Đánh giá khả năng phát âm phụ âm đầu của trẻ khiếm thính (Có mang thiết bị trợ thính và trị liệu ngôn ngữ) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT ÂM PHỤ ÂM ĐẦU
CỦA TRẺ KHIẾM THÍNH
(CÓ MANG THIẾT BỊ TRỢ THÍNH VÀ TRỊ LIỆU NGÔN NGỮ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Nguyễn
Văn Lợi. Các số liệu và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên Vũ Thùy Linh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc nhất tới GS. TS Nguyễn Văn Lợi. Thầy là người luôn động
viên, khích lệ và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề
tài này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh/ chị đồng nghiệp tại
Trung tâm thính học và trị liệu ngôn ngữ trẻ em – Bệnh viện Nhi Trung
Ương, gia đình các trẻ em khiếm thính đã cộng tác cùng tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy/cô trong khoa Ngôn ngữ
học đã luôn tạo điều kiện cho tôi học tập cũng như trao đổi tư liệu để giúp tôi
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 5 tháng 01 năm 2015

2. Phạm vi nghiên cứu 3

3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4. Đóng góp của luận văn 4

5. Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN: CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ
LIỆU NGHIÊN CỨU 6

1. Cơ sở lí luận 6

1.1. Khiếm thính 6

1.1.1.Khái niệm 6

1.1.2. Bệnh khiếm thính 6

1.1.3. Trẻ khiếm thính 8

1.1.4. Sinh lí nghe 8

1.1.5. Các nguyên nhân của bệnh khiếm thính 8

1.1.6. Thính lực đồ và quả chuối ngôn ngữ 9

1.1.7. Rối loạn phát âm 12

1.1.8. Phân loại khiếm thính 12

2. Tư liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 38

2.1. Tư liệu nghiên cứu 38

2.1.1 Các “mẫu” nghiên cứu (Trẻ khiếm thính) 38

2.1.2. Bảng từ thử 39

2.1.3. Cơ sở đánh giá, phân loại và xử lí số liệu ghi âm. 40

2.2. Phương pháp nghiên cứu: 43

CHƯƠNG 2. KHẢ NĂNG PHÁT ÂM CỦA TRẺ KHIẾM THÍNH ĐỐI
VỚI CÁC LOẠI PHỤ ÂM ĐẦU TIẾNG VIỆT 44

1. Kết quả nghiên cứu. 45

1.1. Xử lí số liệu 45

1.2. Kết quả nghiên cứu 45

2. Nhận xét và bàn luận 53

2.1. Trẻ khiếm thính có khả năng phát âm đúng tất cả phụ âm đầu tiếng Việt.
53

2.2. Tỉ lệ các phụ âm đầu tiếng Việt được phát âm đúng 55

2.2.1. Những phụ âm đầu có tỉ lệ phát âm đúng cao. 56


2. Khả năng phát âm phụ âm đầu của từng nhóm trẻ khiếm thính. 92

2.1. Phân loại theo biện pháp can thiệp. 93

2.1.1. Kết quả nghiên cứu 93

2.1.2. Nhận xét 98

2.2. Phân loại TKT theo sức nghe 100

2.2.1. Kết quả nghiên cứu 100

2.2.2. Nhận xét 105

2.3. Phân loại theo thời gian trị liệu 108

2.3.2. Nhận xét 113

2.4. Phân loại theo tuổi 115

2.4.1. Kết quả nghiên cứu 116

2.4.2. Nhận xét 120

2.5. Phân loại theo giới 122

2.5.1. Kết quả nghiên cứu 122

2.5.2. Nhận xét 127



Bảng 3.3: Bảng thống kê số lần phát âm PÂĐ của hai nhóm TKT 94

Bảng 3.4: Bảng thống kê chi tiết về cách phát âm của hai nhóm TKT 95

Bảng 3.5: Bảng thống kê xu hướng thay thế của TKT nhóm 1 (Trẻ cấy điện
cực ốc tai) 96

Bảng 3.6: Bảng thống kê xu hướng thay thế của TKT nhóm 2 (Trẻ đeo máy
trợ thính) 97

Bảng 3.7: Bảng thống kê số lần PÂ của hai nhóm TKT 100

Bảng 3.8: Bảng thống kê chi tiết cách phát âm của hai nhóm TKT 102

Bảng 3.9: Xu hướng thay thế PÂ của TKT nhóm 1 (Trẻ có sức nghe tốt hơn)
103

Bảng 3.10: Xu hướng thay thế PÂ của TKT nhóm 2 (Trẻ có sức nghe kém
hơn) 104

Bảng 3.11: Bảng thống kê các lần phát âm của hai nhóm TKT 109

Bảng 3.12: Xu hướng thay thế PÂ của TKT nhóm 1 (TKT có thời gian trị liệu
ngôn ngữ nhiều) 111Bảng 3.13: Xu hướng thay thế PÂ của TKT nhóm 2 (TKT có thời gian trị liệu
ngôn ngữ ít) 112


PÂĐ k /k/ có vùng tần số trung bình (từ 2000 Hz đến 3000 Hz) được tăng cường
32
Hình 1.6: Dạng sóng âm, cường độ, ảnh phổ và phổ đồ của phụ âm đầu //
trong âm tiết ăn /ăn1/ 35
Hình 1.7: Dạng sóng âm, cường độ, ảnh phổ và phổ đồ của phụ âm đầu //
trong âm tiết uống /u5/ 36
Hình 1.8: Dạng sóng âm, cường độ, ảnh phổ, phổ đồ (vùng tần số được tăng
cường của phụ âm đầu b // trong âm tiết ba 37
Hình 1.9: Dạng sóng âm, cường độ, ảnh phổ, phổ đồ (vùng tần số được tăng
cường của phụ âm đầu đ // trong âm tiết đa 38
Hình 2.1: Dạng sóng âm, ảnh phổ, thanh điệu, cường độ các từ bò, mở, vui,
phở khi BN 5 phát âm (phát âm: bò → bò, mở → mở; vui → vui; phở →
phở) 48
Hình 2.2: Dạng sóng âm, ảnh phổ, thanh điệu, cường độ của từ ngủ khi BN 7
phát âm (phát âm ng
ủ → hủ)
49
Hình 2.3: Dạng sóng âm, ảnh phổ, thanh điệu, cường độ của từ vui, phở khi
BN 11 phát âm (phát âm vui
→ mui,
ph
ở →mở
) 50

Hình 2.4: Dạng sóng âm, ảnh phổ, thanh điệu, cường độ của từ cá khi BN 11
phát âm. (phát âm /ka5/
→ /

a5/) 64
Hình 2.5: Dạng sóng âm, ảnh phổ, thanh điệu, cường độ của từ đi khi BN 11

nhân khác nhau, trẻ bị giảm, hoặc mất hoàn toàn khả năng nghe được gọi
chung là trẻ khiếm thính, với mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng và điếc hoàn
toàn. Do hạn chế hoặc không thể tiếp nhận (nghe) được các tín hiệu âm thanh
ngôn ngữ, trẻ khiếm thính từ nhỏ, cũng khó khăn hoặc không có khả năng
phát âm (nói) các tín hiệu ngôn ngữ. Tại Việt Nam chưa có điều tra nghiên
cứu sâu, toàn diện nào về tình hình khiếm thính nói chung, khiếm thính bẩm
sinh nói riêng. Chỉ có một số tài liệu ước tính rằng, tỉ lệ TKT ở Việt Nam là
5‰ [16], [17]. Trên thế giới, các nghiên cứu đã chỉ ra 3/1000 trẻ có vấn đề về
điếc bẩm sinh [16], [17]. Đây là một tỉ lệ rất cao. Nếu chúng ta không can
thiệp sớm và điều trị phục hồi sớm cho người khiếm thính thì họ quả là một
gánh nặng không hề nhẹ cho xã hội. Tàn tật về nghe bẩm sinh ở trẻ sẽ biến
2
một con người lành lặn, bình thường về thể chất bên ngoài ở hiện tại trở thành
một con người tàn phế trong tương lai. Họ sẽ không có khả năng giao tiếp và
hòa nhập với xã hội nếu không được can thiệp điều trị phục hồi sức nghe và
khả năng ngôn ngữ.
Chính vì thế, việc phục hồi sức nghe và tiếng nói cho TKT hết sức cần
thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cá nhân và xã hội. Ngành y học và
thính học đã tiên phong trong công cuộc đó bằng những biện pháp can thiệp
sớm như sàng lọc khiếm thính, chẩn đoán sức nghe, cung cấp thiết bị trợ
thính, Nhờ đó, TKT có thể nghe thấy âm thanh, trong đó có tiếng nói của
con người. Cùng với những đóng góp của y học và thính học trong việc cải
thiện sức nghe, ngành ngôn ngữ học cũng góp một phần đóng góp không nhỏ
trong việc mang ngôn ngữ lại cho con người thông qua trị liệu ngôn ngữ.
Những lí thuyết ngôn ngữ nói chung, lí thuyết ngữ âm học nói riêng chính là
những công cụ trợ giúp đắc lực trong “nghiên cứu bệnh học” việc dạy trẻ em
khiếm thính. (Lĩnh vực này thuộc lĩnh vực ngữ âm bệnh học - Pathological
Phonetics).
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ âm
bệnh học. Tuy nhiên ở Việt Nam, những nghiên cứu ngữ âm bệnh học về

vị PÂĐ phân biệt phụ thuộc vào phương thức cấu âm và vị trí cấu âm. Trong
phương thức cấu âm PÂ lại phân loại theo tiêu chí tắc, xát, mũi, bên, vô
thanh, hữu thanh. Theo vị trí cấu âm PÂ lại phân loại theo vị trí môi, răng,
đầu lưỡi, mặt lưỡi, gốc lưỡi, họng. Do đó, TKT thường hay gặp khó khăn hơn
trong việc học nghe – nói PÂ. Đặc biệt là những PÂ có tần số cao, có vị trị
cấu âm sau, PÂ khó bắt chước hình miệng. Do vậy, việc luyện nghe - nói
PÂĐ rất quan trọng và không thể bỏ qua đối với TKT. Điều đó sẽ giúp TKT
không chỉ phát âm tốt hơn mà việc tiếp nhận (nghe) lời và hiểu lời cũng tốt
4
hơn. Từ đó, giúp các em có thể giao tiếp tốt hơn, giúp các em dần tự tin trong
cuộc sống.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thực hiện những
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thu thập tư liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa các phát âm của TKT.
- Phân tích tư liệu thu thập được bằng các chương trình máy tính như
Praat, Speech Analysez,
- Miêu tả những phát âm của TKT bằng chương trình Praat, Speech
Analysez,
- Nhận diện các đặc trưng cách phát âm của TKT nói chung và từng
nhóm TKT nói riêng (các nhóm trẻ được phân loại theo tuổi, giới tính, biện
pháp can thiệp, thời gian trị liệu, sức nghe).
- Đề xuất giải pháp khắc phục rối loạn phát âm PÂĐ của TKT; phương
pháp dạy phát âm từng loại PÂĐ đối với từng nhóm TKT.
4. Đóng góp của luận văn
Ý nghĩa khoa học
- Chỉ ra những đặc điểm của hệ thống PÂĐ tiếng Việt VÀ khả năng
phát âm các loại PÂĐ khác nhau của TKT.
- Chỉ ra khả năng phát âm PÂĐ ở các nhóm TKT (khác nhau về sức
nghe, biện pháp can thiệp, thời gian trị liệu, tuổi, giới tính).
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN: CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP
VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những cơ sở lí thuyết,
phương pháp và tư liệu nghiên cứu.
1. Cơ sở lí luận
Liên quan đến những cơ sở lí luận, chúng tôi chỉ trình bày những khái
niệm cơ bản nhất, những vấn đề then chốt có liên quan đến đề tài luận văn:
Nghiên cứu khả năng phát âm PÂĐ của TKT.
1.1. Khiếm thính
1.1.1.Khái niệm
Khiếm thính (hearing impairment) là “tình trạng giảm khả năng nghe
một hoặc cả hai tai ở cường độ từ 30 – 40 dB trở lên và ở tần số từ 500 – 4000
Hz, là vùng quan trọng đối với nhận biết ngôn ngữ và hiểu ngôn ngữ” [16]
[17]. Theo thuật ngữ Y học Tai – Mũi – Họng thì “khiếm thính là suy giảm
một phần hoặc hoàn toàn sức nghe. Khiếm thính có thể xảy ra ở một bên tai
phải hoặc trái hoặc cả hai bên tai” [13]. Vào những năm 70 và 80 của thế kỉ
XX các nhà chuyên môn ưa dùng thuật ngữ “khiếm thính”. Nhưng đến những
năm 90 của thế kỉ XX, những người điếc tự bác bỏ thuật ngữ “khiếm thính” và
họ thích dùng thuật ngữ “điếc” hơn. Ngày nay, các nhà chuyên môn lại
thường dùng thuật ngữ “nghe kém” hay “suy giảm thính lực”. Những khái
niệm gần giống nhau như “khiếm thính”, “điếc”, “suy giảm thính lực”,
“nghe kém” “nghễnh ngãng” vẫn được dùng tùy tiện, chưa chính xác, được
dùng ở nhiều nơi, với nhiều người. Hiện nay có hai thuật ngữ được dùng phổ
biến như nhau là “khiếm thính” và “điếc”

Tai Mũi Họng thực hiện điều tra “Bệnh tai và nghe kém” tại 6 tỉnh trên cả
nước, 3 tỉnh phía Bắc và 3 tỉnh phía Nam, kết quả tỷ lệ điếc khoảng 6% tức là
cứ 100 người có 6 người bị điếc [44] Đây là tỉ lệ rất cao.
8
1.1.3. Trẻ khiếm thính
“Trẻ khiếm thính” (TKT) là từ dùng để chỉ “những trẻ em dưới 16 tuổi
bị mất hoặc giảm sút sức nghe ở những mức độ khác nhau” [27]. Khái niệm
này cũng được dùng tương đương với “trẻ điếc”. TKT bị khuyết tật về nghe
kéo theo sự hạn chế về ngôn ngữ. Qúa trình nhận thức của TKT bị thiếu sự
tham gia của thính giác; ngôn ngữ của trẻ nghèo nàn, đơn điệu chỉ là những
ghi nhớ máy móc, không bền vững do quan sát khẩu hình; tư duy đơn giản,
rập khuôn; khả năng tưởng tượng hạn chế.
1.1.4. Sinh lí nghe
Như chúng ta đều biết, con người dùng tai để nghe âm thanh. Về mặt y
học, khi giải phẫu tai chúng ta thấy tai được cấu tạo gồm ba phần tai ngoài, tai
giữa và tai trong. Trong đó, tai ngoài bao gồm vành tai, ống tai ngoài, màng
nhĩ. Tai giữa bao gồm chuỗi ba xương nhỏ (xương búa, xương đe và xương
bàn đạp). Tai trong bao gồm ốc tai, hệ thống tiền đình, thần kinh thính giác.
Khi có một âm thanh truyền đến tai, vành tai sẽ thu nhận âm thanh
truyền qua ống tai ngoài đến màng nhĩ. Âm thanh chạm vào màng nhĩ làm
màng nhĩ rung động, sự rung động này chuyền qua chuỗi xương con đến ốc
tai và làm cho dịch trong ốc tai chuyển động. Chính sự chuyển động của nước
nội dịch làm cho các tế bào lông chuyển động từ đó tạo ra các tín hiệu điện rất
nhỏ. Những tín hiệu điện này kích thích thần kinh thính giác. Các tế bào lông
nằm ở đỉnh ốc tai tạo ra những thông tin âm trầm và các tế bào lông nằm ở
đáy ốc tai tạo ra những thông tin âm cao. Các tín hiệu điện được truyền qua
thần kinh thính giác đến não. Não có bộ phận phân tích những tín hiệu điện
này thành các âm. Và chúng ta nghe được âm thanh [12], [44].
1.1.5. Các nguyên nhân của bệnh khiếm thính
Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh khiếm thính ở trẻ, bao gồm các

được nghe to/nhỏ mức nào. Trẻ có khả năng nghe bình thường phải nghe
được ngưỡng nghe từ 0 đến 20 dB. 0 decibels (0 dB) không có nghĩa là
"không có âm thanh". Âm thanh đó chỉ rất khẽ. Mức độ âm khi con người nói
chuyện với nhau ở khoảng 65 dB. Nếu cường độ cao hơn 20 dB có nghĩa là
âm lượng của tần số đó cần được nâng lên cho đến mức sao cho trẻ bắt đầu có
thể nghe được. Mức âm thanh sẽ chỉ ra độ nghe kém của trẻ ở tần số đó.
Sơ đồ “quả chuối ngôn ngữ” (speech banana) là sơ đồ chỉ ra vùng mà ở
đó tất cả các âm vị của ngôn ngữ thế giới nằm trong thính lực đồ. Vì thế, mỗi
PÂ khác nhau có vị trí khác nhau trong thính lực đồ quả chuối ngôn ngữ, phụ
thuộc vào cường độ và tần số của nó. Thính lực của mỗi người sẽ khác nhau
đối với từng loại PÂ. Chúng ta có thể phân loại, đánh giá mức độ khiếm thính
theo sức nghe đối với từng loại âm thanh (hay từng loại phụ âm/ nguyên âm).
Thính lực đồ và quả chuối ngôn ngữ có ý nghĩa rất quan trọng khi đánh
giá sức nghe của TKT. Chuyên gia thính học và chuyên gia trị liệu ngôn ngữ
phải sử dụng hai công cụ này để đánh giá khả năng nghe của trẻ. Nó sẽ cho
biết khả năng nghe khả dụng của trẻ. Từ đó, các chuyên gia thính học và nhà
trị liệu mới có hướng tác động đúng đắn cho từng trẻ.
11
Bảng dưới đây chỉ ra các yếu tố của tiếng nói nằm trong băng tần trong
vùng từ 125 Hz đến 8000 Hz.
125 Hz F0 của người lớn, nam
200 Hz F0 của nữ, trưởng thành và trẻ em
500 Hz
Tiêu chí hàng đầu về phương thức cấu âm, bội am của nhiều PÂ
hữu thanh
Sự bùng nổ tiếng ồn của PÂ tắc nổ trước nguyên âm dòng sau.
T1 của bán nguyên âm.
F1 của PÂ nước /l /và /r/
1000 Hz
Tiêu chí phụ về phương thức cấu âm của PÂ

quy luật nào, thì gọi là rối loạn cấu âm.
Rối loạn phát âm với nhiều lỗi, các lỗi có thể gộp thành các nhóm, theo
các mô thức, quy luật, thì được gọi là rối loạn âm vị học.
- Các thao tác điều trị rối loạn cấu âm nói chung: Trong điều tra, nghiên
cứu, điều trị rối loạn cấu âm, cần tuân thủ một số thao tác cơ bản sau đây:
Đánh giá cách thức cấu âm và âm vị học của người bệnh.
Dựa trên các tiêu chí khu biệt hay các quy tắc âm vị học, xác định các
mô thức âm vị học có thể có.
Lựa chọn các âm thanh cần phải dạy phát âm.
Phân nhóm chúng theo các tiêu chí âm vị học hay các quy tắc âm vị
học, nếu có thể.
Chuẩn bị các tư liệu đầu vào trong việc dạy phát âm (tranh ảnh, từ, ngữ,
câu). [32]
1.1.8. Phân loại khiếm thính
Dựa vào cơ chế nghe của tai và các nguyên nhân gây ra điếc, người ta
phân chia thành nhiều loại điếc khác nhau. [12], [16], [17], [27], [44]
- Thính giác sẽ bị giảm sút khi một điểm nào đó trong cơ quan thính
giác có vấn đề (có thể là tai ngoài, tai giữa, tai trong hay thần kinh thính giác
lên não). Tùy theo vị trí tổn thương của tai người ta chia thành bốn loại điếc là
13
điếc dẫn truyền, điếc tiếp nhận, điếc thần kinh sau ốc tai và điếc hỗn hợp.
Trong đó:
Điếc dẫn truyền là loại điếc mà nguyên nhân bệnh tích nằm ở tai ngoài
và tai giữa làm ngăn cản đường truyền của âm thanh đến tai trong như nút ráy
tai, viêm tai giữa.v.v…
Điếc tiếp nhận ốc tai là loại điếc mà nguyên nhân bệnh tích nằm ở tai
trong làm âm thanh truyền đến tai trong không biến đổi được thành các xung
điện. Ví dụ như điếc già (lão thính) , điếc nghề nghiệp (các tế bào của ốc tai bị
hư hại do tiếng ồn), điếc do nhiễm khuẩn hoặc virus (quai bị, viêm màng não,
giang mai…)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status