đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc
chiến tranh dài lâu và cực kỳ ác liệt này.
Tư tưởng ấy được các nhà thơ lớp trẻ thời chống Mĩ cứu nước
phát biểu một cách thấm thía qua sự trải nghiệm của chính mình như
những thành viên của nhân dân, cùng chia sẻ mọi gian lao, hi sinh và
được sự chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân ZB*X*
của Nguyễn Duy, trường ca ,48 của Thanh Thảo,
e4.(# của Hữu Thỉnh đều tập trung nói về gương mặt
của những người con bình thường, vô danh trong nhân dân). eB
,4 của Nguyễn Khoa Điềm góp thêm một thành công trong dòng
thơ về đất nước thời chống Mĩ cứu nước, làm sâu sắc thêm nhận thức
về đất nước: dung dị, đời thường, thậm chí có phần lam lũ nhưng
không kém phần cao cả. Đất Nước được nhìn nhận trên nhiều bình
diện : địa lí, lịch sử, văn hóa…Ở mỗi bình diện, dường như Nguyễn
Khoa Điềm đều có những phát hiện mới, cách nói mới về Đất Nước.
Thành công của đoạn trích eB,4 của Nguyễn Khoa Điềm ở
việc tạo ra một không khí, giọng điệu, một không gian nghệ thuật
riêng đưa ta vào thế giới gần gũi, mĩ lệ và bay bổng của ca dao,
truyền thuyết, của văn hóa dân gian nhưng lại mới mẻ, qua cách cảm
nhận và tư duy hiện đại với hình thức câu thơ tự do. Đó chính là
nét thẩm mĩ, thống nhất với tư tưởng " eB,40,-I-2eB
,40I?i+
Chất liệu dân gian được sử dụng rất đa dạng và sáng tạo. Có
phong tục, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (*"; /
84@j<kj32??E!, C22@.2%2
18
F, ). Có ca dao, dân ca, tục ngữ. Có truyền thuyết Hùng
được nói lên bằng những mệnh đề khô khan, mà qua những hình
ảnh thơ và những cảm xúc của chủ thể trữ tình.
20
jej &'klk
7;*,=7<17,h2*
56'HEI-?m*QDBnE7,hXE
56560<*oE?DE4.@7T>EpIp
Trong một số công trình Tự sự học (Narratology), thuật ngữ “tự
sự” (Narration) được dịch là “trần thuật”. Theo đó nhiều người đã gọi
“tác phẩm tự sự” là “tác phẩm trần thuật”. Cả hai thuật ngữ này đều
chỉ cùng một nội dung: tác phẩm có cốt truyện, có người kể chuyện.
Chúng ta cần xác định rõ hơn về vấn đề này. Cụ thể, “tự sự” là
phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ
tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học; còn
“trần thuật” là hành động diễn ngôn tự sự được thực hiện bởi một
(hoặc nhiều) người kể chuyện giữ vai trò trung gian giữa người sáng
tác với những chuyện được kể trong tác phẩm.
21
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận
chủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ
tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức
tranh mở rộng của đời sống trong không gian và thời gian, qua các sự
kiện, biến cố xẩy ra trong cuộc đời con người. Phương thức phản ánh
hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho tác
phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một sự kiện nào
đó. Cho nên, tác phẩm tự sự thường có cốt truyện. Gắn liền với cốt
truyện là hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đặn hơn hẳn nhân vật
trong tác phẩm trữ tình và kịch.
Những đặc điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại
văn học có khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của con
nhân vật chính đồng thời là nhân vật tích cực, chính diện và ngược
lại. Tuy nhiên, đối với văn học hiện đại, sự phân chia nhân vật trong
tác phẩm không rõ ràng, rạch ròi như văn học cổ điển, có nhân vật
vừa ác vừa thiện, vừa hiền vừa dữ…
23
1.2.2. Nhân vật trong tác phẩm tự sự
Nhân vật trong tác phẩm tự sự bao gồm:
- Con người là đối tượng phổ biến và bao trùm nhất.
- Vật: Loài vật, đồ vật, tạo vật thường được mô tả theo hai kiểu:
Kiểu ngụ ngôn (phổ biến trong văn học dân gian, được nhân cách hóa
hoặc người đội lốt vật); kiểu hiện thực (vẫn được miêu tả là đồ vật,
loài vật nhưng có vai trò quan trọng trong tác phẩm như con chó vàng
(oC? - Nam Cao), con chó becgie (e *K - Nam Cao), Khoang
đen (l5Gm - Nguyễn Minh Châu)…
Nhưng dù nhà văn viết về loài vật, đồ vật nhưng đều miêu tả
theo qui luật của con người. Miêu tả đồ vật, loài vật không phải vì
bản thân đối tượng mà là vì con người. Nói cách khác, con người
được miêu tả gián tiếp qua đó.
Tầm quan trọng của việc tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sự
được xác định dựa vào vai trò của nhân vật trong tác phẩm:
- Nhân vật khái quát tính cách của con người, khái quát hóa
cuộc sống, hiện thực được cô đặc lại, thu nhỏ lại trong cuộc sống của
một nhân vật giống như qua một giọt nước thấy cả đại dương, qua số
phận của một nhân vật có thể thấy được cả một lớp người, một thời
đại, một xã hội. Đó chính là vai trò phản ánh.
- Nhân vật là yếu tố hết sức quan trọng truyền tải tư tưởng của
tác giả. Qua nhân vật, tác giả gửi gắm những tư tưởng, những thông
điệp thẩm mỹ tới người đọc. Đó chính là vai trò tư tưởng.
24
- Nhân vật tạo nên tính thuyết phục cho tác phẩm, khiến người