BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN HUY THÀNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SAU DỒN
ĐIỀN ĐỔI THỬA PHỤC VỤ HIỆN ĐẠI HÓA SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60 85 01 03
Trần Huy Thành Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy,
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Toàn, là người
trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Văn phòng UBND tỉnh Nam Định, Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Nam Định, UBND huyện Hải Hậu, Phòng Tài nguyên và Môi
trường và phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Hải Hậu và UBND xã
Hải Hưng, Hải Thanh, Hải Cường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy
1.1.4. Quy hoạch thiết kế đồng ruộng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông
nghiệp tại khu vực đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH): 8
1.2. Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở trong và ngoài nước 8
1.2.1. Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở nước ngoài 8
1.2.2. Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam: 12
1.2.3. Tình hình nghiên cứu hiệu quả dồn điền đổi thửa ở tỉnh Nam Định: 22
1.3. Hiệu quả sử dụng đất: 24
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: 28
1.4.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên: 28
1.4.2. Yếu tố về kinh tế - xã hội: 30
1.4.3. Yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật: 31
1.5. Nhận xét rút ra từ tổng quan: 32
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 33
2.2. Phạm vi nghiên cứu: 33
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.3. Nội dung nghiên cứu: 34
2.3.1. Nghiên cứu đánh giá một số điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện Hải Hậu liên quan đến sử dụng đất: 34
2.3.2. Hiện trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa của
huyện Hải Hậu. 34
2.3.3. Đánh giá những tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông
nghiệp tại 3 xã nghiên cứu. 34
2.3.4. Đánh giá những vấn đề phát sinh sau dồn điền đổi thửa trong mối
quan hệ với hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp: 35
2.3.5. Đề xuất một số giải pháp sau dồn điền đổi thửa phục vụ hiện đại hóa
sản xuất nông nghiệp. 35
2.4. Phương pháp nghiên cứu: 35
trang trại: 65
3.4. Đánh giá những vấn đề phát sinh sau dồn điền đổi thửa trong mối
quan hệ với hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp: 67
3.4.1. Vấn đề lao động việc làm: 67
3.4.2. Nhu cầu hình thành vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn, nhu cầu
liên kết mới trong sản xuất: 67
3.4.3. Nhu cầu tích tụ đất đai : 70
3.4.4. Công tác quản lý nhà nước về đất đai: 70
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo
hướng hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện dồn điền
đổi thửa: 71
3.5.1. Giải pháp về tổ chức sản xuất: 71
3.5.2. Giải pháp về vốn đầu tư: 73
3.5.3. Giải pháp về chuyển dịch lao động nông nghiệp: 75
3.5.4. Giải pháp về hoàn thiện hồ sơ địa chính: 76
3.5.5. Giải pháp về thúc đẩy thị trường đất nông nghiệp: 79
KẾT VÀ KIẾN NGHỊ
80
1. Kết luận: 80
2. Đề nghị: 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực 48
Hình 3.5: Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu đất đai tại Nam Định 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
BCĐ : Ban chỉ đạo
BCH : Ban chấp hành
CHN : Cây hàng năm
CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hoá
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
DT : Diện tích
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GO : Giá trị sản xuất
HTX
HTXNN DV
: Hợp tác xã
: Hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ
IC : Chi phí trung gian
KTCTTL : Khai thác công trình thủy lợi
MI : Thu nhập hỗn hợp
NN : Nông nghiệp
NTTS : Nuôi trồng thuỷ sản
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Uỷ ban nhân dân
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
VA : Giá trị gia tăng
đánh giá kết quả dồn điền đổi thửa đã có tác động tích cực đối với sản xuất
nông nghiệp, gia tăng năng suất, sản lượng nông sản, thúc đẩy quá trình hình
thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung chuyển canh, tạo điều
kiện để thúc đẩy cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, so với
yêu cầu của quá trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp vẫn đang còn nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ hơn, trong đó có cả vấn đề
quản lý nhà nước về đất đai.
Huyện Hải Hậu, là huyện đầu tiên của tỉnh Nam Định hoàn thành công
tác dồn điền đổi thửa và xây dựng nông thôn mới vào năm 2012.
Từ những thực tế trên, đề tài luận văn: "Đánh giá hiệu quả và đề xuất
giải pháp sau dồn điền đổi thửa phục vụ hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp ở
huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định" được chọn làm nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá được hiệu quả của dồn điền đổi thửa và những vấn đề nảy sinh
so với yêu cầu phát triển của hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp sau dồn điền đổi thửa phục vụ hiện đại hóa sản
xuất nông nghiệp.
3. Yêu cầu của đề tài:
- Làm rõ kết quả đạt được của công tác dồn điền đổi thửa, đánh giá các
thay đổi sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa; thay đổi về quy mô vùng sản
xuất
- Làm rõ được hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau dồn điền
đổi thửa tại 3 xã nghiên cứu điểm dựa trên điều tra, thu thập thông tin và nhận
diện được những vấn đề mới phát sinh so với yêu cầu của quá trình hiện đại hoá
sản xuất nông nghiệp.
- Đề xuất được một số giải pháp sau dồn điền đổi thửa theo hướng phục
vụ hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp có tính khả thi.
Mỗi chính sách ruộng đất có tác dụng trong thời gian nhất định, phù hợp với phát
triển nông nghiệp ở mỗi thời kỳ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chính sách người cày có ruộng phù hợp với lao động thủ công.
Chính sách tập trung hoá ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nông
nghiệp trong thời kỳ chiến tranh.
Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông nghiệp
trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường.
Thực hiện Luật Đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng
manh mún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7-8
thửa, có hộ lên tới 28 – 30 thửa. Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp dụng
cơ giới hoá và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
[5]
Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn là
thực hiện đồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” với
mục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn. Với Nghị quyết 6 của
Bộ Chính trị (năm 1998), Nghị quyết 03 của Chính phủ (năm 2000) kinh tế trang
trại chính thức được công nhận như một loại hình sản xuất của thời kỳ kinh tế thị
trường. Kinh tế trang trại đã tập trung và tích tụ ruộng đất với nhiều hình thức
khác nhau để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn. Đây là mô hình
sản xuất nông nghiệp có hiệu quả trong cơ chế thị trường.
Nhờ có chính sách về đất đai và các chính sách khác của Nhà nước, nông
nghiệp đã có sự phát triển vượt bậc, không chỉ tăng so với các thời kỳ trước, mà
quan trọng là nhiều loại đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu với khối lượng lớn
(năm 2005 xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,73 tỷ USD, trên 5,25 triệu tấn gạo, 54,5
nghìn tấn lạc, 892,4 nghìn tấn cà phê, 587,1 nghìn tấn cao su, 108,8 nghìn tấn
ruộng đất vẫn đang là một bức tranh vẽ giở và còn quá nhiều rào cản trên con
đường đi đến giấc mơ đại điền của người nông dân. Hai “nút thắt” lớn nhất đang
tồn tại hiện nay trong vấn đề tích tụ ruộng đất là nên tích tụ theo hình thức mua
đất hay thuê đất và xử lý vấn đề lao động nông nghiệp thế nào khi họ rút ra khỏi
thị trường này? Chỉ riêng đối với vấn đề nên mua đất hay chỉ là cho thuê đất, đã
là vấn đề quá khó, khi vừa muốn đảm bảo yêu cầu nông dân không bị áp lực bởi
nỗi lo “không tấc đất cắm dùi”, vừa đảm bảo yêu cầu sớm tích tụ đất đai để tổ
chức được sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, để sản xuất theo kiểu hàng hóa.
Những người tán thành quan điểm mua, bán cho rằng có tích tụ theo cách đó,
mới có thể yên tâm sản xuất bền vững, chứ nếu chỉ là thuê thôi, thì tâm lý cũng
không thể muốn đầu tư lâu dài trên mảnh đất đó. Thực tế, việc tích tụ ruộng đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
diễn ra trong thời gian qua chủ yếu là theo hình thức này.
Nhưng luồng quan điểm nên “cho thuê”, “Đây là cách để nông dân “có chỗ
lui về” không mất trắng đất - ít nhất là về mặt tâm lý”. “Thực trạng tích tụ ruộng
đất, dồn điền đổi thửa hiện nay đã làm cho nhiều hộ nông dân mất đất, trắng tay.
Vì vậy, một chính sách cần thiết lúc này là làm sao để nông dân cho thuê đất chứ
không bán đất. Doanh nghiệp đầu tư xây dựng kênh mương, cây giống và tổ chức
sản xuất, nông dân được thuê làm việc trên chính thửa ruộng của mình. Vậy nông
dân vẫn còn sổ đỏ, có thu nhập, có công việc; doanh nghiệp có diện tích lớn sẽ sản
xuất kinh doanh hiệu quả”.
1.1.2 . Hạn điền và tích tụ ruộng đất
Tích tụ ruộng đất là: cá nhân hoặc tổ chức thực hiện dồn, tập trung nhiều
ruộng đất vào một chỗ, là phương thức làm tăng quy mô về diện tích của thửa đất
thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Hiện nay, hạn điền và tích tụ ruộng đất đang trở thành vấn đề cần phải được
quan tâm trong nền nông nghiệp ở nước ta.
Điều 129 Luật Đất đai 2013 đã đề cập đến hạn mức giao đất nông nghiệp.
thay đổi căn bản tính chất, phương thức sản xuất, hình thức tổ chức quản lý sản
xuất của một nền nông nghiệp sản xuất tự cung, tự cấp, dự chủ yếu vào điều kiện
tự nhiên với kỹ thuật thủ công sang một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với
kỹ thuật công nghệ tiên tiến, trong điều kiện trong điều kiện thương mại hóa toàn
cầu và phải đảm bảo cho sự phát triển bền vững về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển khu vực nông thôn từ
trạng thái nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền kinh tế thị trường phát
triển, với hệ thống phân công lao động đạt trình độ cao, dựa trên nền tảng kỹ
thuật – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế toàn cầu trong khuôn khổ quá
trình hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế. Đây cũng là quá trình đô thị hóa cải biến
xã hội nông thôn lên trình độ cao hơn, bảo đảm cho mọi người dân có đời sống
vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao.
- Hiện đại hóa nông nghiệp là việc sử dụng máy móc rộng rãi, áp dụng
khoa học tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông tin trong
khâu sản xuất. Bảo quản chế biến và tiếp thị mở rộng thị trường tiêu thụ trong
nước và quốc tế, chính vị vậy sẽ thúc đẩy nhanh sự tan rã của nông nghiệp chậm
phát triển và nông nghiệp truyền thống.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Hiện đại hóa nông nghiệp phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu ăn uống hiện
đại của xã hội: sản xuất nông sản sạch, giảm lương thực, tăng thức ăn giàu đạm,
tăng rau quả, mức tiêu dùng các loại lương thực thực phẩm chất lượng cao tăng
lên, đa dạng hóa các loại thực phẩm, tăng nông phẩm đã qua chế biến.
- Hiện đại hóa nông nghiệp có thể trình bày theo 3 đặc điểm dưới đây:
+ Hiện đại hóa công cụ sản xuất nông nghiệp
+ Hiện đại hóa kỹ thuật sản xuất
+ Hiện đại hóa phương thức sản xuất nông nghiệp.
1.1.4. Quy hoạch thiết kế đồng ruộng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông
nghiệp tại khu vực đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH):
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn.
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc
xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng.
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức
tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số
biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất mới phát huy hiệu quả trong sử
dụng đất. Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở
Nhật Bản đã được chuyển đổi. Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa /hộ, sau
chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa /hộ. Việc chuyển đổi, xử lý đất nông
nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông
dân; việc áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều
kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông
nghiệp. Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông
nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm vào
năm 1960 lên 6.000kg gạo/ha/năm vào năm 1992.
Ở Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh mún.
Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5ha chiếm trên 52% trong
tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4%
loại trang trại có 4 đến 5ha. Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công
quản lý chứ không do chủ đất quản lý. Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến
việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó. Ở Indonesia
nói riêng và Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
nhưng ít xẩy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến
hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên.
Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ
được trao đổi giữa các chủ nhỏ. Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các
còn thưa thớt, chỉ khoảng 300 nghìn người với trên 2 triệu héc ta đất, nhưng sự
đô thị hóa nhanh ở Bangkok vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng này
tăng nhanh (khoảng 3%/năm). Kể từ năm 1970, đất nông nghiệp giảm trung bình
khoảng 1%/năm. Các trang trại bị chia nhỏ khiến quy mô ruộng đất bị giảm dần,
từ 4,8 ha/hộ (năm 1950) xuống 4,5 ha/hộ (năm 1963), 4,1 ha/hộ (năm 1978) và
3,5 ha/hộ (năm 1993). Quy mô ruộng đất giảm còn do ruộng đất được phân chia
thừa kế cho con cái và công nghệ sản xuất chậm tiến bộ. Từ năm 1955 đến năm
1975 giá thóc giảm khá thấp, trên thực tế giá nông sản thấp và sự bần cùng hóa
của nông dân luôn đi đôi với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư
vào ruộng đất không cao và người dân cũng không có đủ vốn để mua đất.
Ở Trung Quốc: Vào những năm cuối thập kỷ 70, Trung Quốc đã tiến
hành cuộc cải cách kinh tế và trước tiên là cải cách nông thôn. Sau một số năm
thực hiện đã cho thấy những hạn chế và điểm yết của hệ thống. Trước tiên là sự
xuất hiện của các thửa ruộng nhỏ và manh mún cấp cho từng hộ gia đình. Hơn
nữa từng mạnh ruộng lại khác nhau về tính chất đất, khả năng thủy lợi, vị trí và
được phân hạng khác nhau. Mỗi gia đình đều được nhận được ruộng ở tất cả các
hạng đất. Kết quả là tổng diện tích cấp cho mỗi hộ không những không đủ mà
còn manh mún và rải rác khắc nơi trong làng. Lãnh phí một diện tích đang kể
dùng làm đường và ranh giới chia đất giữa các hộ.
Sau đây là một mô hình thực hiện tập trung đất đai được xem là thành
công và đã được vận dụng trên quy mô rộng lớn của đất nước Trung Quốc. Đo là
mô hình "hệ thống hai loại đất". Tổng diện tích đất canh tác được chi làm hai
phần: đất sản xuất lương thực và đất hợp đồng. Đất sản xuất lương thực để đảm
bảo nhu cầu lương thực của hộ gia đình còn đất hợp đồng để làm kinh tế. Vào
đầu những năm 1990, hệ thống này được áp dụng và đã trở thành phổ biến và
được xem như là biện pháp đổi mới thể chế trong cuộc cải cách ruộng đất.
Tại sao Trung Quốc lại thành công trong một thời gian ngắn như vậy? Lời
giải thích hợp lý nhất là với việc chia đất của hộ gia đình thành hai hệ thống sử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu và
hợp tác xã toàn phần. Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện
tích đất nông nghiệp đó vào hợp tác xã bậc thấp. Trong hợp tác xã này người
nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất. Ở hình thức hợp tác xã bậc cao,
nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất khác (trâu, bò, gia súc và các
công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung.
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại và những hậu
quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ
kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông
nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông
nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp (2%). Cùng thời điểm này dân số tăng rất
nhanh (2,2-2,35%/ năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu
tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh. Điều đó đã dẫn đến
một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói.
Giai đoạn 1981-1988: Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh
vực nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn
gọi là Khoán 100: các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động.
Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quy trình sản xuất. Sản xuất vẫn
dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên
sản lượng sản xuất ra và ngày công đóng góp trong 3 khâu của quy trình sản xuất.
Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX. Mặc dù còn
đơn giản nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền
kinh tế thị trường. Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong suốt giai
đoạn 1981-1985. Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp
Quyết định số 327/QĐ-HĐBT ngày 15-7-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng về chính sách sử dụng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước
với nội dung cơ bản là lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất với những
điều kiện mở. Nhà nước giành 60% vốn dự án để xây dựng kết cấu hạ tầng, 40%
còn lại cho hộ gia đình vay không tính lãi. Những hộ chuyển vùng đến khu kinh tế
mới được phép chuyển QSD đất để lấy tiền làm vốn; đồng thời khuyến khích các
doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn đầu tư dưới hình thức đồn điền, trang trại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Như vậy, chính sách đất đai giai đoạn này chủ yếu là:
- Thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước
chậm, chủ yếu mang tính thăm dò, thí điểm;
- Điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm trường,
hợp tác xã;
- Quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của hộ gia đình, cá nhân vẫn chưa được
thừa nhận.
Giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chính sách đất đai (từ 1993 đến nay):
Trước những kết quả khả quan của Khoán 100 và Khoán 10, Hội nghị lần
thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết về tiếp tục
đổi mới và phát trển kinh tế - xã hội nông thôn. Nghị quyết là cơ sở cho việc
thông qua Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ Ba
Quốc hội khóa IX. Luật Đất đai năm 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất
đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra.
Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ và các bộ, ngành đã có
văn bản triển khai. Đặc biệt là Nghị định số 64/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào sản xuất nông nghiệp và
Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15-01-1994 về đất lâm nghiệp. Bên cạnh đó có một
loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đất đai.
Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân; đồng
định hướng xã hội chủ nghĩa, Điều 61, Điều 62 và Điều 63 của Luật Đất đai năm
2003 đã thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII,
ngày 29/11/2013 đã thông qua Luật Đất đai; Luật gồm có 14 chương với 212
Điều: Luật Đất đai 2013 được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập
của Luật Đất đai năm 2003; tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý chặt chẽ; khai thác,
sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đất đai, với ý nghĩa là Đất đai là tài nguyên đặc biệt
của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước.
Như vậy, chính sách đất đai từ năm 1993 đến nay đã thừa nhận quyền sử
dụng đất lâu dài của cá nhân và đảm bảo thực hiện, có sự điều chỉnh cho phù hợp
với tình hình thực tiễn.