1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử phát triển hệ thống thương mại biển Đông, từ thế kỷ X,
vùng biên viễn phía Nam Đại Việt – Nghệ Tĩnh
(1)
- đã nổi lên như một khu vực
năng động diễn ra các hoạt động thương mại của các quốc gia, trở thành một
khu vực có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Đóng vai trò là vùng trung
chuyển thương mại, đồng thời là khu vực mậu dịch tự do trong suốt nhiều thế
kỷ, nơi hội tụ về của thương nhân người Hoa, Champa, Chân Lap, Ai Lao…trên
lộ trình buôn bán của họ. Đồng thời, Nghệ Tĩnh còn là cửa ngõ ra biển của các
vương quốc người Thái ở miền Tây thuộc Lào và Campuchia ngày nay (Ai Lao,
Ngưu Hống, Chân Lạp…). Với vị trí chiến lược quan trọng, Nghệ Tĩnh đã trở
thành một điểm nhấn quan trọng đối với lịch sử hệ thống thương mại biển Đông
thế kỷ X – XVI. Nghiên cứu Nghệ Tĩnh cùng hệ thống các cửa biển khu vực này
chính là làm sáng rõ hơn lịch sử của tuyến đường thương mại biển Đông thế kỷ
X – XVI.
Khảo sát về vai trò của Nghệ Tĩnh trong hoạt động thương mại biển Đông
thế kỷ X - XVI, chúng tôi đi sâu vào tập trung nghiên cứu về cửa biển Đai Thai
(Hội Thống) – một cửa biển đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động hải
thương biển Đông quốc tế trên địa bàn khu vực Nghệ Tĩnh. Trong hệ thống các
cửa biển Nghệ Tĩnh và rộng hơn là các điểm trọng yếu của tuyến đường thương
mại biển Đông, cửa Hội nổi lên như một hiện tượng kinh tế khu vực, có vị trí hết
sức quan trọng trong các hoạt động hàng hải của các thuyền buôn suốt một vài
thế kỷ. Từ Hội Thống và các mối liên hệ của nó với các khu vực khác trên tuyến
đường hải thương Biển Đông, chúng ta có thể tiếp cận sát hơn những nhận thức
mới về một giai đoạn lịch sử của con đường tơ lụa bằng đường biển nổi tiếng
này và vị thế thương mại của Nghệ Tĩnh đối với các mối quan hệ kinh tế liên
khu vực.
Dựa vào một số quan điểm về vị trí của các cửa biển Nghệ Tĩnh trong thời THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
3
I. I VIT TRONG H THNG THNG MI BIN ễNG
TH K X XVI
1. Nhng iu kin mi cho s phỏt trin ca cỏc hot ng thng
mi bin ụng t th k X
Th k X m ra nhng iu kin phỏt trin mi trong lch s kinh t
thng mi khu vc bin ụng. H thng thng mi bin ụng
(2)
vi s tham
gia ca nhiu quc gia ụng - ụng Nam ó cú mt lch s ra i phỏt
trin t rt sm. Nhu cu giao lu kinh t, m rng cỏc mi quan h kinh t ra
bờn ngoi ca cỏc quc gia trong khu vc ny ó a n vic xut hin cỏc hot
ng mu dch hng hi trong phm vi vựng bin ụng, tuyn buụn bỏn hi
thng khu vc c hỡnh thnh.
Bc sang th k X, nhng thay i cú tớnh t phỏ trong chinh phc bin
khi cựng s phỏt trin ca ngh i bin vi nhng kinh nghim v k thut mi
cho phộp tng cng hn na cỏc hot ng buụn bỏn bng ng bin. Xa hn
na l m rng giao lu vi cỏc khu vc khỏc thụng qua cỏc chuyn buụn di
ngy. Cụng u trong quỏ trỡnh ny cú l phi k n cỏc chuyn i tiờn phong
ca cỏc thng nhõn ngi Hoa. Ban u t b ụng Trung Hoa, h tin ra Thỏi
Bỡnh Dng v tin hnh cỏc hot ng giao lu kinh t vi c dõn qun o
Nht Bn. Khụng dng li ú, thuyn mnh Trung Hoa men theo ng b
bin tin xung phớa Nam, xõm nhp Vnh Bc B ca quc gia i Vit, m
rng cỏc mi giao lu kinh t vi khu vc ny. Nhng n lc ca ngi Hoa
trong vic tỡm kim cỏc ngun cung cp lõm th sn cng nh cỏc ngun li t
kinh tế, qn sự của nhà nước phong kiến. Trong xu thế chung của kinh tế khu
vực, đó là u cầu mở rộng các hoạt động ngoại giao và thương mại quốc tế, Đại
Việt đã ý thức được tầm quan trọng về vị trí chiến lược của mình trên tuyến
đường thương mại biển Đơng. Chính vì vậy, ngay sau khi giành được độc lập,
Đại Việt đã nhanh chóng vươn ra khu vực, phát huy vị thế thương mại của mình,
tham gia và trở thành một thành viên trong hệ thống thương mại biển Đơng, góp
phần quan trọng vào lịch sử phát triển của tuyến hàng hải khu vực.
Tuy vậy, khơng phải ngay từ đầu, chính quyền nhà nước phong kiến đã có
ý thức phát triển các mối quan hệ kinh tế với các quốc gia láng giềng đến đây
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
đặt quan hệ mậu dịch. Ban đầu, một số khu vực nảy sinh những nhu cầu trao
đổi, quan hệ với các lái bn nước ngồi dong thuyền đến. Các khu vực này
thường là vùng biên viễn hay có vị trí tiếp giáp với lãnh thổ các quốc gia khác,
có điều kiện thuận lợi để thuyền bè từ ngồi vào cập bến…Ở đây, các hoạt động
trao đổi diễn ra giữa các hải nhân với cư dân bản địa mà ít có sự kiểm sốt của
nhà nước. Người ta thường gọi là các hoạt động thương mại ngồi luồng. Các
hoạt động này trong suốt thế kỷ X – XII phát triển mạnh ở các vùng biên viễn
Đại Việt, trong đó nổi bật lên là khu vực Nghệ Tĩnh
(3)
.
Trải qua q trình phát triển lâu dài, nhà nước phong kiến Đại Việt dần
vươn lên từng bước trong sự kiểm sốt và thúc đẩy các hoạt động ngoại thương.
Các vua Lý, Trần và sau đó là vua Lê đã ý thức rõ hơn về các nguồn lợi có thể
có được từ các hoạt động thương mại này, tiến hành các biện pháp nhằm can
thiệp và kiềm tỏa các mối quan hệ kinh tế với thuyền bè các quốc gia tới Đại
Việt bn bán. Đồng thời, tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc thúc
đẩy sự giao lưu, trao đổi hàng hóa dưới sự theo dõi của chính quyền.
Chính những can thiệp ngày càng mạnh tay vào ngoại thương đã đưa đến
những thay đổi trong cấu trúc kinh tế và sự ln chuyển các trung tâm bn bán.
l ca bin thuc vựng giỏp ranh gia hai tnh Ngh An v
H Tnh ngy nay. õy l ca ra bin ca sụng Lam con sụng ln ca Bc
Trung B, cỏch thnh ph Vinh 12km v phớa ụng Bc
(7)
. Trong quỏ kh, Hi
Thng úng vai trũ ht sc quan trng i vi lch s hỡnh thnh v phỏt trin
ca Ngh Tnh núi riờng v khu vc Bc Trung B núi chung. L mt vựng cú
v trớ chin lc vi chiu di phỏt trin ca lch s dõn tc, c bit l lch s
ụng Nam , Hi Thng cú nhng yu t tr thnh mt cng bin quan
trng trờn con ng thng mi bin ụng trong sut nhiu th k trc. V
trờn thc t, trong mt chng ng phỏt trin ca h thng thng mi bin
ụng trong lch s chõu , ca bin ny ó úng mt du n khỏ c bit, cho
thy nhng cỏch nhỡn mi v v trớ ca Vit Nam trong lch s. ú l quỏ trỡnh
vn lờn khụng ngng ca i Vit sau khi ginh c lp nhm sm nhp cuc
vo hot ng giao lu kinh t gia cỏc quc gia vn ó hỡnh thnh t rt sm
v c y mnh theo tng thi i lch s khỏc nhau ca nhõn loi. T th k
X XVI, nm trong h thng cỏc ca bin Bc Trung B, ca Hi ó l mt
im mc khụng th b qua trờn tuyn ng thng mi bin ụng, l mt
trong nhng ca bin nng ng nht trong hot ng thng mi c ca quc
gia i Vit vo bui u c lp, xõy dng v phỏt trin.
Trong sut chiu di phỏt trin ca lch s, Hi Thng nm trờn mt vựng
t cú nhng iu kin khỏ c bit v c cỏc yu t mang tớnh t nhiờn v xó
hi vựng lu vc h thng Sụng Lam. õy l im cui ca h thng sụng C
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
7
đổ ra biển Đông. Cửa biển Hội Thống vừa chứa đựng những yếu tố chung của
một vùng ven biển như các khu vực duyên hải khác, vừa mang những điều kiện
có tính dị biệt của khu vực Nghệ Tĩnh. Tuy vậy, sự dung hợp giữa các yếu tố
chung và riêng đó tạo nên những điều kiện khá đặc biệt của cửa biển này trên
khá nhiều phương diện. Trong phạm vi báo cáo này, chúng tôi chỉ đề cập đến
khỏ kớn. S ỏn ng ca o ln Hi Nam ca Trung Quc trc con ng
hng ra Thỏi Bỡnh Dng mn bc ca vnh l mt tr ngi cho vn chinh
phc bin khi ca ngi Vit. ng thi, cng l khú khn cho ý nh tip cn
vo i Vit ca ngi Hoa t b ụng Trung Quc. Hn na, ng b bin
hỡnh cỏnh cung khộp vo trong to nờn cho vnh mt din tớch khỏ rng nhng
cỏc con thuyn t bờn ngoi i dng li khú xõm nhp vo khu vc trung tõm
ca di b vnh. Th k X XVI, trong nhng iu kin k thut hng hi cũn
thp kộm, cỏc dũng hi lu v lung giú chớnh vựng vnh Bc B dng nh
ó phn no hn ch cỏc thng thuyn tip cn chõu th sụng Hng t phớa
ụng. Nh th, cú th thy trong giai on u tham gia vo h thng thng
mi bin ụng ca quc gia i Vit, khú cú th khng nh rng cỏc khu vc
duyờn hi chõu th sụng Hng l khu vc giao lu thng mi chớnh yu.
Mt vn t ra l vy thỡ trong thi kỡ thng mi sm ca quc gia
i Vit (th k X XV), õu l khu vc t ra vai trũ nng ng v chớnh yu
nht trong cỏc hot ng hi thng? Theo quan im ca Whitmore (1986
:130) thỡ nhng cng thuc vựng Ngh An v H Tnh (phớa nam lónh th i
Vit) hn phi cú tm quan trng hn vi t cỏch l nhng trung tõm thng
mi sm. Nu ch da vo nhng phõn tớch trờn, chỳng ta cng cha th khng
nh mt cỏch chc chn iu ny. Tuy vy cng cú th rỳt ra c rng, vo
bui u tham gia vo h thng thng mi bin ụng vi t cỏch l thnh viờn
mi, cỏc cng bin thuc khu vc Ngh Tnh ó tr thnh nhng a im mu
cht ca quỏ trỡnh giao lu kinh t gia cỏc quc gia tham d vo tuyn thng
mi ny. Hi Thng l mt trong s cỏc cng ú khi nm v trớ trung tõm khu
vc.
Nm phớa Nam lónh th Bc B, ca Hi cng nh cỏc ca bin thuc
Ngh Tnh ó mang nhng yu t thun li trong cỏc hot ng ngoi thng
xột trờn phng din v trớ a lch s. Trong bui u ginh c c lp t
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
9
phong kiến phương Bắc, Nghệ Tĩnh là khu vực biên viễn của quốc gia Đại Việt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
giáp này trong thời điểm lịch sử mà chúng ta đang xét đến (tất nhiên, đây là yếu
tố chính yếu).
Đóng vai trò là cửa sông chính của một hệ thống sông lớn nhất khu vực
Bắc Trung Bộ, Hội Thống là một điểm tới của các thương thuyền muốn xâm
nhập vào nội hạt Nghệ Tĩnh để trao đổi buôn bán bằng đường thủy. Sự phân bố
khá đều khắp của hệ thống sông Cả
(9)
trên địa bàn khu vực đặc biệt là ở phía
bắc, hình thành nên các nhánh sông tỏa đi các vùng miền khác nhau, tạo thành
một mạng lưới giao thông quan trọng mà Hội Thống là điểm nút cuối cùng, liên
kết với biển Đông.
1.2. Hội Thống với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các hoạt động
thương mại khu vực
- Cấu tạo địa hình của cửa Hội Thống và những đánh giá về khả năng
xâm nhập vào nội địa của các hải thuyền qua cửa biển này trong các thế kỉ X
- XVI:
Xét đến cấu tạo của cửa sông Lam, có thể thấy những điểm hết sức đặc
biệt về địa hình. Từ các nhánh sông xuất phát từ vùng thượng nguồn, các con
sông nhỏ hợp lưu thành dòng sông Cả (với ý nghĩa là sông lớn, sông mẹ) chảy
qua các khu vực thuộc các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên,
Nghi Lộc ngày nay và đổ ra biển qua cửa Hội. Cấu trúc của cửa sông khá đặc
biệt, và điều này cũng ảnh hưởng đến đặc tính của thủy triều ở đây. Khi viết
Nghệ An kí, Bùi Dương Lịch cũng chú ý vào điểm này của Hội Thống: “Cửa
Hội (Hội Hải) ở giáp giới hai huyện Nghi Xuân và Chân Phúc. Nước sông Lam
chảy ra cửa này. [Sông Lam] do các sông khác đổ vào, nguồn xa dòng dài. Nước
triều mặn dâng ngược lên rất gần. Đảo Song Ngư sừng sững ở cửa biển, thuyền
bè ra vào gặp nhiều khó khăn”.
(10)
địa điểm cửa lạch là khá lí tưởng, thêm vào đó, Hội Thống có sự che chắn của
đảo Ngư. Các thuyền bè vào đây tránh bão đều đỗ ở khu vực phía trong. Đây là
một qng khá rộng tạo thành một vũng biển khá an tồn và phẳng lặng.
Khơng chỉ đóng vai trò là địa điểm tránh bão cho các đồn thương thuyền
trên hải trình của họ, cũng như các cửa biển khác, Hội Thống có thể là nơi cung
cấp nước ngọt. Vị trí cửa sơng đã cho phép tiếp thêm lượng nước ngọt đủ cho
các thuyền bn. Vào những mùa khơ, lượng nước ở các khu vực Bắc Trung Bộ
là hiếm do ảnh hưởng mạnh mẽ của gió phơn Tây Nam
(13)
, các thuyền thường
tiến vào các cửa sơng và các nguồn lạch để tiếp thêm nước ngọt. Tất nhiên, kèm
theo các mục đích đó, hoạt động cơ bản nhất của họ vẫn là trao đổi bn bán tại
khu vực này, tiến sâu hơn nhằm thúc đẩy quan hệ bn bán trong nội địa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Nh vy, cu trỳc ca ca bin Hi Thng ó tht s mang li nhng iu
kin thun li cho hot ng ca cỏc thng thuyn trờn hnh trỡnh buụn bỏn
ca h. S tip cn khu vc Ngh Tnh trong sut mt thi kỡ khỏ di ca cỏc
on thng thuyn n t nhiu quc gia khỏc nhau ó cho h nhng kinh
nghim quý bỏu trong hot ng khu vc ny. Cú th ca Hi l mt a im
ỏng chỳ ý trong nhng mi liờn h cht ch, gn cht tuyn ng t la trờn
bin vi vựng biờn vin phớa nam ca i Vit Ngh Tnh.
- Yu t c tớnh giú mựa Ngh Tnh trong hot ng thng mi
ng bin khu vc:
Khớ hu khu vc Ngh Tnh cng to nờn nhng tỏc ng khụng nh
trong hot ng ca cỏc thng thuyn ni õy. Ngh Tnh l mt khu vc cú
khớ hu khỏ c bit. S thay i ca khớ hu c phõn bit khỏ rừ bng cỏc
loi giú mựa khỏc nhau: giú phn Tõy Nam (bt u t thỏng 3 v kt thỳc vo
thỏng 8), giú mựa ụng bc thi theo hng ngc li (bt u t thỏng 8 v kt
thỳc vo thỏng 2 nm sau). Da vo c tớnh v hng ca hai loi giú ny, cỏc
a hỡnh khu vc, chớnh vỡ th, cỏc thng thuyn nhanh chúng thc hin tip
cỏc hot ng buụn bỏn ca mỡnh.
Nh vy, cú th thy, mc du gõy khú khn cho cỏc hot ng sn xut
nụng nghip, khớ hu Ngh Tnh vi cỏc hot ng theo cỏc chiu hng khỏc
nhau ca cỏc loi giú mựa li to nờn nhng thun li cho hot ng hng hi v
kh nng xõm nhp t lin ca cỏc on buụn ngoi quc, c bit l cỏc i
thuyn n t phng Bc.
- Ngun li t nhiờn phong phỳ a dng ca mt khu vc thuc h
sinh thỏi ph tp ó thu hỳt cỏc on thuyn buụn trong cỏc hot ng trao
i:
õy chỳng tụi a ra ý kin ca mỡnh v nhng c trng ca mt khu
vc thuc h sinh thỏi ph tp
(16)
v nhng tỏc ng trỏi chiu nhau ca nú vo
hot ng ngoi thng. Ngun li t nhiờn phong phỳ a dng cho sn l thc
t khụng th ph nhn trong giai on lch s khu vc Ngh Tnh sau khi ginh
c lp t th k X. Mc du trc ú, cú s cp ot v khai thỏc ca phong
kin ụ h phng Bc trong nhiu th k. Cỏc loi lõm th sn, cỏc loi ng
thc vt phong phỳ di nc hay trờn cn l ngun sng chớnh yu cho c dõn
Ngh Tnh t nhng th k u nh c khu vc ny. Thc t lch s cho thy,
cỏc hot ng sn xut nụng nghip t ra cha sc cú th tr thnh ngun
chớnh cho hot ng sng ca con ngi ni õy. iu ny hon ton cú th gii
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
14
thớch c bng nhng phõn tớch v tỏc ng xu ca khớ hu, thiờn tai, ng
thi l kh nng canh tỏc ca cỏc ng bng Ngh Tnh.
Mt s hc gi cho rng cỏc yu t ca mt h sinh thỏi ph tp kim ta
v lm hn ch cỏc kh nng ny sinh v phỏt trin cỏc hot ng ngoi thng
hng bin ca cỏc c dõn sng trong mụi trng ú. Tuy nhiờn, cú l phi cú
cỏi nhỡn ton din hn v tỏc ng ca nú ti kinh t thng mi. Trong h sinh
im nỳt quan trng kt ni vi khu vc ni a. Cỏc cng bin a s thuc
khu vc cú cỏc con sụng ln nh nm trong h thng sụng Lam ra bin.
cỏc con sụng ny ni thụng nhau bng mt h thng giao thụng ng thy ó
khỏ hon chnh t thi tin Lờ nh chỳng ta ó phõn tớch. Chớnh vỡ vy thuyn
bố cú th d dng tip cn cỏc ca bin ny v xõm nhp vo sõu trong ni a
tin hnh giao thng. ng thi cú th linh hot s dng cỏc tuyn giao
thụng ng sụng ra bin bng ca khỏc. S li hi ca h thng cỏc ca
bin Ngh Tnh cú c l do bi s h tr ca mt tuyn giao thụng thy
hon chnh phớa trong ni ht thụng vi vựng bin phớa ngoi cựng vi cu trỳc
t nhiờn ca bin lý tng cho cỏc hot ng ca thuyn bố khi n õy. Chỳng
ta cú th xột n nhng ca bin Ngh Tnh
(17)
chớnh yu ó tham gia vo h
thng cỏc cng bin ca tuyn ng thng mi bin ụng, úng nhng vai trũ
khỏc nhau trong hot ng mu dch khu vc:
Ca Cn (Cn Hi) phớa Bc gii phn ca huyn Qunh Lu, cú sụng
Hong Mai chy ra. Ngun sụng nụng, gn, nc triu mn dõng ngc rt xa.
Ca Quốn (Quyn Hi) a phn huyn Qunh Lu cú nc sụng Hong
Mai v sụng Ngc chy ra. Ngun sụng nụng v gn, nc triu mn dõng
ngc cng xa. Nỳi Rng ng chn ngang khong ú.
Ca Thi (Thai Hi) gia giỏp gii hai huyn ụng Thnh v Qunh
Lu cú sụng Giỏt chy ra. Ca bin rt hp ỏ chõn nỳi Kim chn ngang
thuyn bố ra vo khụng thun li.
Cỏc ca ny thuc khu vc phớa bc ca Chõu Hoan nay thuc hai
huyn Qunh Lu v Din Chõu. ỏnh giỏ kh nng thu hỳt tu bố ra vo õy
trong lch s, i Vit s kớ ton th ó khng nh v s cú mt v hot ng
vo ra nhn nhp khu vc ca Thi v ca Quốn nh sau: Trc õy thi
nh Lý, thuyn buụn ti thỡ vo t cỏc ca bin Tha Viờn chõu Din. n nóy
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
16
Cửa Nhượng Bạn ở huyện Kỳ Hoa, có nước sơng Họ (Hộ) và sơng Rác
(Lạc Hạ) chảy ra. Nguồn sơng nơng hẹp, nước triều mặn dâng ngược hơi xa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
Ca Khu
()
(Hi Khu) huyn K Hoa, cú nc sụng Trớ v sụng ỡnh chy
ra. Sụng rt nụng hp, nc triu mn v dõng ngc khụng xa my. Ca Xớch
L
()
(Xớch L Hi) phớa Nam huyn K Hoa, cú ba khe Honh S, H B v
Di Du chy ra, nay cỏt si tp thnh ng
- Mt c im chung ca cỏc ca bin õy l thng gn lin vi khu
vc ra bin ca cỏc con sụng ln nh nm trong cỏc h thng sụng ln.
Trong ú ln nht l h thng sụng Lam. Tuyn giao thụng ng sụng thụng
sut vi tuyn ng thng mi bin ụng to nờn nhng phỏt hin mi ht
sc c ỏo v c trng ca con ng t la ny. Khụng ch l nhng hot
ng thng mi n thun trờn cỏc vựng bin hay ven bin, cỏc hot ng trao
i ca thuyn buụn n t cỏc quc gia xa xụi vi c dõn bn a vn c tin
hnh trờn h thng cỏc tuyn sụng trong ni a, thụng vi bin bng cỏc ca.
c tớnh ni kt sụng bin ca cỏc ca thuc h thng cỏc cng bin Ngh
Tnh ó a li nhng yu t mi ht sc c bit trong hot ng hi thng
ni õy.
im cn chỳ ý na ú l cỏc ca bin Ngh Tnh u cú ngun sụng
tng i hp, lũng sụng khỏ nụng. iu ny trờn thc t ó hn ch i rt nhiu
kh nng i ngc sụng i vo lc a ca cỏc thuyn buụn t chc thnh tng
on. Tuy vy, vi k thut úng tu bố cũn thp, nhng thuyn mnh kiu
Trung Hoa
(19)
thi ú theo chỳng tụi vn cú th lun lỏch xõm nhp vo t lin
và tiếp tục dịch chuyển xuống phía Nam để buôn bán, thu gom các loại sản vật
cư dân hay các thuyền buôn vùng khác đem đến. Đến khu vực các nhánh sông
Nam Nghệ Tĩnh, họ lại trở ra biển bằng các cửa ở đây. Điểm cuối của hệ thống
sông Lam là Hội Thống - đoạn sông chính đổ ra biển.
2.2. Vị trí của Hội Thống trong hệ thống các cảng biển Nghệ Tĩnh
Từ đây, có thể đánh giá những điểm mới về vị trí của Hội Thống trong hệ
thống các cảng biển Nghệ Tĩnh vào thời kỳ đầu tham gia vào tuyến hải thương
biển Đông của Đại Việt:
Thứ nhất, nằm giữa khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Nghệ Tĩnh ngày nay,
Hội Thống đóng vai trò là vị trí trung điểm của hệ thống các cảng phân bổ dọc
theo đường duyên hải này. Đây thực sự là một điểm nối kết quan trọng giữa các
cửa biển Bắc Nghệ An với các cảng Hà Tĩnh. Hội Thống gắn với Bến Thủy là
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
19
một khu vực tập trung thường xun của các thuyền bn. Là điểm khởi đầu và
kết thúc của các chuyến bn bán vào nội hạt, như chúng ta đã phân tích, vị trí
ngã tư đường của Bến Thủy là hết sức quan trọng cho các hoạt động ngoại
thương ở đây. Đồng thời là khả năng nối kết với các cửa biển khác: được thơng
suốt với các cảng ở phía Bắc bằng tuyến kênh đào khá hồn chỉnh, phía Nam có
sự liên hệ với các cửa thuộc Kỳ Anh, kể cả các cảng biển của Champa.
Thứ hai, đặc trưng nữa của cửa Đan Thai là mặc dầu cấu trúc của cửa biển
khó khăn cho các thuyền lớn xâm nhập, nhưng lại là lối thốt ra biển dễ dàng.
Điều này lý giải tại sao các thuyền bn thường chọn nơi đây làm điểm cuối
trong hải trình bn bán ở khu vực Nghệ Tĩnh. Một lượng lớn lâm thổ sản được
vận chuyển qua đây để đi ngược lên vùng biển Đơng Bắc Á trong suốt hàng mấy
thế kỷ của hoạt động thương mại biển Đơng.
Là cửa ngõ đổ ra biển của nhánh sơng chính của hệ thống sơng Lam, Hội
Thống được coi là cửa biển “chủ lực” ở đây trong các hoạt động thương mại.
Các cửa lạch của các nhánh sơng khác nhỏ hơn đóng vai trò hỗ trợ. Từ Hội
Thống, có thể tiếp cận tới nhiều địa phương khác nhau của khu vực nội hạt. Thời
Một số học giả trong đó có GS.Momoki Shiro cho rằng hoạt động thương
mại Đại Việt trong buổi đầu mới giành được độc lập chính là điểm tựa cho sự
phát triển mang tính liên tục của quốc gia này. Kể từ thế kỷ X, sau khi giành
được độc lập, Đại Việt không còn là trung tâm thương mại lớn ở biển Đông nữa.
Tuy vậy, sự phát triển mang tính liên tục của Đại Việt vẫn dựa vào việc quản lý
mạng lưới buôn bán và xuất khẩu hàng hóa hơn là vào sản xuất nông nghiệp
cũng như các nguồn hàng nông sản. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, nhà nước
Đại Việt đã xây dựng những công trình thủy lợi có quy mô lớn ở vùng châu thổ
sông Hồng và thiết lập chính quyền theo mô hình Trung Quốc. Nhưng việc tiếp
nhận văn hóa Trung Hoa không chỉ làm gia tăng nông nghiệp khu vực này mà
còn khuyến khích sự phát triển của các sản phẩm xuất khẩu mới, bao gồm cả
một số mặt hàng quan trọng như gốm sứ, tơ lụa…Thế lực được củng cố, Đại
Việt gạt bỏ sự cạnh tranh của Champa và tiếp tục chiếm lĩnh các cảng thị phồn
thịnh ở miền Trung Việt nam ngày nay, từ đó tái lập lại một thế lực hùng mạnh
trong hoạt động hải thương khu vực.
(21)
Những nhận thức và tư duy của người Việt trong buổi đầu giành được độc
lập và bắt tay xây dựng một quốc gia tự chủ ở khu vực Đông Nam Á đã trở nên
đầy đủ và xác thực hơn trong suốt thời kỳ này. Trong đó, yêu cầu phát triển một
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN