ĐH QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
Ngành QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Khóa 2010
MÔN HỌC:
QUẢN LÝ BỀN VỮNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
NHIÊN LIỆU SINH HỌC
GV: GS.TS LÊ CHÍ HIỆP
HV: NGUYỄN THỊ DIỆU
MHV: 1080100011
MỤC LỤC
II.1. Những lợi ích trong sản xuất nhiên liệu sinh học 13
II.1.1. Lợi ích về mặt kinh tế-xã hội 13
II.1.2. Lợi ích về mặt môi trường 16
II.2. Những mặt hạn chế trong sản xuất nhiên liệu sinh học 17
III. Ý kiến cá nhân về sản xuất nhiên liệu sinh học và vấn đề phát triển bền vững 18
MỞ ĐẦU
Trong tình hình khủng hoảng năng lượng hiện nay, các nước trên thế giới đều đi tìm
những nguồn năng lượng mới hoặc năng lượng có khả năng tái sinh, nhằm thay thế một
phần năng lượng dầu mỏ. Mặt khác vấn đề khí thải ô nhiễm môi trường cũng được quan
tâm song song. Nhiên liệu sinh học hiện đang là một loại nhiên liệu được thế giới quan
tâm và nó được coi là một hướng đi mới để giải quyết những vấn đề bất cập trên.
Nhiên liệu sinh học(NLSH) là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất có nguồn
gốc động thực vật (sinh học) như nhiên liệu chế xuất từ chất béo của động thực vật (mỡ
động vật,dầu dừa, ), ngũ cốc (khoai mỳ, ngô, đậu tương ), chất thải trong nông
nghiệp (rơm rạ, phân, ), sản phẩm thải trong công nghiệp (mùn cưa, sản phẩm gỗ
thải ),
Phân loại chính
- Nêu ý kiến cá nhân về việc sản xuất nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
I. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1. Tình hình sản xuất nhiên liệu sinh học trên Thế giới
Hiện nay trên quy mô toàn cầu, nhiên liệu sinh học là nguồn năng lượng lớn thứ tư, chiếm
tới 14-15% tổng năng lượng tiêu thụ của thế giới. Ở các nước đang phát triển, NLSH
thường là nguồn năng lượng lớn nhất, trung bình đóng góp khoảng 35% trong tổng cung
cấp năng lượng.
Hiện nay có khoảng 50 nước ở khắp các châu lục khai thác và sử dụng NLSH ở các mức
độ khác nhau. Năm 2006, toàn thế giới đã sản xuất khoảng 50 tỷ lít ethanol (75% dùng
làm nhiên liệu) so với năm 2003 là 38 tỷ lít, dự kiến năm 2012 là khoảng 80 tỷ lít; năm
2005 sản xuất 4 triệu tấn diesel sinh học (B100), năm 2010 sẽ tăng lên khoảng trên 20
triệu tấn. Sản lượng ethanol của một số nước đúng đầu trên thế giới được thể hiện trong
bảng sau:
Bảng 1.1. Tổng sản lượng Ethanol hàng năm 15 nước đứng đầu năm 2007( triệu tấn
gallon Mỹ)
Xếp hạng Đất nước Sản lượng
1 Mỹ 6.498,6
2 Brazil 5.019,2
3 Liên Minh Châu Âu 570,3
4 Trung quốc 486,0
5 Canada 211,3
6 Thái lan 79,2
7 Campuchia 74,9
8 Ấn Độ 52,8
9 Trung mỹ 39,6
10 Australia 26,4
11 Thổ nhĩ kỳ 15,8
12 Pakistan 9,2
13 Peru 7,9
lựa chọn duy nhất. Một trong những mục tiêu mà Chiến lược đề ra là đến 2050, Hàn Quốc
sẽ hoàn toàn không bị phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và giải pháp chính là tăng
cường năng lượng hạt nhân, phát triển năng lượng tái tạo.
Ở Nhật Bản, Chính phủ đã ban hành Chiến lược năng lượng sinh khối từ năm 2003 và
hiện nay đang tích cực thực hiện Dự án phát triển các đô thị sinh khối và đã có 208 đô thị
đạt danh hiệu này.
Ở Đức, hiện nay sản xuất điện từ bioga từ sinh khối hiện nay đang rất phát triển với số
lượng nhà máy đã đạt tới 4600 nhà máy với tổng công suất 1700MW năm 2009, và dự
kiến sẽ tăng lên 5400 nhà máy năm 2015.
Ở Canada, trường đại học Lakehead hiện đang nghiên cứu chế tạo dầu sinh học thông qua
việc hoá lỏng các loại sinh khối, chất thải trong nông nghiệp như phần thải từ cây lúa mì,
ngô, v.v
Ở Thái Lan, Chính phủ đề ra mục tiêu năng lượng tái tạo đạt 20% trên tổng năng lượng
tiêu thụ vào năm 2022. Thái Lan đã bãi bỏ việc sử dụng dầu diesel 100% từ 2008, thay
vào đó là B2 và dự kiến đến năm 2011 sẽ chuyển sang B5. Biodiesel chủ yếu được sản
xuất từ dầu cọ (palm oil) với tổng khối lượng là 1,3 triệu tấn biodiesel/ngày (2008) và dự
kiến đến 2022, số lượng này sẽ là 4,5 triệu lít/ngày. Thái Lan cũng tích cực thức đẩy việc
thu mua, tái chế các loại dầu ăn thải bỏ sau sử dụng từ các cơ sở công nghiệp thực phẩm,
từ các nhà hàng, khách sạn, các hộ gia đình để sản xuất thức ăn gia súc và chế biến
biodiesel.
Ở Phillipine, Luật nhiên liệu sinh học (Biofuel Act) được ban hành từ năm 2006 với mục
tiêu giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch. Hiện nay việc sản xuất B2 và E5 là bắt
buộc đối với các nhà sản xuất, phân phối nhiên liệu ở Phillipine.
Malaysia và Indonesia là hai quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới, riêng sản lượng
của Malaysia là 15,8 triệu tấn (2008) và việc sản xuất dầu biodiesel đã được thực hiện từ
20 năm nay, mặc dù Luật công nghiệp nhiên liệu sinh học mới được ban hành gần đây
(2007). Indonesia, ngoài sản xuất biodiesel từ dầu cọ, hiện cũng đang thúc đẩy thực hiện
Dự án làng tự cung cấp về năng lượng theo đó khuyến khích phát triển năng lượng từ sinh
khối như chất thải vật nuôi, chất thải của sản xuất cacao, v.v… Ngoài dầu cọ, Indonesia
đang phát triển mạnh cây cọc rào (jatropha) để sản xuất diesel sinh học.
tổ chức quy hoạch và thực hiện vùng nguyên liệu theo hướng sử dụng đất triệt để, tạo ra
nhiều loại giống có sản lượng cao và sở hữu các công nghệ tách dầu từ nguyên liệu.
Theo thống kê, hiện nay, nước ta đã có nhiều dự án sản xuất NLSH từ sắn, rỉ đường, như
dự án đầu tư Nhà máy sản xuất ethanol có công suất 120 triệu lít/năm của Công ty cổ
phần Ðồng Xanh, hay 1 số nhà máy khác đang trong giai đoạn thi công như Nhà máy sản
xuất ethanol nhiên liệu Dung Quất có công suất thiết kế 100 triệu lít/năm, Nhà máy sản
xuất ethanol nhiên liệu Bình Phước công suất 100 triệu lít/năm.
Tại miền bắc, Công ty cổ phần hóa dầu và NLSH Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam đã khởi công xây dựng Nhà máy sản xuất nhiên liệu ethanol tại tỉnh Phú Thọ với
công suất 100 nghìn m
3
/năm. Bên cạnh đó, nước ta cũng đã có hai nhà máy sản xuất
diesel sinh học từ mỡ cá tại TP Cần Thơ và tỉnh An Giang với tổng công suất 80 tấn/ngày.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, ngành công nghiệp NLSH Việt Nam đang tăng tốc
nhanh. Theo kế hoạch, đến năm 2011, cả nước sẽ có 5 nhà máy sản xuất ethanol nhiên
liệu đi vào hoạt động với tổng công suất 365.000 tấn/năm đủ để pha chế 7,3 triệu tấn xăng
E5.
Các dự án nhà máy NLSK trong tương lai tại Việt Nam
Tên nhà máy Công suất Ngày hoạt
động dự kiến
Chủ đầu tư Tiến độ
Nhà máy Đại Lộc,
Quảng Nam
100
Triệu lít/năm Tháng 3/2009
Công ty Đồng
Xanh
Đang hoàn thành
lắp đặt máy
bản và PV OIL
Dự kiến quý I năm
2010 ký hợp đồng
EPC và khởi công
Nước ta có tiềm năng nguyên liệu, cùng với hợp tác quốc tế và đi sau các nước về phát
triển nhiên liệu sạch nên có thể rút kinh nghiệm, học hỏi để phát triển hiệu quả bền vững.
Nhưng trước mắt còn nhiều rào cản, tất cả phụ thuộc vào vai trò điều hành của Chính phủ
và sự đồng thuận, tham gia của cộng đồng xã hội.
II. NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ MẶT HẠN CHẾ CỦA VIỆC SẢN XUẤT NHIÊN
LIỆU SINH HỌC
II.1. Những lợi ích trong sản xuất nhiên liệu sinh học
II.1.1. Lợi ích về mặt kinh tế-xã hội
− NLSH có thể giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đắt đỏ, đang
cạn kiệt:
Do NLSH có thể thay thế nhiên liệu hóa thạch sử dụng trong các phương tiện giao thông
và các thiết bị năng lượng và đây còn là loại nhiên liệu bền vững nên có thể thay cho các
nguồn năng lượng hóa thạch đắt đỏ đang bị cạn kiệt.
− NLSH có thể tăng cường an ninh năng lượng quốc gia
Sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu có thể không những làm suy kiệt dự trữ ngoại tệ của
quốc gia, mà còn tạo ra sự mất ổn định về an ninh năng lượng của quốc gia đó. Từ khi
NLSH được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu bản địa của nhiều nước châu Á, loại nhiên
liệu này có vai trò là nhiên liệu thay thế cho các nhiên liệu hóa thạch có thể giảm sự phụ
thuộc nhập khẩu dầu và tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.
− NLSK có thể hình thành sự tham gia của các xí nghiệp vừa và nhỏ
Khác với nhiên liệu dầu và khí, thậm chí là than cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng lớn để
khai thác và xử lý, với sự tham gia của các tập đoàn lớn và các Công ty đa quốc gia, việc
sản xuất NLSH sẽ không đòi hỏi đầu tư và xây dựng các nhà máy xử lý tổng hợp lớn.
− Nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp
Ngành kinh tế nông nghiệp ngoài chức năng cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên liệu
công nghiệp, giờ đây có thêm chức năng cung cấp năng lượng sạch cho xã hội, đóng góp
2
(loại khí nhà kính chủ
yếu) tăng trên 30% so với thời kỳ tiền công nghiệp (từ 280 ppm tăng lên 360 ppm), nhiệt
độ trái đất tăng 0,2- 0, 4
0
C. Nếu không có giải pháp tích cực, thì đến năm 2050, tác hại
của khí độc hại và nồng độ khí nhà kính có thể tăng lên 400 ppm và sẽ gây ra hậu quả
khôn lường về môi trường sống.
Sử dụng NLSK là giảm thiểu ô nhiễm môi trường vì nguyên liệu sử dụng để sản xuất
NLSK là cồn và dầu mỡ động thực vật, không chứa các hợp chất thơm, hàm lượng lưu
huỳnh cực thấp, không chứa chất độc hại. Sử dụng NLSK so với xăng dầu giảm khoảng
được 70% khí CO
2
và 30% khí độc hại, do NLSK chứa một lượng cực nhỏ lưu huỳnh,
chứa 11% oxy, nên cháy sạch hơn. NLSK phân hủy sinh học nhanh, ít gây ô nhiễm nguồn
nước và đất.
Các cây trồng nông nghiệp và các nguyên liệu sinh khối khác được coi là các nguyên liệu
góp phần làm trung hòa cácbon bởi chu kỳ sống thực tế của nó, thực vật thu cácbon điôxit
thông qua quá trình quang hợp.Tuy nhiên, các nguyên liệu đầu vào sử dụng trong quá
trình sản xuất NLSK được coi là nguyên liệu tái tạo và có khả năng làm giảm phát thải
khí nhà kính (GHG).
Tuy nhiên, cho dù các nhiên liệu đầu vào tự chúng có khả năng trung hòa cácbon, thì quá
trình chuyển đổi các vật liệu thô thành NLSK có thể gây phát thải cácbon vào khí quyển.
Vì vậy, NLSK phải góp phần vào giảm phát thải các bon, chúng phải được chứng minh
giảm thải thực sự GHG trong tất cả chu trình sản xuất và sử dụng NLSK.
Bên cạnh đó, NLSK khi thải vào đất bị phân hủy sinh học cao gấp 4 lần so với nhiên liệu
dầu mỏ và do đó giảm được rất nhiều tình trạng ô nhiễm đất và nước ngầm.
Vì vậy, việc sử dụng NLSK giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm thiểu khí nhà kính
giúp ngăn chặn vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu.
II.2. Những mặt hạn chế trong sản xuất nhiên liệu sinh học
trong sản xuất NLSH, chúng ta cần thưc hiện các biện pháp như:
- Tại các địa phương cho phép đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất NLSH cần phải
siết chặt công tác quản lý về môi trường( giám sát định kỳ hiệu quả xử lý chất thải
thải tại các nhà máy đó.
- Cần có quy hoạch vùng trồng nguyên liệu, nghiên cứu nguồn nguyên liệu hợp lý
để không ảnh hưởng tới an ninh lương thực. Nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu
sinh học ưu tiên lựa chọn với tiêu chí không dùng làm lương thực thực phẩm, có
năng suất và hiệu suất chuyển hóa nhiên liệu cao, có tiềm năng trồng trên đất
nghèo dinh dưỡng và ao hồ hoang hóa. Đặc biệt, loại nguyên liệu này phải có giá
thành thấp như là các phế liệu nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến. Đồng
thời, phát triển nhiên liệu sinh học để đảm bảo an ninh năng lượng và giảm phát
thải khí nhà kính.
- Áp dụng các công nghệ tiên tiến trong sản xuất, áp dụng các phương pháp quản lý
nhằm hạn chế lượng chất thải phát sinh, tuần hoàn các nguồn năng lượng, tận dụng
lại chất thải nhằm giảm lượng chất thải phát sinh trong sản xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Ngành dầu thực vật, Thông tin kinh tế - xã hội, Bộ Kế hoạch và đầu tư;
http://www.mpi.gov.vn.
2/ Nhiên liệu sinh học: Làn song của tương lai- T.S Đoàn Đức Lân, KHOAHOC.com.vn.
3/ Những vấn đề phát triển năng lượng sinh khối của Việt Nam- Nguyễn Quang Khải -
Báo cáo tại Hội thảo Phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam.
4/ Quy hoạch phát triển ngành Dầu thực vật Việt Nam đến năm 2010; Bộ Công
nghiệp; http://www.moi.gov.vn.
5/ Sản xuất điện từ vỏ trấu, mùn cưa;; 14/3/2006, www.khoahoc.com.vn.
6/ Sử dụng năng lượng từ chất phế thải sinh khối; Trang tin ngành điện;
29/5/2006; http://www.icon.evn.com.vn.