PHẦN MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1- Cơ sở lí luận.
Giáo dục và đào tạo là một hoạt động có tổ chức của xã hội, nhằm bồi
dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực con người cho mỗi công dân.
(Cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khoẻ và nghề nghiệp). Trong quá
trình giáo dục ở nhà trường, nhiệm vụ giáo dục tri thức luôn phải gắn với
nhiệm vụ giáo dục đạo đức. Thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, giáo dục
đạo đức là một khâu then chốt để giáo dục nhân cách con người. Đạo đức là
tổng hợp các qui tắc, tiêu chuẩn chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với nhau
trong một cộng đồng, một xã hội nói chung. Cho dù ở giai đoạn nào của lịch
sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác,
hướng tới quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, con người với tự
nhiên và xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự tu dưỡng, tự giáo dục của
chính mỗi cá nhân. Trong nền giáo dục từ xa xưa, ông cha ta vẫn rất đề cao và
coi trọng giáo dục đạo đức của con người. “Tiên học lễ, hậu học văn”, phải
chăng “lễ” là đức dục, là nền tảng cho sự phát triển và tài năng của con người.
Lóc sinh thời Hồ Chủ Tịch rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo
đức cho thế hệ trẻ. Bác nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng
khó, có tài mà không có đức là người vô dụng’’. Bác còn chỉ rõ “Dạy cũng
như học phải chú trọng cả Đức lẫn Tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái
gốc rất quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức trong trường học là một bộ
phận quan trọng có tính chất nền tảng của nhà trường XHCN”. Như vậy Đức
và Tài là hai phạm trù cơ bản để đánh giá nhân cách của một con người. Cho
nên để phát triển nhân cách phải hình thành, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giá
trị đạo đức phù hợp.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: “Phát
triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Để phát
triển giáo dục và đào tạo đạt hiệu quả cao, trước tiên phải nâng cao chất lượng
nạn xã hội đã gây không Ýt tác hại đối với sinh viên làm ảnh hưởng tới chất
lượng, uy tín của các nhà trường sư phạm. Thực tế công tác giáo dục- đào tạo
ở các trường sư phạm chưa được quan tâm đúng mức. Việc giáo dục đạo đức
cho sinh viên mặc dù đã được chú ý nhưng chưa đổi mới thường xuyên, nội
dung nghèo nàn, thực hiện chưa đồng bộ. Quá trình đào tạo giáo viên ở các
trường sư phạm nói chung và trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nói riêng
còn nặng về trang bị, cung cấp kiến thức khoa học chưa chú ý rèn luyện kĩ
năng nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức của người giáo viên. Để đáp
ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, các trường sư phạm cần
quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thông
qua các môn học. Muốn dạy học tốt trước hết phải có tâm hồn đẹp. Tu dưỡng
về nghề căn bản nhất và cũng gian khổ là luyện tâm hồn. Không có tâm hồn
đẹp khó dạy học sinh thành công. Quá trình luyện tâm hồn đi song song với
quá trình luyện tay nghề. Nói cách khác hồng thắm phải tiến hành cùng lúc
với chuyên sâu.
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nằm trong hệ thống các trường
sư phạm thực hiện nhiệm vụ đào tạo các thầy giáo, cô giáo tương lai. Là một
giáo viên của trường tôi luôn nhận thức được vai trò quan trọng trong việc
hình thành nhân cách cho sinh viên, đào tạo sinh viên vừa có kiến thức và
trình độ chuyên môn nghiệp vô cao, vừa phải có đạo đức tốt. Đặc biệt là giúp
các giáo sinh yên tâm với nghề mình đã chọn, để họ có thể trở thành những
thầy, cô giáo vừa có Đức, vừa có Tài, gắn bó cả đời mình với sự nghiệp đào
tạo thế hệ trẻ. Từ những lÝ do trên, tôi lùa chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình”
để tiến hành nghiên cứu.
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xác định một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nhằm góp phần nâng cao hiệu quả,
chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
3- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
thông tin khoa học, các công trình nghiên cứu của thạc sĩ, tiến sĩ có liên quan
đến đề tài.
- Mét số văn kiện đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, văn bản chỉ thị
của ngành về vấn đề giảng dạy, giáo dục đạo đức cho học sinh- sinh viên
trong trường học.
7.2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1- Phương pháp quan sát.
- Dù giê học, giê sinh hoạt trên líp.
- Quan sát các sinh hoạt tập thể, sinh hoạt chuyên đề, ngoại khoá.
- Quan sát các hoạt động tập thể trong kí túc xá, hoạt động thực hành,
thực tế, hoạt động xã hội.
7.2.2- Phương pháp điều tra bằng ankét
Dùng hệ thống câu hỏi lùa chọn, câu hỏi kín và mở, câu hỏi loại trừ
nhằm khẳng định một cách khoa học những vấn đề đã trao đổi, tiếp xóc với
đối lượng cần tìm hiểu.
7.2.3- Phương pháp trao đổi trò chuyện.
- Phỏng vấn sinh viên để tìm hiểu quan điểm, nhận thức, những nguyện vọng
của họ về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và việc lùa chọn nghề nghiệp.
- Thăm dò dư luận xã hội về vấn đề đạo đức của giáo viên sư phạm hiện
nay (cả tích cực và tiêu cực).
7.2.4- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Thăm dò thu thập ý kiến của những người có sự am hiểu về các vấn đề liên
quan đến đề tài.
7.2.5- Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng một số phương pháp toán học nh lập bảng thống kê, xử lý thông
tin và số liệu thu thập được.
NỘI DUNG NGHIÊN CøU
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những thập kỉ gần đây, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ
trẻ thu hót được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục. Có thể
kể đến các công trình sau:
- Năm (1977- 1978), trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của
Bungari trong chương trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh
niên đã đề cập nhiều đến vấn đề định hướng giá trị cho thanh niên trong đó có
giá trị đạo đức.
- Năm 1979 Nhà xuất bản Matxcơva xuất bản cuốn “Giáo dục đạo đức
học sinh - những vấn đề lí luận” của N.I Bônđưrép đề cập đến vấn đề lí luận
giáo dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho thanh niên.
- Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc
tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mục
đích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức.
Đáng kể đến là tài liệu “Giá trị trong hành động” của trung tâm Canh tân và
công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bản
năm 1992. Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và
cộng đồng các nước Inđônêxia, PhilÝppin, Malaysia và Thái Lan.
Ở Việt Nam đã có hơn một trăm cuốn sách về giáo dục đạo đức. Nội dung
sách dạy làm người và bổn phận của mỗi người đối với xã hội, cách giao tiếp
trong xã hội, thể hiện qua các tựa đề sách như : Huấn nữ ca ; Thơ dạy làm dâu ;
Gia huấn ca ; Phong hoá tập ; Phong hoá lễ nghi ; Tập lễ phép ; Phải trái ở đời;
Lời mẹ dạy con; Đạo đức và luân lí ; Mấy lời khuyên học trò…Trong số những
tác giả viết loại sách này phải kể đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.
Cô Phan Bội Châu khi viết “ Khổng đăng học”, cụ đã rót ra 6 tính tốt
cần rèn luyện gọi là lục ngôn: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương. Trong
thời đại Êy việc giáo dục 6 đức tính đó có tác dụng như sự rèn luyện bản
lĩnh cho con người.
Cô Phan Chu Trinh trong bài “Đạo đức và luân lí” đã tìm ra sức mạnh
cho dân cho nước ở sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo
Cụ từ xưa đến nay bất cứ dân téc nào đã đứng cạnh tranh hơn thua với các
việc kế thừa những giá trị truyền thống lẫn giá trị hiện đại trong việc giáo dục
giá trị cho thế hệ trẻ.
- “Về phát triển toàn diện con người thời kì CNH-HĐH ” thuộc đề tài
khoa học cấp nhà nước do Giáo sư- Viện sĩ Phạm Minh Hạc chủ trì, mã số
KHXH 04-04(2001). Trong đó dành hẳn một chương (chương7) nói về định
hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam, các tác giả trình
bày thực trạng đạo đức, nêu rõ mục tiêu giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện
nay cũng như việc đề ra các giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt
Nam thời kì CNH-HĐH.
Tóm lại, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến
vấn đề giáo dục đạo đức, nhưng nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm thì rất Ýt. Đặc biệt trong điều kiện toàn
cầu hoá, thế giới có nhiều biến động, sự hội nhập của các nền văn hoá trên thế
giới, một số hiện tượng tiêu cực đang xuất hiện ngày càng nhiều trong ngành
giáo dục đã có ảnh hưởng không nhỏ tới một bộ phận sinh viên. Chính vì thế
việc nghiên cứu về biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở
trường CĐSP Thái Bình là hết sức cần thiết, và đây cũng là một vấn đề mới
mẻ chưa có ai nghiên cứu.
2- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
2.1- Khái niệm về đạo đức.
2.1.1- Khái niệm đạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội luôn được mọi giai cấp, trong
mọi thời đại quan tâm. Đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này
với người khác. Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chế
đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá
nhân và xã hội, giữa lợi Ých xã hội và lợi Ých cá nhân.
C.Mác cho rằng:
“ Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát
triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện”.
- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người.
Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống các
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực. Căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc chuẩn
mực đó để đánh giá hành vi của cá nhân là hành vi đạo đức hay phi đạo đức.
Hoặc cá nhân lùa chọn và điều chỉnh cách ứng xử của mình cho phù hợp với
yêu cầu của xã hội và cộng đồng.
2.1.2- Khái niệm đạo đức nghề nghiệp.
Nói tới khái niệm đạo đức nghề nghiệp là người ta muốn thu hẹp phạm
vi của khái niệm đạo đức nói chung nhưng nó được cụ thể hoá và đặc trưng
hoá cho từng nghề nghiệp nhất định.
Đạo đức nghề nghiệp cũng có những nguyên tắc, chuẩn mực được dư
luận xã hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong mối quan hệ
xã hội. Bản thân nó lại có những nét đặc thù riêng, phản ánh đầy đủ phẩm
chất cần có của một ngành, một nghề cụ thể. Đó là những qui tắc, chuẩn
mực của một nghề nghiệp hoặc một nhóm nghề nghiệp nào đó, nó qui định
những hành vi ứng xử của những cá nhân khi hoạt động trong lĩnh vực nghề
nghiệp đó. Khi những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đó không được thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả
trong hoạt động của chính hoạt động đó. Mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều
có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung: Ví dụ khi nói đến đạo đức của
ngành y thì vấn đề “lương y như từ mẫu” được coi là một chuẩn mực đạo
đức của ngành này. Trong thời kì chiến tranh, phẩm chất đạo đức “yêu xe
như con, quí xăng như máu” là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người bộ
đội lái xe thời kì đó. Với những người làm công tác dịch vụ xã hội thì: “Vui
lòng khách đến, vừa lòng khách đi” là biểu hiện đạo đức nghề nghiệp của
họ. Với lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức của họ phải đạt
chuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:
“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.
Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành
Giáo dục đạo đức là bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện con người,
là quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình
cảm, niềm tin và hành vi thãi quen đạo đức. Giáo dục đạo đức phải gắn chặt
với giáo dục tư tưởng chính trị. Giáo dục tư tưởng chính trị có tác dụng xây
dựng cơ sở thế giới quan Mác - Lê Nin và định hướng chính trị xã hội theo
quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức.
Ngoài ra giáo dục đạo đức còn phải kết hợp với giáo dục pháp luật. Giáo dục
pháp luật có tác dụng củng cố và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức.
2.2.2- Đạo đức gắn liền nghề nghiệp
Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhà
trường sư phạm là hết sức quan trọng được các nhà trường chú ý và đặt song
song với nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức khoa học. Thực chất của công tác này là
công tác quản lí, giáo dục học sinh trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhà
trường. Đây là khâu quan trọng của quá trình hình thành nhân cách người
giáo viên theo mục tiêu đào tạo và theo tiêu chuẩn đạo đức của người giáo
viên. Đồng thời đưa hoạt động của nhà trường vào nề nếp, chính qui đáp ứng
yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đó là “xã hội hoá công tác giáo dục”. Do
đó giáo dục đạo đức phải đạt những yêu cầu cơ bản sau:
- Giáo dục tư tưởng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng nhân ái cho sinh
viên là nội dung xuyên suốt quá trình quản lí giáo dục sinh viên. Yêu cầu này
nhằm xây dựng niềm tin, bản lĩnh chính trị, sự tin tưởng trung thành vào
đường lối lãnh đạo của Đảng, của ngành, của trường và khoa. Giáo dục tình
cảm đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Đây là yếu tố
tiên quyết, cốt lõi để xây dựng bản chất nhân cách người giáo viên nhân dân.
Việc giáo dục đạo đức trong điều kiện hiện nay gặp không Ýt khó khăn bởi
những tác động tiêu cực của lối sống thực dụng, vị kỉ khá phổ biến trong xã
hội. Từ đó ảnh hưởng đến môi trường giáo dục trong nhà trường.
- Nhà trường cần giáo dục mục đích, động cơ học tập đúng đắn, tinh thần
vượt khó, ý chí rèn luyện, sự ham mê sáng tạo trong học tập. Đây là mặt quan
trọng để giáo dục sinh viên có bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học phục vụ
XHCN.
- Giáo dục dân chủ và pháp chế XHCN.
- Giáo dục hành vi văn minh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, giáo
dục ý thức công dân và các nội dung đạo đức mới XHCN.
Nội dung chủ yếu của giáo dục đạo đức phải phù hợp với yêu cầu công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện ý nguyện của Đảng : Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Giáo dục đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị
nhằm xây dựng thế giới quan Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, định
hướng chính trị xã hội theo quan điểm đường lối của Đảng.
Các nội dung giáo dục đạo đức nêu trên phải được thể hiện trong các mối
quan hệ cụ thể của cá nhân với xã hội, với người khác, với bản thân, cũng như
đối với lao động.
Trong nhà trường sư phạm, nội dung giáo dục đạo đức được gắn với việc
tu luyện phẩm chất đạo đức của người giáo viên tương lai, được cụ thể hoá
theo yêu cầu nghề nghiệp trong thời đại mới. Tuy vậy cơ bản vẫn không tách
rời những mối quan hệ chủ yếu trong xã hội, bao gồm các mối quan hệ sau:
* Mối quan hệ của cá nhân với xã hội.
Giáo dục cho sinh viên lòng yêu nước, yêu CNXH, tha thiết với lợi Ých
của nhà nước, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, tự hào về thành tựu văn hoá xã hội
của đất nước, quí trọng quá khứ vẻ vang và những truyền thống của dân téc.
Tinh thần Êy phải được gắn vào điều kiện, tình hình xã hội cụ thể của địa
phương mình đang sống để có những hành động thiết thực mang lại lợi Ých
cho cộng đồng, xã hội.
* Mối quan hệ thể hiện lí tưởng sống, nhận thức tư tưởng chính trị của cá nhân.
Đó là việc giáo dục thế giới quan khoa học, lí tưởng sống cao đẹp…giúp cho
mỗi cá nhân có nhận thức, thái độ chính trị vững vàng, có bản lĩnh trước cuộc sống.
* Quan hệ của cá nhân đối với công việc.
Giáo dục cho cá nhân những giá trị đạo đức thể hiện nhận thức, thái độ,
chất lượng hiệu quả công việc trong mọi hoạt động. Những giá trị đạo đức
dục cho sinh viên tính khiêm tốn, thật thà, lòng tự trọng, biết giữ gìn phẩm giá
của cá nhân. Biết ứng xử có văn hoá, lễ độ, nhường nhịn, gương mẫu…những
phẩm chất này gắn chặt với lĩnh vực ý chí của họ được thể hiện trong học tập,
lao động sinh hoạt đoàn thể, đời sống hàng ngày.
* Quan hệ cá nhân với môi trường.
Giáo dục cho mỗi cá nhân có nhận thức đúng về môi trường sống (môi
trường tự nhiên, xã hội) có cách nhìn nhận tiến bộ về tính cộng đồng, hợp tác
trong việc bảo vệ môi sinh. Từ đó giáo dục cho các em ý thức tự giác sẵn sàng
tham gia bảo vệ, cải thiện môi trường tự nhiên, văn hoá.
Như vậy nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên trước hết là giáo dục
tình cảm trách nhiệm với tổ quốc, quê hương, với truyền thống ông cha, giáo
dục về lối sống lành mạnh của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ xã hội.
Giáo dục đạo đức phải tiến hành cùng với giáo dục tư tưởng chính trị và
giáo dục lối sống nhằm giúp cho sinh viên nói riêng và thanh niên nói chung
thấm nhuần các quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà xã hội quy định. Ngoài ra
còn phải giáo dục cho họ có được bản lĩnh đấu tranh chống tư tưởng thãi
quen lạc hậu, lên án hành vi phi đạo đức, tự giáo dục chính mình trở thành
con người có Ých cho xã hội.
2.2.4- Mét sè phương pháp giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức
nghề nghiệp trong nhà trường hiện nay:
Phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, là
cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm thực hiện
các nhiệm vụ giáo dục.
Theo phó Giáo sư - Tiến sĩ Hà Nhật Thăng:
“Phương pháp giáo dục là cách thức hoạt động gắn bó với nhau giữa
nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục
do xã hội đặt ra đối với nhà trường”. [35, 72].
Phương pháp giáo dục được thể hiện thông qua các biện pháp giáo dục
khác nhau. Biện pháp giáo dục là biểu hiện cụ thể và có tính chất bộ phận của
phương pháp giáo dục, nó nằm trong phương pháp và thuộc về phương pháp
Nhóm này gồm các phương pháp:
- Nêu yêu cầu sư phạm là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục
thực hiện nội quy, quy chế, công việc hay nghĩa vụ nhất định.
- Tập luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục lặp đi lặp
lại một cách thường xuyên, có hệ thống các thao tác, các sinh hoạt và hành
động nhất định nhằm biến chúng thành kĩ năng, kĩ xảo, thãi quen cần thiết.
- Rèn luyện là phương pháp tổ chức các hoạt động về cuộc sống cho
người được giáo dục, tạo cho chúng có điều kiện ứng xử phù hợp với chuẩn
mực xã hội và các kĩ năng tổ chức các hoạt động của mình.
* Loại phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi.
Là các phương pháp nhà giáo dục biểu thị sự đánh giá tích cực hay
không đồng tình, phê phán các hành động, hành vi của người được giáo dục.
Nhóm này gồm 2 phương pháp:
- Khuyến khích là cách thức biểu thị sự đánh giá tích cực của xã hội đối
với hành vi ứng xử và hoạt động của từng học sinh hay của nhóm, tập thể.
- Trách phạt là cách thức tác động vào nhân cách học sinh bằng cách
biểu thị sự không đồng tình, phê phán và lên án những hành động, hành vi trái
với các chuẩn mực đạo đức của xã hội hoặc đi chệch khỏi những qui tắc tập
thể.
Nhóm phương pháp nêu trên nhằm kích thích những hành vi phù hợp với
chuẩn mực xã hội đồng thời uốn nắn, điều chỉnh những hành vi không phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
* Loại phương pháp kiểm tra, đánh giá hành vi và hoạt động.
Nhằm kiểm tra, đánh giá hành vi và hoạt động của học sinh, là yếu tố
quan trọng đảm bảo hiệu quả giáo dục.
Trong đánh giá có thể dùng các phương pháp sau:
- Quan sát để có thể phát hiện được kĩ năng, hành vi, thái độ của học
sinh, người được giáo dục.
- Đàm thoại, trò chuyện, trao đổi với những người xung quanh học sinh,
người được giáo dục, thấy được ý thức, thái độ, động cơ, hành vi và thãi quen
Lương Thế Vinh…Thực hiện chức năng của mình, người thầy có một vị trí
đặc biệt trong xã hội, là người đại diện cho nền văn minh nhân loại, người
đem ánh sáng văn hoá truyền cho thế hệ trẻ nói riêng và xã hội nói chung.
“Không ai trong xã hội, ngay cả cha mẹ và cả cha mẹ là bậc vĩ nhân đi chăng
nữa cũng không thể thay thế được chức năng của người thầy giáo” [24, 161].
Bằng lao động sư phạm của mình, người thầy giáo giúp học sinh tiếp
cận với nền văn minh nhân loại, chỉ cho họ phương pháp tiếp thu, lĩnh hội có
hiệu quả nhất những tinh hoa văn hoá chuyển thành tài sản riêng của họ, nhờ
đó họ có thể bước vào cuộc sống xã hội. Người thầy giáo thực sự là cái “dấu
nối” giữa nền văn hoá nhân loại và dân téc với việc tái tạo nền văn hoá đó
trong chính thế hệ trẻ. Thật đúng như ông cha ta đã từng đúc kết: “Không
thầy đố mày làm nên”.
Trong xã hội hiện đại thì thầy giáo cũng là người lao động, mà loại hình
lao động này có đặc thù riêng so với nhiều loại hình lao động khác. Luật Giáo
dục của Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân”. Trong công việc hệ trọng đó
thì giáo viên là người có chức năng nhiệm vụ cao cả, người có vị trí được tôn
vinh. Vị trí đó được xác định bởi tầm quan trọng của giáo dục trong xã hội
hiện đại và do đặc điểm của lao động sư phạm qui định. Nghề giáo có quan hệ
hữu cơ với mọi ngành nghề khác, người thầy giáo cũng bình đẳng với mọi
người ở những ngành nghề khác, nhưng do tính chất của nghề “trồng người”
nên nhà giáo được xã hội gọi là thầy. Thầy giáo thời xưa được nhìn nhận có
phần chặt chẽ, xa cách đời thường, còn thầy giáo thời nay được nhìn nhận cởi
mở hơn, phù hợp hơn với nền văn minh đương đại.
Trong bối cảnh mới của thời đại, thành tựu kĩ thuật- công nghệ phát triển
đang tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị. Giáo viên không thể chỉ đóng
vai trò truyền đạt tri thức mà phải có năng lực phát triển cảm xúc, thái độ,
hành vi của học sinh, đảm bảo cho người học làm chủ được và biết ứng dụng
hợp lí những tri thức đó. Giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt tri thức,
kiến thức mà còn là người biết gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn và trọng
ở họ những tri thức đạo đức, tình cảm, hành vi đạo đức lành mạnh. Từ nhận
thức về các giá trị và chuẩn mực đạo đức dần hình thành các nhu cầu, động cơ
bên trong thúc đẩy các em có hành vi, hành động thể nghiệm chúng trong
cuộc sống hàng ngày.
Tóm lại: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình xây dựng và điều
chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân phù hợp với mục tiêu đã định. Việc giáo
dục đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhằm mục đích tạo ra
một đội ngò những người giáo viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của nhà trường trong giai đoạn mới.
4- NHỮNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CẦN HÌNH THÀNH Ở
NGƯỜI SINH VIÊN SƯ PHẠM.
4.1- Đặc điểm tâm lí của sinh viên.
Sinh viên là một tầng líp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi
thể chế chính trị. Thanh niên sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp,
chuẩn bị cho một đội ngò tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong
xã hội. Sinh viên là những công dân thực thụ của đất nước với đầy đủ quyền hạn
và nghĩa vụ trước pháp luật. Họ có quyền bầu cử, ứng cử, phải chịu trách nhiệm
về mọi hành vi và việc làm trước Bộ luật hình sự, luật nghĩa vụ quân sự, luật hôn
nhân gia đình…Như vậy xã hội coi họ là một thành viên chính thức, một người
trưởng thành. Tuy nhiên do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực
tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên thanh niên sinh viên chưa hoàn toàn tự lập
về mọi mặt so với thanh niên cùng độ tuổi vào đời sớm.
* Về sự phát triển tâm lý, thanh niên sinh viên có những đặc điểm sau:
- Đa số sinh viên thích nghi khá nhanh chóng với cuộc sống và môi
trường hoạt động mới (nội dung học tập mang tính chất chuyên ngành;
phương pháp học tập mang tính chất nghiên cứu khoa học ; môi trường sinh
hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế, nội dung và cách thức giao
tiếp với thầy cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú đa dạng…)
- Họ thường không thoả mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu suy
nghĩ để nắm vấn đề sâu hơn, rộng hơn. Có những sinh viên không chỉ theo