ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ DI ĐỘNG
NỘI VÙNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.
I. Tổng quát về Bưu điện Thành phố Hải Phòng.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Bưu điện Thành phố Hải Phòng là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trực thuộc
Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển của
Bưu điện Thành phố Hải Phòng có thể chia ra các giai đoạn chính sau:
a) Giai đoạn 1955 – 1975:
Ngày 13/5/1955 biên bản bàn giao Bưu điện Thành phố Hải Phòng giữa Pháp và cách
mạng đã được ký kết. Sau đó, đoàn cán bộ tiếp quản của ta nhận của Pháp một “di sản”
thông tin bưu điện nghèo nàn, thiếu đồng bộ, chắp vá, cũ kỹ, lạc hậu. Tại trụ sở của bưu
điện có một tổng đài cộng điện có dung lượng 600 số. Một tổng đài 10 với 20 máy điện
thoại từ thạch anh. Hệ thống đường dầy vĩ tuyến có một đường cáp chính đi ngầm dung
lượng từ 68 đến 112 đôi, độ dài không vượt quá 5 km, hệ thống vô tuyến điện vừa hỏng
vừa cũ, chỉ vẻn vẹn một máy phát kiểu Booc-Do 15w và 2 máy Hanmrlure.
Sau đó ít ngày ta tiến hành tiếp quản đài phát tín ở phố Lạch Tray cơ sở vật chất của
trạm gồm có: 2 máy Thomjonhouston 2 km, 1 máy kiểu Sipl 800w, 1 máy Bachelet 50w, 1
máy kiểu Srat 50w và một máy Radio dùng để kiểm soát các máy phát.
Ở Bưu điện Kiến An chúng ta tiếp nhận từ tay Pháp duy nhất một tổng đài 10 số
trong đó có 10 máy điện thoại từ thạch thì một nửa đã hỏng.
Sau giải phóng ít ngày mạng lưới thông tin Bưu điện Hải Phòng, Kiến An bắt đầu
thông, phục vụ ngay cho các cơ quan thành uỷ, chính quyền, đoàn thể, quần chúng, một xí
nghiệp sản xuất công nghiệp, đảo đèn Long Châu và Hòn Dáu.
Song song với việc phục hồi cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị chúng ta khẩn
trương xây dựng, hình thành bộ máy quản lý và điều hành sở Bưu điện Hải Phòng và Bưu
điện Kiến An. Trước mắt bộ máy của 2 cơ quan gồm các phòng: Phòng điện chính, phòng
bưu chính, hệ thống Bưu cục các khu, huyện, thị xã, cơ sở.
Nhìn chung giai đoạn này do điều kiện chiến tranh nên Bưu điện Hải Phòng chưa có
sự phát triển lớn, hoạt động chủ yếu là phục vụ sửa chữa tuy cũng có một số công trình
nhỏ.
b) Giai đoạn 1976 – 1985.
Tổ chức mạng lưới coi mạng Viễn thông là mạng chủ chốt của Bưu điện Hải Phòng,
trong những năm trước mắt Bưu điện Hải Phòng đã thực hiện đầu tư phát triển thêm các
tổng đài mới. Đây là bước phát triển quan trọng mang tính chuyển đổi công nghệ với ý
nghĩa không chỉ có tổng đài sẽ tăng thêm dung lượng mà còn do đây là công trình mở ra
khả năng phát triển mới hoàn toàn về kỹ thuật công nghệ của Bưu điện Hải Phòng, khả
năng tự động hoá số trở thành hiện thực, tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng đúng nhu cầu sử
dụng điện thoại, có thể tự động gọi điện thoại cho bất cứ thuê bao nào trong thành phố, đi
các tỉnh có tổng đài điện tử tự động và quốc tế.
d) Giai đoạn 1996 đến nay.
Bưu điện Hải Phòng đã vào giai đoạn 5 năm lần thứ 3, bắt đầu từ giai đoạn này hoạt
động viễn thông được coi là hoạt động chính của Bưu điện Hải Phòng (thể hiện ở mức đầu
tư cho dịch vụ, các kết quả thu được như doanh thu từ các dịch vụ, lợi nhuận…)
Mạng bưu chính cũng rất phát triển trong thời gian qua, đặc biệt là trong những năm
gần đây. Song song với việc không ngừng nâng cao chất lượng, khối lượng phục vụ đã đưa
thêm nhiều dịch vụ bưu chính vào khai thác như: chuyển phát nhanh, điện hoa, Bưu phẩm
ghi số… Công nghệ sản xuất bưu chính kết hợp mạnh mẽ kỹ thuật điện tử và kỹ thuật tin
học trong dây chuyền sản xuất và khai thác Bưu chính để tăng nhanh quá trình cơ giới hoá,
tự động hoá, khai thác và vận chuyển các thông tin Bưu chính.
2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Bưu điện Hải Phòng.
a) Đặc điểm công nghệ kỹ thuật.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông luôn
phải đảm bảo sao cho quá trình này diễn ra liên tục ở các khâu. Nếu một khâu không hoạt
động thì sản phẩm sẽ không có giá trị sử dụng. Do đó chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Bưu
chính Viễn thông là vô cùng quan trọng, chỉ khi chất lượng truyền đưa thông tin cao thì
mới có chất lượng sản phẩm cao. Vì thế việc đầu tư phát triển phải được thực hiện tập
trung đồng bộ các quy trình công nghệ và định mức kỹ thuật, các chính sách kỹ thuật phát
triển phải được thực hiện thống nhất trên toàn quốc và phù hợp với phương tiện truyền
thông của các nước trên thế giới. Đây là điểm khác biệt giữa Bưu chính Viễn thông với các
ngành sản xuất khác, vì trong xí nghiệp công nghiệp từng xí nghiệp riêng biệt có thể có
mức độ ứng dụng kỹ thuật mới khác nhau, trong ngành Bưu chính Viễn thông vấn đề này
Mạng lưới Bưu chính.
Mức độ đầu tư cho mạng không đòi hỏi nhiều vốn như mạng viễn thông. Tuy nhiên
việc cải tiến chất lượng của mạng Bưu chính cũng là nhân tố chính cho việc nâng cao chất
lượng của các dịch vụ.
Hệ thống bưu cục, các tuyến đường thư là những bộ phận cấu thành mạng. Hoạt động
của mạng Bưu chính cũng như mạng Viễn thông gắn liền với địa bàn.
Hệ thống các bưu cục nhiều thì khả năng phục vụ khách hàng được tốt hơn, tránh
được tình trạng một bưu cục phải phục vụ khá nhiều người từ đó có thể nâng cao chất
lượng các dịch vụ phục vụ khách hàng.
b) Đặc điểm về thị trường.
Cũng như mọi sản phẩm dịch vụ khác, các dịch vụ của Bưu điện Hải Phòng cũng có
một thị trường nhất định.
Việc phân loại thị thị trường theo những tiêu thức: giới tính, lứa tuổi, thu nhập… là
quan trọng. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay thì yếu tố thu nhập hoặc tính hiệu quả giữ
vai trò ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định sử dụng dịch vụ Bưu chính Viễn thông của
khách hàng, nhất là đối với các dịch vụ viễn thông.
Đối tượng sử dụng các dịch vụ cũng rất đa dạng và họ sử dụng các dịch vụ cũng khác
nhau tuỳ theo mục đích công việc của họ hoặc tuỳ theo đặc điểm công dụng của các dịch
vụ.
Hiện tại, phần lớn các dịch vụ Bưu chính Viễn thông được cung cấp trên thị trường
có tính thống nhất, tính đồng bộ, tính toàn cầu, vì vậy hiện tại có rất ít sự cạnh tranh của
các đối thủ khác về dịch vụ tương tự.
Giới hạn về thị trường (xét về mặt không gian của thị trường):
Do đặc điểm phân bố sản xuất theo địa bàn nên bề mặt không gian có thể xác định
tương đối rõ giới hạn của thị trường các dịch vụ Bưu chính Viễn thông. Đặc điểm phân bố
sản xuất của Bưu điện Hải Phòng là theo địa giới hành chính.
♦ Nội thành Hải Phòng.
♦ Các vùng ngoại thành.
Có thể nói thời gian trước mắt, Bưu điện Hải Phòng vẫn chiếm thị phần chủ yếu tại
Thành phố Hải Phòng. Doanh thu, lợi nhuận tạo ra từ thị trường này lớn hơn rất nhiều so
Trong điều kiện khó khăn về vốn, công nghệ lạc hậu việc xác định thị trường chính
trọng điểm có ý nghĩa rất lớn. Từ đó có hướng tập trung vốn, giải quyết được tình trạng
thiếu vốn lại phân tán vốn. Hướng xác định thị trường tiềm năng đối với các dịch vụ của
Bưu điện Hải Phòng đó là: Việc hình thành các khu công nghiệp, các vùng dân cư lớn, các
khu chế xuất.
Với một thị trường rộng lớn (khu vực Hải Phòng), tính cạnh tranh lại chưa cao thì
việc tiêu dùng dịch vụ của Bưu điện Hải Phòng từ phía khách hàng có tiềm năng rất lớn.
Đồng thời thị trường là nơi cuối cùng kiểm tra về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm.
Để đáp ứng tốt nhất lượng khách hàng trên thị trường này thì chất lượng dịch vụ được
nâng cao chính là mục tiêu hàng đầu của Bưu điện Hải Phòng.
c) Đặc điểm về lao động.
Là một ngành dịch vụ nhưng đòi hỏi công nghệ hiện đại vì thế Bưu điện Hải Phòng
không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng, đáp ứng được với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật.
Việc phân bố sắp xếp các lực lượng lao động do đặc điểm của quy trình sản xuất do
Bưu điện Hải Phòng quyết định.
Ngoại trừ bộ phận lao động trực tiếp giao dịch với khách hàng ở các bưu cục, các
tổng đài, nói chung phần lớn lao động ở Bưu điện Hải Phòng thuộc bộ phận sản xuất có
tính dây truyền như khai thác phổ thông, đóng gói, vận chuyển,…
Do đó, tuy là một ngành dịch vụ nhưng có bộ phận tính chất sản xuất thể hiện rất rõ
và nó cũng tạo ra giá trị như quá trình sản xuất công nghiệp.
Công tác tổ chức lao động: Trước kia Bưu điện Hải Phòng chủ yếu áp dụng hình thức
lao động biên chế và chỉ tiêu biên chế do ngành quy định. Nhưng hiện nay, sau khi có và
thực hiện quyết định 217 của Hội đồng bộ trưởng với chính sách chuyển sang chế độ hợp
đồng lao động, lực lượng lao động của Bưu điện Hải Phòng được cân đối, sắp xếp lại phù
hợp.
Tổng số lao động của Bưu điện Hải Phòng hiện nay là 1190 người (trong đó số lao
động Nam là 669 người, lao động nữ là 521 người). Trong tổng số lao động của Bưu điện
Thành phố Hải Phòng có 1 Tiến sỹ; 2 Thạc sỹ; 337 người có bằng Đại học, Cao đẳng; 260
người có bằng Trung cấp; còn lại là công nhân.
Trong một số trường hợp Bưu điện Hải Phòng muốn phát triển mạng hoặc hoàn thiện
một số dịch vụ mới, phải phụ thuộc vào mức độ phát triển chung của một số Bưu điện khác
trong ngành. Ví dụ như dịch vụ Videophone - điện thoại thấy hình muốn phát triển tại Bưu
điện Hải Phòng thì cũng cần tính yêu cầu đồng bộ với một số thành phố lớn khác như Huế,
Thành phố Hồ Chí Minh, do đây là dịch vụ hoạt động chỉ có hiệu quả kinh tế ở địa bàn
tương đối xa vì giá cước lớn.
Tuy có những hạn chế mang tính chất cục bộ nhưng nó cũng có những thuận lợi đó
là:
♦ Một trong những nguyên nhân bắt buộc Bưu điện Hải Phòng nói riêng cũng như các
Bưu điện khác nói chung phải đổi mới nâng cao chất lượng của mình.
♦ Ngay khi hoạt động giao lưu kinh tế phát triển, yêu cầu nối mạng giữa Bưu chính
Viễn thông các nước trên thế giới là một tất yếu, đòi hỏi Bưu điện Hải Phòng phải có sự
theo kịp với trình độ kỹ thuật, quản lý quốc tế về các dịch vụ và chất lượng của các dịch vụ
đó.
3. Cơ cấu tổ chức và chức năng của Bưu điện Hải Phòng.
a) Cơ cấu tổ chức của Bưu điện Hải Phòng theo sơ đồ sau:
Phòng Viễn thông – Tin học
Phó giám đốc
doanh thác
Các trung tâm tin học, KTVC bưu điện
Các bưu điện Quận, Huyện, Thị xã
Các công ty Điện thoại, Viễn thông, Xây lắp, thiết kế
Phòng bảo vệ
Trạm Y - tế
Phòng thi đua tuyên truyền
Phòng thanh tra
Phòng kiểm toán
Phòng hành chính
Phòng
TCCB - LĐ
quản trị Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và các quy định trong quy chế tổ
chức và hoạt động của Công ty viễn thông.
♦ Công ty viễn thông có chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ trên các
lĩnh vực: