Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng Dược Phú Thọ hiện nay - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

BÙI THỊ THU GIANG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG DƢỢC
PHÚ THỌ HIỆN NAY

L
L
U
U


N
NV


T
TH
H


C
C
Hà Nội - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
BÙI THỊ THU GIANG


N
NT
T
H
H


C
CS
S
Ĩ
ĨT
T
R
R
I
I


T
T

Bùi Thị Thu Giang
LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS. TS. Nguyễn Thanh Bình. Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận
văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Các tài liệu tham khảo có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng .

Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn

6. Đóng góp của luận văn 7
7. Cấu trúc của luận văn 7
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP 8
VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP 8
1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu 8
1.1.1. Khái niệm đạo đức 8
1.1.2. Khái niệm nghề nghiệp 10
1.1.3. Đạo đức nghề nghiệp 13
1.2. Khái niệm giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp 14
1.2.1. Khái niệm giáo dục đạo đức 14
1.2.2. Khái niệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp 15
1.2.3. Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên nghề Dược trong nhà trường 17
1.3. Những phẩm chất đạo đức cần hình thành ở sinh viên nghề Dƣợc 25
1.3.1. Đặc điểm tâm lí và nhân cách của sinh viên nghề Dược 25
1.3.2. Những yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người dược sỹ
mà sinh viên nghề Dược cần rèn luyện từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường 29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIÁO DỤC 47
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG
DƢỢC PHÚ THỌ HIỆN NAY 47
2.1. Thực trạng nhận thức việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trƣờng Cao đẳng Dƣợc Phú Thọ hiện nay 47
2.1.1. Động cơ và thái độ của sinh viên đối với nghề Dược 47
2.1.2. Thực trạng nhận thức của sinh viên về các tiêu chuẩn, phẩm chất
đạo đức của người dược sỹ 50
2.2. Thực trạng việc thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Dƣợc Phú Thọ và hiệu quả của các
biện pháp đó 55
2.2.1. Thực trạng nhận thức của Ban lãnh đạo nhà trường và giáo viên về
biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng

học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy
CNH - HĐH đất nước” [15, tr.77]. Đây là quan điểm cơ bản của Đảng ta về
vai trò ngày càng cao của nguồn nhân lực và của giáo dục và đào tạo nguồn
nhân lực đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ở nước ta hiện nay. Đ©y
cũng chính là yêu cầu khách quan được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan
tâm đến và nhất là trong công tác giáo dục nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn cao cho thế hệ trẻ.
Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và có phẩm chất
đạo đức tốt đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp là chức năng và
nhiệm vụ trọng tâm của bậc giáo dục Đại học và Cao đẳng ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, trong thực tế của công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta
hiện nay, giáo dục đạo đức nghề nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Về vấn đề này, Đảng ta nhấn mạnh:
“Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhất là
đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế, chưa chuyển mạnh
sang đào tạo theo nhu cầu xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa
tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy
người” [15, tr.167].
Bên cạnh trí tuệ và sức khỏe, yếu tố góp phần quan trọng tạo ra chất
lượng toàn diện của nguồn lực con người chính là đạo đức, nhân cách. Xét
ở phương diện cá thể, trong cấu trúc nhân cách thì đạo đức và năng lực
(đức và tài) là hai thành tố cốt yếu tạo nên nhân cách một con người. Trong 2
đó, đạo đức là cái gốc rất quan trọng, là cơ sở hình thành thế giới quan,
nhân sinh quan của mỗi người. Đức là sự nỗ lực cống hiến to lớn cho xã
hội, là sự trung thành tận tụy với chế độ xã hội mà họ phục vụ, là trách
nhiệm công dân, lương tâm nghề nghiệp của mỗi người Để đáp ứng yêu

dung thứ bất cứ thứ gì trái đạo đức bởi vì nó liên quan đến cái tinh tế
nhất là sự sống của con người và “trong mọi nghề, có lẽ nghề thầy thuốc
và nghề thầy giáo là hai nghề cao thượng nhất, một mang lại sự sống,
một mang lại trí tuệ, và cả hai đều đòi hỏi lương tâm trong sạch…” [Dẫn
theo: 41; tr.12].
Trong những năm qua, trường Cao đẳng Dược Phú Thọ rất chú
trọng tới chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo còn nặng
về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà chưa quan tâm thỏa đáng tới mảng
giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. Các hoạt động nhằm giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên rất ít được tổ chức (mới chỉ dừng lại ở
hoạt động của Đoàn Thanh niên). Vì thế, sau khi tốt nghiệp, nếu gặp những
tình huống khó khăn, họ sẵn sàng bỏ nghề không một chút băn khoăn, đi
làm nghề khác với thái độ dửng dưng, không nuối tiếc nghề nghiệp mà
mình đã chọn và được đào tạo. Và hơn thế nữa, một người dù có chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp giỏi nhưng không có đạo đức nghề nghiệp thì
không những không giúp ích cho xã hội mà còn gây nguy hại cho người
khác và cho xã hội.
Với tất cả những lý do nêu trên, tác giả đã chọn “Giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Dƣợc Phú Thọ hiện nay"
để làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đạo đức nghề nghiệp là một vấn đề rất quan trọng, nó góp phần không
nhỏ vào việc thành công hay thất bại của nghề nghiệp. Vì vậy, việc giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cũng là một vấn đề cần được đặt lên hàng 4
đầu tại các trường Đại học và Cao đẳng. Đã có một số công trình nghiên cứu về
vấn đề này như:
- Ngô Hướng trong bài “Đạo đức nghề nghiệp sao không được dạy tại

gần đây.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu vào
nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên ngành Dược nói
chung và sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ nói riêng. 6
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng đạo đức và hoạt động giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên của trường Cao đẳng Dược Phú Thọ, tác giả
luận văn đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức của nhà trường cho đối tượng này.
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về đạo đức nghề nghiệp và
giáo dục đạo đức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp nghề Dược .
- Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao
đẳng Dược Phú Thọ và nguyên nhân của thực trạng ấy.
- Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ trong những năm gần đây.
- Phạm vi nghiên cứu là một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Dược Phú Thọ.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn:
Luận văn được thực hiện dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về
xã hội và con người, những quan điểm, chính sách của Đảng cộng sản Việt

Đạo đức là là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực
khoa học và của nhiều nhà khoa học. Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học
lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác
nhau:
Trong các Giáo trình về đạo đức học, có đưa ra một số định nghĩa, quan
điểm về đạo đức như sau:
Một là: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy
tắc, những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều
chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người
và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã
hội” [10; tr.8].
Hai là: “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều
chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã
hội và quan hệ với tự nhiên” [10; tr.9].
Ba là: “Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự
tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với bản thân mình” [10; tr.9].
Còn trong Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Nguyễn Anh Tuấn, Đạo
đức được định nghĩa: “Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo
đức của con người theo hướng thiện, tránh hướng ác. Mỗi một xã hội, mỗi
một nhóm xã hội và một cá nhân có thể lý giải cái thiện và cái ác theo
những cách khác nhau tùy thuộc vào quan niệm sống và lợi ích của mình”
[40; tr.32]. 9
Trong Từ điển Triết học thì “Đạo đức là một trong những hình thái
sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), qui tắc,
chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong mối quan hệ với người
khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hay toàn bộ

của những cá nhân cụ thể vận hành ý thức đạo đức ấy và kết đọng biểu
hiện trong nền văn hóa - xã hội, đặc biệt trong lối sống, phong tục tập
quán, ca dao, tục ngữ, cách đối nhân xử thế, trong học thuyết (tư tưởng)
về đạo đức.
Đạo đức của mỗi con người được thể hiện thông qua hành vi đạo
đức. Hành vi đạo đức là hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ
có ý nghĩa về mặt đạo đức. Hành vi đạo đức chịu sự quy định bởi các yếu
tố tâm lý: Chủ thể hành vi đạo đức (toàn thể nhân cách cụ thể và giáo dục
đạo đức thông qua tổ chức cho người được giáo dục tham gia vào các hành
vi đạo đức và giáo dục toàn bộ nhân cách cho con người); tính sẵn sàng
hành động có đạo đức; niềm tin đạo đức; xu hướng đạo đức; phẩm chất, ý
chí và và phương thức hành vi. Hành vi đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ
với nhu cầu đạo đức. Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu
cầu cá nhân. Trong mỗi một điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ nổi
bật lên và dần xác định được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu đó. Khi đối
tượng được xác định tức là động cơ đạo đức được hình thành. Động cơ
đạo đức chính là yếu tố thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi đạo đức. Trong
quá trình đó, nhân cách của con người được bộc lộ và hình thành.
1.1.2. Khái niệm nghề nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nghề nghiệp là một công việc mà người
ta thực hiện trong suốt cuộc đời” [7; tr.456]. Ví dụ: Nghề dạy học, nghề Y,
nghề kinh doanh Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn
vinh con người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. 11
Bất cứ một loại hình nghề nghiệp nào cũng có đối tượng quan hệ
trực tiếp của nó. Dựa trên điểm này, người ta đã chia nghề nghiệp thành bốn loại
sau:
- Nghề quan hệ với kỹ thuật (thợ lắp máy, sửa chữa máy móc, gia công);

đúng đắn nghề nghiệp.
Theo các chuyên gia về tư vấn nghề nghiệp, có hai nguyên nhân dẫn
đến sai lầm trong lựa chọn nghề nghiệp, đó là:
Thứ nhất, thái độ không đúng đối với các tình huống khác nhau của
việc chọn nghề nghiệp, cụ thể: Thái độ đối với việc chọn nghề nghiệp như
là đối với việc lựa chọn một nơi cư trú suốt đời; những thành kiến về nghề
nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của nghề nghiệp, sự say mê chỉ
xuất phát từ mặt bên ngoài hay một mặt cục bộ nào đó của nghề nghiệp.
Thứ hai, thiếu tri thức, kinh nghiệm, thông tin về các tình huống
nghề nghiệp, cụ thể đồng nhất môn học với nghề nghiệp, những biểu tượng
lỗi thời về tính chất lao động của lĩnh vực nghề nghiệp; không hiểu về năng
lực và động cơ của bản thân; không đánh giá đúng về những đặc điểm thể
chất, thiếu xót của bản thân khi lựa chọn nghề nghiệp. Việc lựa chọn nghề
nghiệp là rất quan trọng và phức tạp. Về phía cá nhân phải có sự lựa chọn
một cách tự giác, có suy nghĩ chín chắn. Về phía xã hội cần có sự hướng
dẫn, định hướng nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp các yếu tố: Nguyện vọng,
năng lực của cá nhân; những đòi hỏi của nghề nghiệp; những yêu cầu của
xã hội đối với các loại hình nghề nghiệp.
Đào tạo nghề nghiệp được hiểu là toàn bộ các quá trình học tập của
con người và những tích lũy của cá nhân về kiến thức, kỹ xảo và các đặc
điểm tâm lý. Ngoài ra, đào tạo nghề nghiệp còn được hiểu là toàn bộ các
hoạt động, được triển khai theo cá nhân hay tập thể, một cách ngẫu nhiên
hay có tổ chức. Đào tạo nghề nghiệp được tiến hành thông qua các hình
thức sau: Dạy nghề, hoàn thiện nghề nghiệp, chuyên môn hóa nghề nghiệp,
đào tạo bằng kinh nghiệm thông tin nghề nghiệp. Ba hình thức đầu được 13
xem là các giai đoạn của việc đào tạo nghề nghiệp chính quy. Hai hình
thức sau có thể gặp cả trong việc đào tạo nghề nghiệp chính quy và trong

luyện lại có ảnh hưởng đối với việc hình thành các chuẩn mực về đạo đức
trong lĩnh vực nghề nghiệp nào đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có
thể phân biệt một cách rõ ràng đâu là đạo đức nghề nghiệp, đâu là năng lực
nghề nghiệp, vì chúng thường đan xen, hòa quyện vào nhau tạo nên một
chỉnh thể thống nhất là nhân cách của cá nhân hoạt động trong lĩnh vực
nghề nghiệp đó.
1.2. Khái niệm giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp
1.2.1. Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là một bộ phận nền tảng, hợp thành nội dung của
giáo dục đạo đức toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ hình thành lý tưởng, ý
thức, tình cảm đạo đức tạo nên mặt thế giới quan, nhân sinh quan làm cơ sở
cho hành vi đạo đức của con người. Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một
vấn đề lớn trong chiến lược con người của Đảng, được toàn xã hội quan
tâm và có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Giáo dục đạo đức cho thế hệ học sinh, sinh viên có những nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Giáo dục tri thức đạo đức: Cung cấp cho học sinh, sinh viên những
tri thức cơ bản về các phẩm chất và chuẩn mực đạo đức để từ đó giúp học
sinh, sinh viên hình thành niềm tin đạo đức.
- Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức: Đây là nhiệm vụ hết sức khó
khăn và tinh tế vì nó phải khơi dậy ở học sinh, sinh viên những rung cảm,
cảm xúc đối với hiện thực xung quanh làm cho họ biết yêu, ghét rõ ràng và
có thái độ đúng đắn.
- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Là tổ chức cho học sinh, sinh
viên lặp đi, lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức trong học tập, sinh 15
hoạt và trong cuộc sống nhằm có được hành vi đạo đức đúng đắn và từ đó

nhiệm vụ kia. Nếu bỏ hoặc thực hiện không tốt bất cứ nhiệm vụ nào cũng
sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả của quá trình đào tạo nghề. Trong thực
tiễn đào tạo nghề hiện nay có một thực trạng là, các trường đào tạo nghề
quá chú trọng tới việc thực hiện hai nhiệm vụ đầu mà chưa hoặc ít quan
tâm tới nhiệm vụ thứ ba - nhiệm vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Về mặt
lý luận và thực tiễn cho thấy, nếu việc thực hiện hai nhiệm vụ đầu đã rất
khó thì việc thực hiện nhiệm vụ thứ ba còn khó khăn và phức tạp hơn
nhiều.
Có thể xem giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tác động qua lại giữa
các hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp với người học nghề nhằm
hình thành ở người học nghề những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết. Như
vậy, nếu xem dưới góc độ lý thuyết hệ thống thì giáo dục đạo đức nghề
nghiệp bao gồm nhiều thành tố: Mục đích và yêu cầu, nội dung và phương
pháp, mục đích, phương tiện, các lực lượng tham gia, người dạy nghề,
người học nghề và kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Cụ thể: Mục
đích và yêu cầu giáo dục đạo đức nghề nghiệp sau khi được xây dựng, nó
quy định những nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cụ thể cần hình
thành ở người học nghề. Sau khi xác định nội dung giáo dục đạo đức nghề
nghiệp, nó sẽ quy định phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Trong
mối quan hệ giữa lực lượng tham gia giáo dục đạo đức nghề nghiệp và
người học nghề thì lực lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp giữ vai trò chủ
đạo trong việc tổ chức, điều khiển hoạt động của người học nghề. Dưới tác
động giáo dục đó, người học nghề phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của
mình trong quá trình tự rèn luyện, tự bồi dưỡng các phẩm chất nghề
nghiệp. Sự vận động của tất cả các thành tố trên tạo nên kết quả giáo dục
đạo đức nghề nghiệp. Kết quả này phản ánh sự vận động đúng hay không
đúng quy luật khách quan của các thành tố và của cả hệ thống. 17

18
Nội dung chủ yếu của giáo dục đạo đức phải phù hợp với yêu cầu
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, vì mục tiêu: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Giáo dục đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính
trị nhằm xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng định hướng chính trị xã hội theo
quan điểm, đường lối của Đảng.
Các nội dung giáo dục đạo đức nêu trên phải được thể hiện trong các
mối quan hệ cụ thể của cá nhân với xã hội, với người khác, với bản thân,
cũng như đối với lao động, với nghề nghiệp.
Như trên đã chỉ rõ trong nhà trường, nội dung giáo dục đạo đức
được gắn với việc tu luyện phẩm chất đạo đức của người dược sỹ tương lai,
được cụ thể hoá theo yêu cầu nghề nghiệp. Tuy vậy về cơ bản, giáo dục
đạo đức nghề Dược vẫn không tách rời những mối quan hệ chủ yếu trong
xã hội, bao gồm các mối quan hệ sau:
* Mối quan hệ của cá nhân với xã hội và pháp luật
Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu CNXH, tha
thiết với lợi ích của nhà nước, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, tự hào về thành
tựu văn hoá xã hội của đất nước, quí trọng quá khứ vẻ vang và những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tinh thần ấy phải được gắn vào điều kiện,
tình hình xã hội cụ thể của địa phương mình đang sống để có những hành
động thiết thực mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội như: Gương mẫu
thực hiện và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe và cứu chữa người bị nạn,…
Giáo dục cho học sinh, sinh viên biết tuân thủ pháp luật và những
quy định của nghề Dược do đặc thù nghề nghiệp, việc làm của người dược
sỹ có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe con
người. Để tránh hậu quả nặng nề có thể xảy ra đòi hỏi người học phải nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status