Đánh giá khả năng khai thác bảo hiểm cháy nổ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) - Pdf 22

Chuyên đề tốt nghiệp
Mục lục
Trang
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.
1.1 Cháy và sự cần thiết của bảo hiểm cháy...............................................3
1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy....................................................6
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm........................................................................6
1.2.2 Phạm vi bảo hiểm...........................................................................7
1.2.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm...........................................10
1.2.4 Phí bảo hiểm..................................................................................11
1.2.5 Giám định và bồi thường tổn thất.................................................15
1.3 Quy trình khai thác bảo hiểm.............................................................17
1.4 Các hình thức triển khai bảo hiểm cháy nổ........................................21
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC BẢO HIỂM
CHÁY, NỔ TẠI PJICO .
2.1 Một vài nét về công ty bảo hiểm PJICO.............................................23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển...........................................23
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty........................................................24
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh..................................................................26
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua...........27
2.2 Đánh giá chung về thị trường bảo hiểm cháy ở Việt Nam................32
2.2.1 Vài nét về thị trường bảo hiểm cháy, nổ ở Việt Nam
thời gian qua..............................................................................32
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường bảo hiểm cháy
ở Việt Nam.................................................................................37
2.2.3 Một số công ty bảo hiểm tiêu biểu trên thị trường bảo

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp

Hình 2.7 : Số vụ cháy ở Việt Nam (2002-2007).
Hình 2.8: Cơ cấu doanh thu các nghiệp vụ tại PJICO.
Hình 2.9: Doanh thu bảo hiểm cháy nổ (2004 – 2007).
Bảng 2.1: Doanh thu và thị phần bảo hiểm gốc của PJICO (1995-2007).
Bảng 2.2: Lợi nhuận kinh doanh trước thuế của PJICO (2000-2007).
Bảng 2.3: Doanh thu, tốc độ tăng và thị phần bảo hiểm cháy, nổ trên thị
trường bảo hiểm phi nhân thọ.
Bảng 2.4: Số vụ cháy và thiệt hại do cháy (2002-2007).
Bảng 2.5: Bảng so sánh tỷ lệ phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và tự nguyện.
Bảng 2.6: Cơ cấu doanh thu bảo hiểm gốc qua các năm (2004-2007).
Bảng 3.1: Kế hoạch doanh thu các nghiệp vụ năm 2008.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm đầu của Thế kỷ XXI, với sự đổi mới của đất nước,
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các lĩnh vực trong đời
sống xã hội không ngừng phát triển. Đặc biệt là lĩnh vực kinh tế luôn tăng
trưởng cao, nhiều nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng…được hình thành; Hàng
hóa, vật tư, thiết bị, máy móc…ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, với sự gia tăng
dân số, nhất là các đô thị lớn, làm nguy cơ cháy, nổ tăng lên.
Khi xảy ra cháy, nổ sẽ gây thiệt hại về tài sản, thậm chí cả tính mạng
con người và ảnh hưởng đến môi trường. Cháy, nổ làm cho nhiều nhà máy, xí
nghiệp sản xuất bị đình trệ, nhiều người lâm vào cảnh không nhà, không cửa.
Những tổn thất đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cộng đồng.

PJICO đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.
1.1 Cháy và sự cần thiết của bảo hiểm cháy.
Trong cuộc sống lao động và sản xuất hàng ngày, con người phải đối
mặt với hàng loạt các rủi ro. Có những rủi ro chỉ gây ra những thiệt hại nhỏ
hoặc những tổn thất không đáng kể nhưng cũng có những rủi ro để lại hậu quả
vô cùng nghiêm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Cháy là một trong số
những rủi ro mà con người thực sự e ngại vì khi xảy ra cháy, thường thì tổn
thất là không nhỏ, đặc biệt là tổn thất về vật chất.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cháy. Tuy nhiên, theo Quyết định
28/2007/QĐ-BTC mới ban hành gần đây thì cháy được hiểu là phản ứng hóa
học có tỏa nhiệt và phát sáng do nổ hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác.
Hàng năm, trên thế giới xảy ra hàng triệu vụ cháy lớn nhỏ khác nhau, để
lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê năm 2006 của Hiệp
hội Quốc tế về hỏa hoạn tại Geneve (Thụy Sỹ), hàng năm tổn thất trực tiếp do
cháy, nổ ở các nước phát triển trên thế giới chiếm khoảng 0,1-0,3 % GDP.
Tổn thất trực tiếp do cháy, nổ gây ra vốn đã lớn, nhưng sẽ còn lớn hơn khi
tính cả tổn thất gián tiếp như: Một xưởng sản xuất bị cháy sẽ dẫn đến đình trệ
sản xuất, người lao động không có việc làm, làm ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu dân cư nơi cháy, nổ
xảy ra…
Ví dụ ở Mỹ năm 2004, thiệt hại trực tiếp do cháy, nổ chỉ là 13 tỷ USD
nhưng nếu tính cả thiệt hại gián tiếp khác thì tổng thiệt hại do cháy, nổ là 200
tỷ USD, tương đương với 2%GDP.
Ở Việt Nam, các vụ cháy xảy ra nhiều và gây thiệt hại lớn. Theo số liệu

khốc ở Luân Đôn (Anh) ngày 02/09/1666, hủy diệt 13.000 căn nhà. Trong đó

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 5
có hơn 100 nhà Thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể
cứu trợ được. Sau sự kiện thảm khốc đó, những nhà kinh doanh ở nước Anh
đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro cháy bằng cách đứng ra thành lập
những công ty bảo hiểm cháy như: Fire Office (năm 1667), Friendly Society
(năm 1684), Hand anh Hand (năm 1696), Lom Bard House (năm 1704)…
Lúc đó công ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực
Hàng Hải.
Từ đó, thị trường bảo hiểm cháy bắt đầu phát triển, nhiều công ty bảo
hiểm cháy lần lượt ra đời ở nhiều nước khác nhau trên Thế giới. Ở Mỹ, vào
năm 1752, Công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời với hình thức công ty bảo
hiểm tương hỗ có tên là The Philadenphia Contribution Ship. Nước Pháp do
ảnh hưởng của vụ cháy ở Luân Đôn nên năm 1786 công ty bảo hiểm cháy đầu
tiên được thành lập mang tên là Company L’assurance Centree L’incendie,
tiếp đến là công ty Company Royade (năm 1788).
Dần dần ở một số nước do nhận thấy được sự cần thiết của bảo hiểm
cháy mà đã cho triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này dưới dạng bắt buộc.
Đến nay, thị trường bảo hiểm cháy vẫn tiếp tục phát triển và ngày càng
được xem trọng hơn.
Ở Việt Nam, năm 1964 mới bắt đầu xuất hiện công ty bảo hiểm đầu tiên
là Bảo Việt Việt Nam. Bảo Việt đã độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm suốt
một thời gian dài. Tuy nhiên, trong thời gian này do cơ chế bao cấp nên hầu
hết các rủi ro ảnh hưởng đến tài chính của các doanh nghiệp đều được Nhà
Nước đứng ra bù đắp. Chính vì vậy, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm cháy nổ
nói riêng không có điều kiện phát triển.
Từ năm 1986, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, với cơ chế

- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai).

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 7
- Máy móc, thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh.
- Sản xuất vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho.
- Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở thành phẩm, thành phẩm trên dây
chuyền sản xuất.
- Các loại tài sản khác (kho, bãi, chợ, cửa hàng, khách sạn).
Những tài sản này chỉ thực sự được bảo hiểm khi giá trị của chúng tính
được thành tiền và được ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
1.2.2 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm và giới hạn trách
nhiệm của công ty bảo hiểm.
Trách nhiệm của công ty bảo hiểm bao gồm:
• Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản
được bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm (hoặc danh
mục kèm theo giấy chứng nhận bảo hiểm) nếu người được bảo
hiểm đã nộp phí bảo hiểm và những thiệt hại đó xảy ra trước 4 giờ
chiều ngày cuối cùng của thời hạn bảo hiểm ghi trong giấy chứng
nhận bảo hiểm.
• Những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản
được bảo hiểm trong và sau khi cháy.
• Chi phí thu dọn hiện trường sau khi cháy nếu những chi phí này
được ghi rõ trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
a. Rủi ro chính, gồm : Cháy, sét, nổ (rủi ro A).
- Cháy : Cháy phải thực sự phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên
dùng và lửa đó phải là ngẫu nhiên, bất ngờ phát ra. Cháy có thể

+ Lửa ngầm dưới đất.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 9
+ Cháy mà nguyên nhân là do bản thân tài sản tự lên men, tỏa nhiệt hay
bốc cháy.
+ Giông tố, bão táp và lũ lụt.
+ Vỡ, tràn nước từ các bể chứa, thiết bị chứa nước hay đường ống dẫn.
+ Xe cộ, súc vật không thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm soát của người
được bảo hiểm hay của người làm thuê cho họ đâm vào.
+ Nước chảy hoặc rò rỉ ra từ thiết bị vòi phun sprinkler tự động lắp sẵn
trong nhà.
c. Rủi ro loại trừ.
Doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụ bồi thường nếu thiệt hại do
một trong những nguyên nhân sau gây ra:
- Tổn thất do hành động cố ý hay đồng lõa của người được bảo hiểm gây
ra nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm.
- Những tổn thất có liên quan đến hàng hóa nhận ủy thác hoặc kí gửi, trừ
khi những hàng hóa đó được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là
được bảo hiểm và người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo quy định.
- Tiền, chứng khoán, kim loại quý, đá quý, thư bảo lãnh, bản thảo, sổ
sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng,
khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này được xác
nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Chất nổ nhưng không bao gồm: nhiên liệu, xăng dầu.
- Người, thực vật và động vật sống.
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theo đơn
Bảo hiểm hàng hải hay thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng
hải, trừ phần thiệt hại vượt quá trách nhiệm bồi thường theo đơn bảo hiểm

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 11
cũng như trong toàn bộ nền kinh tế. Sự biến động này có xu hướng ngày càng
tăng khi quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, bởi vì thông thường người ta
chỉ xác định chính xác giá trị tài sản tại thời điểm nào đó, còn trong cả 1 quý,
1 tháng, 1 năm thì rất khó xác định một cách chính xác nên nhà bảo hiểm phải
sử dụng thuật ngữ số tiền bảo hiểm.
Đối với các tài sản có số lượng thường xuyên tăng, giảm thì số tiền bảo
hiểm có thể được xác định theo giá trị trung bình hay giá trị tối đa, theo thỏa
thuận của doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm.
+ Nếu bảo hiểm theo giá trị trung bình thì bên mua bảo hiểm sẽ ước
tính và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về giá trị trung bình của tài sản
trong thời hạn bảo hiểm. Giá trị trung bình này được coi là số tiền bảo hiểm.
+ Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì bên mua bảo hiểm sẽ ước tính và
thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm giá trị tối đa của tài sản có thể đạt được
vào một thời điểm nào đó của thời hạn bảo hiểm. Theo thỏa thuận, đầu mỗi
tháng hoặc quý, bên mua bảo hiểm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm giá
trị tối đa của tài sản trong tháng hoặc quý trước đó.
Trường hợp không xác định được giá trị thị trường của tài sản thì số tiền
bảo hiểm sẽ do các bên thỏa thuận.
1.2.4 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm cháy. Bởi vậy, trong điều
kiện cạnh tranh như hiện nay, nhà bảo hiểm cần xác định phí chính xác và sát
với thực tế.
Phí bảo hiểm cháy được tính theo công thức:
P= S
b
 R
Trong đó: S

Tỷ lệ phí bảo hiểm cháy thường được chia làm hai bộ phận: Tỷ lệ phí
thuần và tỷ lệ phụ phí.
R = R
1
+R
2
Trong đó: R
1
– tỷ lệ phí thuần.
R
2
– tỷ lệ phụ phí.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 13
Tỷ lệ phụ phí (R
2
) được các doanh nghiệp bảo hiểm kế hoạch hóa một
cách dễ dàng, bởi lẽ chỉ cần căn cứ vào tài liệu thống kê của một số năm trước
đó, gồm các loại chi phí: phí quảng cáo, tuyên truyền, kể cả hoa hồng bảo
hiểm...
Tỷ lệ phí thuần (R
1
) được xác định tương đối phức tạp. Về mặt lý thuyết
phải căn cứ vào số liệu thống kê trong một số năm trước đó như: tổng số đơn
vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy; số đơn vị rủi ro bị cháy; tổng số tiền bảo
hiểm cháy; số tiền bồi thường bảo hiểm cháy…
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: theo phân loại và theo danh
mục.

việc lan truyền lửa và hơi nóng khi có cháy xảy ra. Ví dụ, nếu tòa nhà có kết
cấu cầu thang theo hình vòng tròn thì khi xảy ra cháy, lửa sẽ lan từ tầng này
sang tầng khác của tòa nhà nhanh hơn so với loại cầu thang kiểu gấp
khúc,..Sức chịu đựng của các tầng nhà ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của
cả toà nhà khi có cháy…nên đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo
hiểm.
 Phòng cháy, chữa cháy: Nếu công tác phòng cháy, chữa cháy tốt sẽ
hạn chế được rủi ro xảy ra cháy thì phí bảo hiểm sẽ được tính thấp hơn. Vị trí
của đối tượng bảo hiểm gần hay xa nguồn nước, gần hay xa đội cứu hỏa, gần
những vị trí dễ bị ảnh hưởng bởi cháy, thiết bị, phương tiện chữa cháy như thế
nào? ….tất cả các yếu tố này đều là cơ sở để xem xét mức phí bảo hiểm.
 Cách phân chia các đơn vị rủi ro: theo như tài liệu thống kê của nhiều
nước, yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ phí. Chẳng hạn, các đơn vị
bảo hiểm càng gần nhau thì tỷ lệ phí bảo hiểm càng cao và ngược lại, hay sức
chịu đựng của các bức tường chống cháy vì những yếu tố này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới khả năng lan truyền của cháy.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 15
 Ngoài ra, tỷ lệ phí thuần còn phụ thuộc vào bao bì đóng gói, chủng loại
hàng hóa, cách thức xắp xếp.
Trường hợp thời gian bảo hiểm nhỏ hơn 1 năm, phí bảo hiểm được tính
tương ứng theo tỷ lệ của thời hạn bảo hiểm, theo công thức sau:
P = S
b
× R × t / T
Trong đó: t – thời hạn bảo hiểm.
T – thời gian 1 năm ( 12 tháng).
1.2.5 Giám định và bồi thường tổn thất.

3
: Thống kê nhanh chóng, kịp thời, chính xác số lượng, chủng loại tài
sản bị cháy và thiệt hại thực tế (bước này cần phải phối hợp với công an,
chính quyền địa phương và những đương sự có liên quan).
B
4
: Lập biên bản giám định có đầy đủ chữ ký của các bên. Sau đó, căn
cứ vào biên bản giám định, nhà bảo hiểm tiến hành bồi thường. Về lý thuyết
có 2 cách tính số tiền bồi thường :
Cách 1: Bồi thường theo quy tắc tỷ lệ với số tiền bảo hiểm.
 Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, giá trị thực tế của tài sản lớn hơn
số tiền bảo hiểm thì:
Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất 
Số tiền bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm
 Nếu giá trị bảo hiểm bằng số tiền bảo hiểm của tài sản tại thời điểm
xảy ra tổn thất thì số tiền bảo hiểm ngang bằng với giá trị tổn thất thực tế.
 Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất mà giá trị thực tế của tài sản trên thị
trường lớn hơn giá trị của tài sản khi tham gia bảo hiểm theo đánh giá thì số
tiền bồi thường là:
Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất thực tế 
Giá trị tài sản khi tham
gia bảo hiểm.
Giá trị tài sản tại thời
điểm xảy ra tổn thất.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 17
 Nếu tại thời điểm tài xảy ra tổn thất mà tài sản còn được bảo hiểm

- Biên bản giám định vụ tổn thất của cảnh sát PCCC;
- Bản kê khai thiệt hại cùng các giấy tờ chứng minh thiệt hại.
Sau khi nhận được các giấy tờ này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xem xét
và bồi thường cho người được bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể lựa
chọn một trong những phương thức bồi thường sau:
- Sữa chữa tài sản bị thiệt hại;
- Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác;

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Chuyên đề tốt nghiệp 18
- Trả tiền bồi thường.
1.3 Quy trình khai thác bảo hiểm.
Để một sản phẩm bảo hiểm thương mại nói chung, sản phẩm bảo hiểm
cháy nói riêng được triển khai có hiệu quả trên thị trường. Đòi hỏi nhà cung
cấp bảo hiểm phải thực hiện tốt tất cả các khâu trong quá trình triển khai sản
phẩm. Bao gồm:
Hình 1.1: Quy trình triển khai bảo hiểm.
Ba khâu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi khâu đóng một vai trò
quan trọng trong toàn bộ quy trình triển khai bảo hiểm và chúng đều ảnh
hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo
hiểm.
Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trình triển khai bảo hiểm. Nó
có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp bảo hiểm nói chung
và từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, vì khâu khai thác là khâu trực tiếp tạo
ra doanh thu cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Mục đích của khâu này là tìm kiếm khách hàng tiềm năng và thuyết phục
họ ký kết hợp đồng bảo hiểm. Quy trình khai thác bảo hiểm thường được thực
hiện qua các bước sau:
Hình1.2: Quy trình khai thác bảo hiểm.

Ví dụ: Trong bảo hiểm cháy, đối tượng khách hàng cần hướng tới là những tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân nằm trong diện bắt buộc phải mua bảo hiểm
hoặc có nguy cơ cao về cháy nổ…

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Tiếp thị,
nhận yêu
cầu bảo
hiểm.
Điều tra
và đánh
giá rủi ro.
Ký kết
hợp đồng
bảo hiểm.
Quản lý
hợp đồng
bảo hiểm.
Chuyên đề tốt nghiệp 20
Nhân viên khai thác cần phải giải thích cho khách hàng hiểu về sản phẩm, trả
lời các câu hỏi thắc mắc của khách hàng.
Phương thức khai thác gián tiếp thường được thực hiện với khách hàng tái
tục hợp đồng bảo hiểm nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên ngày
nay, phương thức này cũng được sử dụng ngày càng rộng rãi trong khai thác
khách hàng mới.
Khi khách hàng có ý muốn mua sản phẩm. Nhân viên khai thác sẽ cung
cấp giấy yêu cầu bảo hiểm và các tài liệu khác có liên quan cho khách hàng.
Đồng thời, hướng dẫn cho khách hàng kê khai trung thực và đầy đủ các nội
dung trong giấy yêu cầu bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm phải kê khai đầy

cấp.
Bước 3: Ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Sau đấy, cán bộ khai thác sẽ gửi tới khách hàng Bản chào phí với các nội
dung chủ yếu sau:
- Đối tượng bảo hiểm;
- Thời hạn bảo hiểm;
- Tỷ lệ phí;
- Mức miễn thường;
- ….
Nếu trường hợp khách hàng đồng ý với bản chào phí của công ty thì:
Sau khi nhận được thông báo đồng ý tham gia bảo hiểm của khách
hàng. Cán bộ khai thác sẽ chuẩn bị Hợp đồng bảo hiểm để ký kết với khách
hàng.
Bước 4: Quản lý hợp đồng bảo hiểm.
Sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Hợp đồng này sẽ được đưa lên
trình lãnh đạo (ban cấp trên) để đóng dấu và thực hiện lưu đơn bảo hiểm.

Vũ Thị Hường Bảo hiểm 46A

Trích đoạn Một số công ty bảo hiểm tiêu biểu trên thị trường bảo Kết quả kinh doanh và vị trí của bảo hiểm cháy nổ Điểm yếu của PJICO trong khai thác bảo hiểm cháy nổ xuất với công ty PJICO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status