THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC DẠY-HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
THEO CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA HIỆN HÀNH
Vũ Thị Thanh Hương
11. VẤN ĐỀ
Quốc hội khoá X đã ra Nghị quyết 40 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Mục tiêu của
việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là “xây dựng chương trình, phương pháp giáo
dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với
thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển
trong khu vực và thế giới”
2
.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá X, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình
các môn học bậc Tiểu học (2001), Trung học cơ sở (2002) và Trung học phổ thông (2006). Theo
đó, các sách giáo khoa tương ứng cũng đã được biên soạn, được dạy thử nghiệm, được chỉnh sửa và
hiện đang được triển khai dạy đại trà ở tất cả các cấp học phổ thông.
Sau khi chương trình và sách giáo khoa Tiểu học (TH) và Trung học cơ sở (THCS) được triển
khai đại trà, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục đã có một đề tài khoa học độc lập cấp Nhà
nước (2004) về “Nghiên cứu đánh giá chất lượng và hiệu quả triển khai đại trà chương trình, sách
giáo khoa mới bậc Tiểu học và Trung học cơ sở trong phạm vi cả nước” với mục tiêu là đánh giá
khách quan, khoa học mức độ đáp ứng của chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) mới đối với
yêu cầu nêu ra trong Nghị quyết 40/2000/QH10. Theo kết luận của báo cáo “Khảo sát thực trạng tổ
chức dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới ở trường Tiểu học và trường Trung học cơ
sở”
3
, bản thân CT, SGK mới không gây quá tải, quá sức đối với học sinh cả ở TH lẫn THCS, được
3
Bộ GD & ĐT, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, đề tài KHCN độc lập cấp nhà nước 2004/23; 2006.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số kết quả nghiên cứu liên quan đến tình hình
dạy-học tiếng Việt theo CT và SGK hiện hành thông qua phân tích thái độ của giáo viên đang dạy
môn tiếng Việt/Ngữ văn ở cả 3 cấp TH, THCS và THPT. Ngoài phần Mở đầu/Vấn đề, Phương
pháp nghiên cứu, và Kết luận, phần Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày 4 nội dung chính, đó là: a)
Đánh giá của giáo viên về kết quả học môn tiếng Việt của học sinh theo CT và SGK hiện hành; b)
Đánh giá của giáo viên về khả năng thực hiện CT và dạy-học theo CT và SGK hiện hành; c) Thái
độ của giáo viên đối với CT và SGK hiện hành, và d) Đánh giá của giáo viên về những khó khăn
và nhu cầu bồi dưỡng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Có 307 giáo viên dạy môn tiếng Việt/Ngữ văn ở các trường TH, THCS và THPT tại 4
tỉnh/thành phố là Ninh Bình (đại diện cho khu vực nông thôn miền Bắc), Thanh Hóa (đại diện cho
khu vực thành thị), Quảng Trị (đại diện cho khu vực miền Trung) và Điện Biên (đại diện cho khu
vực miền núi phía Bắc) tham gia vào nghiên cứu này
4
. Tư liệu được thu thập chủ yếu bằng phỏng
vấn có sử dụng bảng hỏi được cấu trúc hóa. Một số buổi phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng
được thực hiện tại thành phố Thanh Hóa. Trong số 307 giáo viên này có 91 người đang dạy ở TH
(chiếm 31,2%), 131 người đang dạy THCS (chiếm 42,5%), 80 người đang dạy THPT (chiếm
26,3%), và 68 người là giáo viên nam (chiếm 22,5%). Đa số các giáo viên (44,2%) có thâm niên
giảng dạy từ 5-10 năm và phần lớn có trình độ đào tạo đại học sư phạm (43.1%) hoặc cao đẳng sư
phạm (47.9%), tức là đạt chuẩn quốc gia về chuyên môn, và hơn nửa trong số họ (54,7%) đang dạy
tại các trường ở vùng sâu, vùng xa.
Các kết quả thu được từ bảng hỏi được xử lí định lượng thông qua phần mềm thống kê SPSS,
các tư liệu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được phân tích định tính theo nội dung chủ đề.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá của giáo viên về kết quả học môn tiếng Việt của học sinh theo CT và SGK hiện
X
2
0,000
2.Vùng địa lí Kém TB Khá Giỏi Lẫn lộn
Thành thị 1(1,9%) 15(28,3%) 9(17%) 18(34%) 10(18,9%)
Nông thôn 2(2,5%) 47(58%) 17(%) 0 15(18,5%)
Vùng sâu 3(1,8%) 102(61,8%) 21(12,7%) 2(1,2%) 37(22,4%)
X
2
0,000
3.Thâm niên Kém TB Khá Giỏi Lẫn lộn
<5 năm 0 30(69,8%) 3(7%) 1(2,3%) 9(20,9%)
5 - 10 năm 4(3%) 81(60%) 18(13,3%) 0 32(23,7%)
11 - 15 năm 0 16(48,5%) 9(27,3%) 2(6,1%) 6(18,2%)
>15 năm 2(2,4%) 34(40%) 18(21,2%) 17(20%) 14(16,5%)
X
2
0,000
(X
2
là chỉ báo về mức độ có ý nghĩa của các con số thống kê. Nếu X
2
≤ 0,05 thì có thể kết luận sự
khác biệt giữa các nhóm là có ý nghĩa về mặt thống kê.)
3.2 Đánh giá của giáo viên về khả năng dạy-học theo chương trình và sách giáo khoa hiện
hành
Một trong những mục tiêu của lần đổi mới CT và SGK vừa rồi là đổi mới phương pháp giảng
- ít (dưới 10%)
- tương đối (10-50%)
- khá nhiều (trên 50%)
15(17%)
33(37,5%)
40(45,5%) 7(5,4%)
73(56,6%)
49(38%) 6(7,8%)
39(50,6.%)
30(39%)
X
2
0.006
2. HS làm vi
ệc độc lập cá nhân:
- ít (dưới 10%)
- tương đối (10-50%)
- tương đối (10-50%)
- khá nhiều (trên 50%) 15(15,8%)
55(57,9%)
25(26.3%) 38(29,9%)
56(44,1%)
33(26%) 34(45,3%)
31(41,3%)
9(12%)
X
2
0.001
4. HS tham gia ho
ạt động ngôn ngữ:
2(2.7%)
X
2
0.000
5. HS thảo luận cả lớp:
- ít (dưới 10%)
- tương đối (10-50%)
- khá nhiều (trên 50%) 12(12.9%)
44(47.3%)
36(38.7%) 35(27.6%)
60(47.2%)
31(24.4%) 21(28.8%)
34(46.6%)
18(24.7%)
0.046
Không chỉ không có đủ thời gian để sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực mà khi sử
dụng, nhiều giáo viên cũng thông báo là họ gặp nhiều lúng túng, và điều này có sự khác biệt đáng
kể giữa giáo viên dạy ở các vùng, miền khác nhau. Cụ thể, khi cho học sinh làm việc nhóm, có
30,5% giáo viên dạy ở vùng nông thôn, 32,3% giáo viên dạy ở vùng sâu vùng xa thừa nhận là họ
có gặp khó khăn, trong khi tỉ lệ này ở các giáo viên thành phố là 19,2% (X² = 0.01). Tỉ lệ cũng gần
tương tự khi giáo viên được hỏi về khả năng sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực.
Đổi mới chương trình không chỉ hướng đến đổi mới phương pháp giảng dạy mà còn hướng đến
đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh. Trong 4 phương pháp đánh giá được đưa ra để
hỏi (kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận, kiểm tra miệng, học sinh tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau), các giáo viên của cả 3 cấp TH, THCS và THPT đều nhìn nhận là họ sử dụng
phương pháp kiểm tra bằng câu hỏi tự luận và kiểm tra miệng tương đối nhiều (1-3 lần/tháng) cho
đến khá nhiều (1-3 lần/tuần). Các giáo viên TH và THCS có xu hướng dùng nhiều phương pháp
đánh giá bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan hơn các giáo viên THPT. Đặc biệt, các giáo viên
TH đã sử dụng phương pháp cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau nhiều hơn hẳn các giáo
viên THCS và THPT (Bảng 3). Nếu kiểm tra bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và phương
pháp cho học sinh tự đánh giá cũng như đánh giá lẫn nhau là 2 phương pháp đánh giá của đường
hướng học tập lấy học sinh làm trung tâm, kết quả khảo sát chỉ ra rằng các giáo viên THPT vẫn còn
chậm đổi mới so với yêu cầu đặt ra. Để tìm hiểu kĩ hơn nguyên nhân dẫn đến tình hình này, các
giáo viên đã được yêu cầu đánh giá khả năng sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau của
mình. Kết quả (Bảng 4) cho thấy có 25,2% giáo viên THCS và 25% giáo viên THPT cho rằng họ
gặp khó khăn khi sử dụng nhiều chiến lược đánh giá học sinh, trong khi tỉ lệ này ở giáo viên TH là
6,5%. Như vậy, việc các giáo viên THCS và THPT ít sử dụng các phương pháp đánh giá mới là vì
họ cảm thấy có khó khăn. Mặc dù các giáo viên thành phố có tỉ lệ sử dụng tốt các phương pháp
đánh giá mới cao hơn so với tỉ lệ này ở các giáo viên nông thôn và vùng sâu, nhưng tỉ lệ giáo viên
gặp khó khăn ở cả 3 vùng không có sự khác biệt đáng kể (17,6% giáo viên thành phố, 21% giáo
viên nông thôn và 19% giáo viên vùng sâu gặp khó khăn khi sử dụng nhiều phương pháp đánh giá).
Bảng 3: Các chiến lược kiểm tra, đánh giá học sinh
28(32,2%)
41(47,1%)
0
20(15,7%)
50(39,4%)
57(44,9%)
0
15(19,7%)
40(52,6%)
21(27,6%)
X
2
0,067
3. Kiểm tra miệng:
- Không bao giờ
- ít (1-4 lần/năm)
- tương đối (1-3 lần/tháng)
- khá nhiều (1-3 lần/tuần)
0
2(2,2%)
12(13,2%)
77(84,6%)
0
11(8,7%)
15(11,9%)
100(79,4%)
0,000
Ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá, chương trình hiện
hành còn có một số yêu cầu mới nữa so với chương trình cũ, đó là CT và SGK hiện hành được xây
dựng theo nguyên tắc tích hợp các phân môn tiếng Việt, Văn học và Tập làm văn, giáo viên phải có
khả năng sử dụng nhiều phương tiện dạy học mới, và phải có khả năng cá nhân hóa việc dạy-học
của học sinh (dạy lớp có học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau). Theo đó, các giáo viên được đề
nghị đánh giá khả năng dạy học của mình theo 4 thang đo: 1) không bao giờ thực hiện/không thích
hợp, 2) thực hiện nhưng có khó khăn, 3) làm được và 4) làm tốt. Kết quả được trình bày ở Bảng 4.
Bảng 4: Khả năng thực hiện chương trình mới tính theo cấp học
Các yêu cầu Tiểu hoc THCS THPT
1. Dạy tích hợp TV, văn học và
TLV:
- Không thích hợp
- Có khó khăn
- Làm được
- Làm tốt
6(6,5%)
22(23,7%)
57(61,3%)
8( 8,6%)
0
27(21,1%)
88(68,8%)
13(10,2%)
1(1,3%)
- Làm được
2(2,2%)
6(6,5%)
69(75,0%)
15(16,3%)
3(2,4%)
32(25,2%)
82(64,6%)
10(7,9%)
0
19(25%)
48(63,2%)
9(11,8%)
- Làm tốt
X² 0,08
4. Sử dụng phương tiện dạy học
mới:
- Không thích hợp
- Có khó khăn
- Làm được
- Làm tốt
29(31,5%)
32(34,8%)
31(33,7%)
0
Giáo viên của cả 3 cấp học đón nhận chương trình môn tiếng Việt/Ngữ văn hiện hành khá tích
cực. Đa số giáo viên khẳng định chương trình hiện hành có phát triển so với chương trình cũ,
không quá khó so với trình độ của giáo viên, và thời lượng dành cho học trên lớp là vừa phải. Tuy
nhiên, nếu như đa số giáo viên TH (54.3%) đồng ý với nhận định rằng chương trình phù hợp với đa
số học sinh của mình thì đa số giáo viên THCS và THPT chỉ tạm chấp nhận tuyên bố này. Điều này
cũng phù hợp với đánh giá của các giáo viên về kết quả học môn tiếng Việt/Ngữ văn của học sinh,
theo đó giáo viên TH cho rằng đa số học sinh của mình đạt kết quả khá-giỏi, còn giáo viên THCS
thì lại cho rằng đa số học sinh của mình chỉ đạt kết quả trung bình.
3.3.2 Thái độ của giáo viên đối với sách giáo khoa:
- Đa số các giáo viên TH đồng ý với các nhận định rằng SGK tiếng Việt hiện hành trình bày đẹp,
ngôn ngữ trong sáng, các qui tắc ngôn ngữ trình bày đơn giản, ví dụ rõ ràng, kiến thức tiếng Việt cung cấp
trong sách cần thiết, giúp học sinh sử dụng tiếng Việt tốt hơn, các chủ đề và nội dung đa dạng, thiết thực.
Các giáo viên TH cũng thừa nhận rằng SGK hiện hành có nhiều hoạt động thực hành, giúp giáo viên tổ
chức tốt các hoạt động học tập, khiến cho học sinh hứng thú học hơn, giáo viên thích dạy hơn và do đó
giúp nâng cao chất lượng dạy học. Hơn 85% giáo viên TH được hỏi cũng cho rằng họ được tập huấn kĩ
về cách sử dụng chương trình và sách giáo khoa mới, tuy nhiên, chỉ có 51% thông báo rằng họ có đủ tài
liệu để tham khảo về CT và SGK hiện hành. Mặc dù CT và SGK tiếng Việt tiểu học được đa số giáo viên
đón nhận tích cực, đa số vẫn cho rằng sách có nhiều điểm về nội dung cần chỉnh sửa, và cho rằng ngoài
giờ học chính khóa, học sinh của họ vẫn cần phải học thêm để đảm bảo nắm được kiến thức trong chương
trình. Kết quả này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của các giáo viên và phụ huynh trong các cuộc
thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu. Mặc dù cha mẹ và giáo viên đều thừa nhận là học sinh tiểu học ngoài
giờ học ở trường (với nhiều nơi là 2 buổi) thì về nhà các em vẫn phải dành nhiều thời gian làm bài tập, và
ngoài ra, muốn học tốt chương trình, các em cần phải học thêm môn tiếng Việt.
- Cũng giống như giáo viên TH, đa số các giáo viên THCS cho rằng SGK Ngữ văn hiện hành trình
bày đẹp, các kiến thức tiếng Việt cung cấp trong sách đều cần thiết để giúp học sinh sử dụng tiếng Việt tốt
hơn. Tuy nhiên, so với các giáo viên TH, tỉ lệ giáo viên THCS đồng ý với các tuyên bố cho rằng SGK
phù hợp với nhiều loại trình độ của học sinh, rằng họ thích dạy theo chương trình và SGK mới, rằng học
sinh của họ thích học theo SGK hiện hành giảm đi đáng kể. Chỉ khoảng gần một nửa giáo viên THCS
được hỏi cho rằng SGK hiện hành có ngôn ngữ trình bày trong sáng, các chủ đề và nội dung đa dạng, thiết
thực, có nhiều hoạt động thực hành, giúp cho giáo viên tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy và do đó giúp
51(54,3%)
38(40,4%)
5(5,3%)22(16,9%)
86(66,2%)
22(16,9%)19(24,4%)
47(60,3%)
12(15,4%)
X²
0,000
2. CT hiện hành có phát triển so với CT
cũ
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
80(87%)
15(16,3%)
62(67,4%)14(11,3%)
30(24,2%)
80(64,5%)8(10,5%)
1
7(22,4%)
51(67,1%)
X²
0,234
4. Thời lượng học trên lớp vừa phải
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
66(71%)
20(21,5%)
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
10(10,9%)
0
32(25,4%)
5(4.0%)
35(44,9%)
8(10.3%)
X²
0,000
6. Các quy tắc ngôn ngữ trình bày đơn
giản, ví dụ dễ hiểu - Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
70(77,8%)
18(20,0%)
2(2,2%)60(47,2%)
2(1,6%)54(70,1%)
20(26%)
3(3,9%)
X²
0,068
8. Chủ đề và nội dung đa dạng, thiết
thực
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
81(85,3%)
12(12,6%)
2(2,1%)71(55,9%)
52(40,9%)
31(39,7%)
32(41%)
15(19,3%)
X²
0,000
10. SGK mới giúp nâng cao chất lượng
dạy học
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
76(80%)
18(18,9%)
1(1,1%)69(54,3%)
49(38,6%)
9(7%)
17(22,7%)
51(68%)
X²
0,004
12. Tôi được tập huấn kĩ về cách sử
dụng CT và SGK mới - Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
79(85,8%)
12(13%)
1(1,1%)78(62,4%)
34(27,6%)
11(8,9%)35(44,8%)
29(37,2%)
X²
0,003
14. Tôi thích dạy theo CT và SGK mới
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý
70(74,5%)
19(20,2%)
5(5,4%)60(47,7%)
51(40,5%)
15(11,9%)31(40,8%)
36(47,4%)
9(11,8%)
X²
0,000
X²
0,000
16. HS lớp tôi không cần học thêm môn
TV/ngữ văn ngoài giờ học chính khoá
- Đồng ý
- Tạm chấp nhận
- Không đồng ý 19(21,1%)
10(11,1%)
61(67,7%)
17(13
,7%)
25(20,2%)
82(66,1%)
15(19,2%)
14(17,9%)
3. Sử dụng phương tiện dạy học mới 3(7.1%) 18(23.7%) 50(33.3%)
4. Phương pháp đánh giá mới 1(2.4%) 2(2.6%) 3(2.0%)
5 Khác 1(2.4%) 0 0
4. KẾT LUẬN
Để thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông,
chương trình và sách giáo khoa các môn học đã được xây dựng lại theo hướng đổi mới nội dung và
phương pháp dạy-học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Việc tìm hiểu thái độ của giáo viên đối
với việc dạy-học theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã cung cấp cho chúng ta một góc
nhìn khách quan về mức độ đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong Nghị quyết của Quốc hội đối với công
cuộc đổi mới giáo dục phổ thông.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy các giáo viên ở cả 3 cấp TH, THCS và THPT đều đón nhận
chương trình và sách giáo khoa môn tiếng Việt/Ngữ văn một cách tích cực. Cụ thể, đa số các giáo
viên được hỏi đều thừa nhận là chương trình hiện hành có đổi mới so với chương trình cũ, phù hợp
với trình độ của đa số giáo viên, và có góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Sách giáo khoa tiếng
Việt/Ngữ văn cũng được đa số các giáo viên thừa nhận là có hình thức và trình bày đẹp và chứa các
kiến thức cần thiết cho học sinh. Tuy nhiên, đi vào các khía cạnh cụ thể của việc dạy-học theo
chương trình và sách giáo khoa hiện hành, có sự khác biệt về thái độ của giáo viên giữa các cấp học
và các vùng miền khác nhau.
Các kết quả phân tích đã chỉ ra rằng đa số giáo viên TH hài lòng với chương trình và sách giáo
khoa tiếng Việt hiện hành, họ được chuẩn bị tốt để dạy, học sinh của họ thích học, bản thân họ thích
dạy và đa số học sinh của họ đạt kết quả khá-giỏi. Một tỉ lệ tương đối lớn các giáo viên TH cũng
báo cáo có sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực và nhiều phương pháp đánh giá khác nhau.
Các kết quả phân tích cũng cho thấy mức độ hài lòng giảm dần ở các giáo viên THCS và đặc
biệt ở giáo viên THPT. Nhiều giáo viên THPT cho rằng sách chưa thực sự phù hợp với nhiều loại
trình độ của học sinh, rằng học sinh của họ chưa thực sự thích học và họ cũng chưa thực sự thích
dạy theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành. Nhiều giáo viên THCS và THPT cảm thấy có
khó khăn khi dạy-học theo phương pháp tích cực và sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác
nhau, điều này đặc biệt đúng với các giáo viên giảng dạy ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa.
Các giáo viên THCS cho rằng đa số học sinh của họ chỉ đạt được kết quả trung bình khi học theo
6. Đỗ Ngọc Thống (2004), Dạy học ngữ văn theo chương trình mới cho các đối tượng khác nhau,
Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục.
7. Hà Quang Năng (1996), “Từ thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh tiểu học, suy nghĩ về cách
dạy và sách giáo khoa hiện nay”, Sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học hiện hành và chương
trình tiếng Việt bậc tiểu học sau năm 2000, Nxb Giáo dục.
8. Hồng Vân (2006), Hệ thống đề tài kiểm tra đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh trung học
cơ sở theo yêu cầu tích hợp, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục.
9. Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục (2006), Đánh giá khả năng thực hiện chương trình
và sách giáo khoa mới của giáo viên Tiểu học và THCS, Hà Nội.
10. Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục (2006), Đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của
học sinh Tiểu học và THCS theo chương trình và sách giáo khoa mới, Hà Nội.
11. Viện Khoa học Giáo dục (2000) “Dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông: hiện trạng và
phương hướng đổi mới”, BCKH, Kỉ yếu hội thảo Dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ
thông đầu thế kỉ 21.
12. Vũ Thị Thanh Hương (2005), “Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa thái độ và hành vi ngôn
ngữ (qua cứ liệu về cách phát âm (l) và (n) ở làng Tân Khai, xã Vĩnh Tuy, Hà Nội)”, Hội thảo
quốc tế Ngôn ngữ học Liên Á lần thứ VI, NXB Khoa học xã hội, tr. 624-637.
SUMMARY
Vietnamese language teachers’ attitudes towards the new curriculum and
textbooks
Vu Thi Thanh Huong
Institute of Linguistics
The aim of the present paper is to explore experiences and attitudes of Vietnamese language
teachers towards the teaching of Vietnamese language arts according to the new curriculum and
textbooks. The research results of teachers attitudes and experiences could be used to highlight the
effectiveness of the language policy and its implementation in practices.