MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của
Ban giám đốc, các anh chị trong chuyền sản xuất quần của công ty TNHH May Anh
Vũ, đặc biệt với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Xuân
đến nay em đã hoàn thành đồ án của mình. Trong quá trình thực hiện đồ án mặc dù
em đã rất cố gắng nhưng do điều kiện và tài liệu còn hạn chế, kinh nghiệm chưa
nhiều nên không tránh khỏi những thiếu xót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo bộ môn cùng các bạn bè đồng
nghiệp để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên:
Nguyễn Thị Thu Hà
1
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam ra nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO đã mở ra con đường mới cho các doanh nghiệp dệt may
khẳng định vị thế của mình trên thị trường quốc tế.
Để đạt được mục tiêu trên, các doanh nghiệp dệt may phải có đội ngũ cán bộ kĩ
thuật có trình độ quản lý điều hành sản xuất tốt, thợ lành nghề có chuyên môn cao
đáp ứng được sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Bởi thời trang luôn luôn thay đổi
theo quy luật vận động và phát triển không ngừng của nền kinh tế và xu thế thời đại.
Do đó muốn sản xuất ra một sản phẩm hợp thời trang đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng thì đòi hỏi doanh nghiệp may phải không ngừng học hỏi nâng cao
nghiệp vụ.
Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là việc áp dụng khoa học vào tổ chức sản
xuất của Việt Nam chưa tốt, các công ty thường tổ chức theo hình thức tự phát, dựa
vào kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu dẫn tới việc tổ chức quản lý trên chuyền chưa
được hợp lý, hiệu quả sản xuất còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, sản phẩm
làm ra còn phải tái chế nhiều.
hệ hội nhập với các quốc gia trên thế giới và một trong những tiêu chí mà bất kì một
tổ chức quốc tế nào cũng không thể bỏ qua khi muốn đánh giá một đất nước có phát
triển hay không đó là sự phát triển của ngành công nghiệp đất nước đó. Nhất là một
số ngành công nghiệp mũi nhọn và một số ngành công nghiệp đặc thù của quốc gia
đó hay còn gọi là ngành công nghiệp thế mạnh của quốc gia …. Nước Việt Nam ta
đang trên con đường hội nhập quốc tế vì vậy mà việc xây dựng nền công nghiệp
mạnh là một vấn đề vô cùng quan trọng. Đặc biệt việc phát triển ngành công nghiệp
nhẹ, trong đó phải kể đến ngành May đã đóng góp
một phần rất quan trọng cho đất nước trên con
đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
1.1. Thực trạng chung của ngành may Việt
Nam
Trong năm 2007 dệt may đã vượt qua dầu khí,
dẫn đầu về kim ngạch XK, với tốc độ tăng trưởng trên
30%, đạt khoảng 7,5 tỷ USD. Hình1.
1Con số này sẽ tăng lên trong năm 2008 với mục tiêu XK đạt 9,45 tỷ USD, gần
chạm đến ngưỡng 10 tỷ USD đặt ra cho năm 2010 (theo Dệt May trên đà phát
triển- Việt Báo.com). Tuy nhiên, trước tình hình lạm phát tăng cao ngành dệt may
hiện đang gặp những trở lực khá lớn cần phải vượt qua Khó khăn lớn…
Trong giai đoạn hiện nay, ngành dệt may đang gặp 4 trở lực lớn.
Trước tiên là tác động vĩ mô do lạm phát, giá nguyên liệu tăng cao và lãi suất ngân
hàng cũng ở mức đỉnh.
4
4
Kế đến là cơ sở hạ tầng còn yếu kém, cụ thể như năng lực hạn chế của các cảng
cũng tác động không ít đến việc vận chuyển hàng hóa, bên cạnh đó là thủ tục hải
quan còn rườm rà, gây nhiều phiền hà cho doanh nghiệp khi xuất nhập hàng hóa.
Trở lực thứ ba là việc giám sát bán phá giá của Hoa Kỳ cũng đã làm cho ngành dệt
may gặp khá nhiều trở ngại khi thâm nhập vào thị trường rộng lớn và tiềm năng
hơn với sản phẩm mình đã may. Và đây cũng là cơ sở để chấm điểm thi đua, khen
thưởng cho người lao động. Ông Nguyễn Ân, Tổng Giám đốc Công ty may Sài
Gòn, cho rằng thực tế các doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn đang lãng phí lao
động do chưa biết cách tổ chức khoa học. Cùng số lượng công nhân như nhau thì
bao giờ các doanh nghiệp nước ngoài cũng đạt năng suất cao hơn, có thể gấp đôi so
với doanh nghiệp dệt may Việt Nam nhờ bố trí chuyền may hợp lý (nguồn theo
Vinatex).
Do đó, để đạt hiệu quả cao hơn ngoài việc tổ chức chuyền hợp lý, các doanh
nghiệp trong nước cần phải rà soát chọn những đơn hàng có giá cao, đơn giản và ít
chi tiết để ký hợp đồng. Song song đó là việc thực hiện nghiêm chỉnh trách nhiệm
đối với đối tác, cộng đồng thì lợi nhuận đem lại sẽ cao hơn.
1.1.3. Biến động lao động
Trước đây, để giải quyết áp lực khi lao
động nông thôn tràn về các thành phố lớn, nhiều
DN DM Việt Nam đã có hướng di dời, xây dựng
nhà máy tại các tỉnh, với mong muốn tận dụng
được nguồn lao động dồi dào ở đây. Tuy nhiên,
trên thực tế, năng suất lao động bị thấp vì công
nhân thiếu tác phong công nghiệp và tay nghề
còn yếu. Đó là chưa kể đến việc ngành may đã
không còn thu hút lao động, ngay cả ở nông thôn.
Đã thành điệp khúc, cứ vào cuối năm, các DN
DM Việt Nam lại phập phồng trước tình trạng
thiếu lao động vì công nhân bỏ đi hàng loạt sau Tết Nguyên Đán. Đặc biệt do biến
động giá cả thời gian qua, ngành này đang đứng trước việc thiếu hụt lao động khá
lớn. Hầu hết các doanh nghiệp dệt may đều tìm cách để giữ chân người lao động
6
Hình 1.2
6
như tăng lương, tăng chế độ nhưng mức tăng chẳng thấm vào đâu so với mức
Hình 1.2
7
Sự cố về máy móc thiết bị 6%,
Không tuyển được lao động là
4.5%.
Các nguyên nhân khác là 12%.
Trên đây mới chỉ là những nguyên
nhân trực tiếp, ngoài ra còn có các
nguyên nhân sâu xa phải kể đến như:
Do kiến thức, hiểu biết của chủ sử dụng lao động chưa đầy đủ về các quy định của
pháp luật
Do người lao động không được phổ biến về các quy định của pháp luật (88.7% tổng
số lao động).
Vai trò công đoàn cơ sở bảo vệ quyền lợi của công nhân còn hạn chế.
Các cuộc thanh tra làm thêm giờ của thanh tra lao động nhà nước chưa có tác động
nhiều để chấn chỉnh vi phạm pháp luật.
Hậu quả của việc tăng thêm ca quá giờ quy định của pháp luật là làm ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ công nhân, dẫn đến các bệnh nghề nghiệp như:
cong, vẹo, thoái hoá cột sống, giảm thị lực, gây ra các tai nạn lao động…(nguồn
PGS.TS Nguyễn Tiệp - trường ĐH Lao Động – Xã Hội - “ Thực trạng sử dụng lao
động làm thêm giờ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các giải pháp
khắc phục ”. Tạp chí kinh tế và phát triển - T2 năm 2008)
Đây còn là nguyên nhân dẫn tới việc gia tăng tranh chấp lao động như các cuộc
đình công tại một số nhà máy may ở Hải Dương…, đặc biệt là các doanh nghiệp
may trong miền nam, ảnh hưởng tới việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà,
ổn định trong doanh nghiệp và gây xáo trộn trật tự an ninh xã hội.
1.1.5. Kết luận
Mặc dù đang đứng trước rất nhiều khó khăn nhưng nếu doanh nghiệp biết cách
vượt qua khó khăn thì cơ hội mở ra cho doanh nghiệp dệt may cũng rất lớn, ông Lê
tỉnh.
Đến năm 2000, năng lực của ngành được bổ sung thêm do một số doanh nghiệp mới
được thành lập như Công ty May Hưng Việt, Công ty CP May Hồ Gươm (chi
9
9
nhánh), một số doanh nghiệp mở rộng sản xuất song tốc độ tăng trưởng chậm, sản
lượng đạt 4,613 triệu sản phẩm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên 115,675 tỷ
đồng, chiếm tỷ trọng 4,9% toàn ngành.
Từ 3 năm trở lại đây, tỉnh đã khuyến khích đầu tư đối với ngành may, đặc biệt là
các địa phương công nghiệp chưa phát triển như hỗ trợ xây dựng nhà xưởng, giải
phóng mặt bằng, kết quả là đã có thêm 3 Xưởng may mới được xây dựng tại các
huyện Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ tạo việc làm mới cho gần 2000 lao động.
Bên cạnh đó, nhiều dự án tỉnh ngoài, nước ngoài đầu tư vào sản xuất hàng may mặc
xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã đi vào sản xuất như: Công ty May Anh Vũ, Công ty
May Minh Anh, Công ty sản xuất và dịch vụ
xuất khẩu Nguyễn Hoàng, Công ty May Phú
Dụ, Công ty May Beeahn Việt Nam, Công ty
Global Sourcenet, Công ty May Liên doanh
Kyung Việt, Công ty May Việt Ba. Và gần
đây là các công ty: Công ty May Hải Bảo,
Công ty May Ngọc Đỉnh, Công ty May Việt
Mỹ đã tăng thêm năng lực cho ngành. Hình1.3
Năm 2003 giá trị sản xuất của ngành dệt may đạt 405,265 tỷ đồng chiếm tỷ trọng
8,9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành, sản lượng đạt 14,269 triệu sản phẩm,
tăng gấp 3 lần năm 2000. Trong năm 2003, 2004 có thêm một số dự án
thuộc lĩnh vực dệt may đang đầu tư xây dựng, đi vào hoạt động trong thời gian tới
sẽ tiếp tục tạo đà cho sự tăng trưởng của ngành, đặc biệt là một số doanh nghiệp đã
chuyển từ gia công theo hợp đồng sang mua nguyên liệu - bán thành phẩm nên giá
trị gia tăng của ngành này sẽ lớn hơn, đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển của
công nghiệp, cũng như kinh tế xã hội của tỉnh.
công việc và đáp ứng công nghệ sản xuất qua quá trình làm việc thực tế,
× Bị động trong sản xuất từ hợp đồng gia công đến khâu cung ứng nguyên
liệu.
× Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, thu nhập bình quân của công nhân
may mặc còn thấp (từ 800.000 đồng đến 1.500.000 đồng / tháng) nhưng lại
thường xuyên tăng ca, làm thêm giờ nên tình hình lao động luôn bị biến
động và khó thu hút lao động hơn so với những ngành khác,
11
11
× Khả năng sáng tạo mẫu mã chưa theo kịp với yêu cầu của thị trường.
( theo báo cáo tổng hợp 2003- ở công nghiệp Hưng Yên)
1.2.4. Kết luận
Để phát triển ngành công nghiệp May trong thời buổi “bão giá” không phải là
điều đơn giản với bất cứ doanh nghiệp may nào nói chung và các doanh nghiệp may
Hưng Yên nói riêng. Tuy nhiên chính trong lúc này hơn bao giờ hết các doanh
nghiệp phải tự khắc phục khó khăn và nhìn nhận lại những điểm mạnh, điểm yếu
của mình để tìm và đưa ra các biện pháp mới giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn
tại hiện nay. Khi các doanh nghiệp vượt qua sóng gió hiện nay chính là các doanh
nghiệp đã hoàn thiện hơn mô hình sản xuất của công ty, đồng thời góp phần hoàn
thiện công nghệ sản xuất hàng may mặc và góp phần quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CHUYỀN MAY TRONG PHÂN XƯỞNG MAY
2.1.Tổng quan về chuyền may
2.1.1. Khái niệm về sản xuất dây chuyền
Sản xuất dây chuyền là phương pháp tổ chức sản xuất hàng loạt sản phẩm bằng
cách phân chia quá trình công nghệ thành nhiều bước công việc, sắp xếp theo một
trình tự hợp lý để nhiều người cùng tham gia sản xuất nhằm:
Nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Hình 2.2
Dây chuyền hàng ngang:
Tương tự dây chuyền hàng dọc, mô hình chuyền hàng ngang được bố trí theo tuy
từng công ty, theo từng đặc điểm sản phẩm sản xuất mà ứng dụng.
Mô hình chuyền ngang:
14
14
Hình 2.3
Dây chuyền cụm:
Là dây chuyền được chia thành các cụm nhỏ cho phù hợp với trang thiết bị sẵn có
và sự chuyên môn hoá. Mỗi người trong nhóm đều độc lập, nhóm này độc lập với
nhóm kia. Phù hợp với sản phẩm phức tạp.
Ưu điểm: - Chia theo cụm sẽ chuyên sâu hơn, tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho
từng công nhân.
- Chất lượng đảm bảo, năng suất cao.
- Trong cụm có thể hỗ trợ nhau. (chuyền ít bị xáo trộn khi công nhân vắng
mặt )
- Nâng cao trình độ quản lý (có tầm nhìn bao quát hơn, nhạy bén hơn)
- Tập trung vào đơn hàng nếu cần thiết.
Nhược điểm: - Đòi hỏi trình độ và năng lực của cán bộ quản lý cao.
- Các cụm phải cung cấp đồng bộ (số lượng, chất lượng)
- Cần phải có sự kết hợp giữa các cụm nhịp nhàng.
- Chất lượng phải được thắt chặt ngay từ ban đầu (Từ công nhân đến
cán bộ quản lý)
Mô hình dây chuyền cụm
Hình 2.4
Mô hình dây chuyền cụm theo tài liệu “Kỹ năng quản lý điều hành tổ sản xuất” :
15
15
16
Cho phép sản xuất các mặt hàng tương đối rộng, kém linh hoạt hơn so với dây
chuyền công suất nhỏ, dễ dàng chuyên môn hoá theo mặt hàng, năng suất cao hơn
chuyền có công suất nhỏ.
Dây chuyền có công suất lớn:
Thường sản xuất một mặt hàng sẽ cho năng suất cao nhất. Khó quản lý và điều
hành. Sử dụng nhiều thiết bị tự động. phù hợp với các đơn hàng lớn. Nhiệm vụ sản
xuất ổn định.
2.1.2.4. Căn cứ vào phương tiện vận chuyển
- Cơ khí hoá (sử dụng xe đẩy, băng truyền đưa BTP tới các vị trí trong chuyền).
- Tự động hoá ( sử dụng các loại chuyền treo tự động hoặc bán tự động đưa BTP tới
các vị trí trong chuyền)
2.1.2.5. Căn cứ vào mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật trong chuyền may
- Dây chuyền thế hệ 1: Là dây chuyền sử dụng phần lớn các thiết bị đã được
cơ khí hoá. (Các loại máy may thông thường)
- Dây chuyền thế hệ 2: là các dây chuyền sử dụng phần lớn các thiết bị bán
tự động và tự động (ví dụ: máy cắt chỉ tự động, máy bổ túi tự động, các loại máy
điện tử…)
2.1.3. Vị trí của chuyền may trong sản xuất kinh doanh
- Chuyền may là đơn vị trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, là yếu tố quyết định
năng suất của cả doanh nghiệp.
- Là nơi tập trung đông lực lượng lao động nên khi xảy ra các vấn đề sẽ gây nên
biến động lớn trong công ty.
- Là nơi đảm bảo cho sự thành công của mỗi lô hàng, là thước đo đánh giá trình
độ quản lý, tay nghề công nhân của mỗi doanh nghiệp.
Ngày nay trong các công ty may ta thường bắt gặp các thuật ngữ tăng ca, thêm
giờ, lương thấp và một loạt thông báo tuyển công nhân…. Đây có lẽ là tình trạng
phổ biến ở hầu hết các công ty may Việt Nam, đặc biệt là các công ty chỉ đơn thuần
may gia công. Nguyên nhân chính chủ yếu là do năng suất.
19
19
Tạo tính thích ứng cao (thích ứng giữa con người, máy móc thiết bị, mã
hàng…)
Không bị ách tắc trên chuyền trong quá trình sản xuất.
Cho chất lượng sản phẩm tốt nhất
Người công nhân có điều kiện làm việc tốt nhất.
Có sự kiểm tra hỗ trợ kỹ thuật ngay trong quá trình sản xuất. (Thực hiện tốt công
tác 3 kiểm)
Nâng cao tay nghề cho mọi người ngay trong quá trình sản xuất.
Do phân công lao động chuyên sâu, tạo điều kiện cho từng người nâng cao
tay nghề, đảm bảo tính ổn định của dây chuyền.
Có sự dịch chuyển công việc để mỗi người đều giỏi một việc, biết nhiều việc
( Phải khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần).
Tiết kiệm chi phí sản xuất.
Đảm bảo thời gian, số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng. CHƯƠNG 3
MỘT SỐ YẾU TỐ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG
SUẤT CHUYỀN MAY
Trong một doanh nghiệp may năng suất chuyền may là yếu tố rất quan trọng
ảnh hưởng tới năng xuất của toàn xí nghiệp. Vì thế vấn đề của chuyền may cũng là
vấn đề của xí nghiệp. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới năng suất, tuy nhiên trong
21
21
phạm vi bài viết này em chỉ nêu một số yếu tố cơ bản nhất và nhấn mạnh vào yếu tố
quản lý chuyền may.
Một số yếu tố ảnh hưởng tới năng suất chuyền may:
Hình 3.1
Một số yếu tố quản lý ảnh hưởng tới năng suất chuyền may:
Hình 3.2
phạt… vẫn thường xuyên xảy ra tại các công ty may.
Nguyên nhân là thời gian giao hàng ngắn người lập kế hoạch điều độ sản xuất
kém, không tận dụng được khả năng chuyên môn hoá của chuyền may, phải làm
tăng ca thêm giờ thậm chí có hiện tượng phân nhỏ mã hàng (mã hàng vốn đã nhỏ)
ra thành nhiều chuyền để kịp giao hàng. Đặc biệt khi mã hàng trở nên quá gấp buộc
lòng phải “vét trắng" chuyền bằng mọi giá để giao hàng. Hiện tượng “vét trắng”
chuyền là khi kết thúc đơn hàng trên chuyền sẽ không có sản phẩm nào, không có
hiện tượng gối chuyền và như thế đồng nghĩa việc công nhân lúc làm quá vất vả
nhưng có lúc lại ngồi chơi chờ việc. Chính hiện tượng chờ việc gây ra tâm lý bức
23
23
bối trong công nhân, xảy ra hiện tượng đi lại tự do, nói chuyện trên chuyền…Làm
mất rất nhiều thời gian ổn định lại chuyền và năng suất bằng không.
Mặt khác khi phân nhỏ mã hàng vào sản xuất làm cho thời gian được rút ngắn
lại, việc kiểm soát chất lượng trên chuyền dễ bị nơi lỏng do mọi người quá tập trung
sản xuất, công nhân không thích tái chế lại sản phẩm nên tìm đủ mọi cách đẩy hàng
đi, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau…
Phân nhỏ mã hàng khiến cho việc kiểm soát chất lượng được tiến hành trên một
diện rộng rất khó có thể kiểm soát nên việc tái chế hàng rất khó kiểm tra, giám
sát…
Ví dụ mã hàng: 82828 như đã phân tích ở trên mã hàng này vốn là mã hàng gồm
6000 sản phẩm như do kế hoạch không tốt nên mã hàng này phải chia cho 3 chuyền.
Chuyền làm 1000 sản phẩm là làm hỗ trợ cho hàng đi gấp. Có rất nhiều trường hợp
hàng đúng tiến độ buộc công nhân phải làm 2-3 đêm liên tiếp, hoàn thiện sản phẩm
phải nhờ tổ khác giúp. ( Tổ khác đang sản xuất phải dừng lại hoàn thiện sản phẩm
cho họ nên năng suất rất thấp)
3.2. Rải chuyền
3.2.1. Khái niệm
Rải chuyền là việc sắp xếp, bố trí công nhân vào các công đoạn may phù hợp với
quy trình công nghệ làm sao đường đi BTP là ngắn nhất.
tính hiệu quả rất cao nhưng cũng đã có hiện tượng công nhân vì chạy theo năng
xuất, sản lượng đã may nhanh ẩu, bớt xén các công đoạn, không đảm bảo chất
lượng các đường may. Do đó khi đặt mức khoán cần khảo sát thực tế và kiểm soát
chặt chẽ các công đoạn trên dây chuyền.
3.4. Tổ chức lao động.
3.4.1. Khái niệm
Tổ chức lao động là việc bố trí sắp xếp và quản lý công nhân trong một đơn vị.
3.4.2. Mục đích.
- Nâng cao năng suất chuyền may
- Tạo không khí thi đua lao động
25
25