Xác định thời vụ trồng và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 chọn tạo tại học viện nông nghiệp việt nam - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN THỊ MIÊN
XÁC ĐỊNH THỜI VỤ TRỒNG VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG
CỦA THỨC ĂN Ủ CHUA HAI DÒNG CAO LƯƠNG OPV86 VÀ
OPV88 CHỌN TẠO TẠI HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 60.62.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI QUANG TUẤN Hà Nội – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp tại Học viện Nông
nghiệp Việt Nam ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý
báu của của nhiều cá nhân và tập thể.
Lời đầu tiên tôi xin được cảm ơn Ban giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt
Nam, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, cùng toàn thể các thầy
cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên môn nghề nghiệp và
tư cách đạo đức làm nền tảng cho tôi trong cuộc sống và công việc sau này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS. Bùi Quang Tuấn
đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học
tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và tất cả mọi người đã
luôn dành cho tôi sự quan tâm và giúp đỡ.

Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Miên


1.2. Ủ CHUA THỨC ĂN THÔ XANH 13
1.2.1. Các quá trình hóa sinh và vi sinh vật diễn ra trong ủ chua thức ăn thô xanh 13
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn ủ chua 17
1.3. CÂY CAO LƯƠNG 20
1.3.1. Nguồn gốc và phân bố của cây cao lương 20
1.3.2. Đặc tính thực vật và khả năng chống chịu của cây cao lương 21
1.3.3. Khả năng tái sinh 24
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây cao lương 24
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY CAO LƯƠNG 26
1.4.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây cao lương trên thế giới 26
1.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây cao lương ở Việt Nam 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 34
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 34
2.2.1. Đánh giá khả năng sinh trưởng của cây cao lương 34
2.2.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá cao lương 34
2.2.3. Chi phí cho sản xuất thức ăn xanh 34
2.2.4. Chất lượng cây cao lương ủ chua làm thức ăn cho gia súc nhai lại 34
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.3.1. Bố trí thí nghiệm 34
2.3.2. Các biện pháp kỹ thuật 35
2.4. PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 36
2.4.1. Điều kiện của địa điểm nghiên cứu 36
2.4.2. Các chỉ tiêu về đất 36
2.4.3. Các chỉ tiêu nông sinh học 36
2.4.4. Các chỉ tiêu năng suất 37
2.4.5. Phân tích thành phần hóa học 37


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới 27

Bảng 3.1. Điều kiện thời tiết khí hậu 41

Bảng 3.2. Điều kiện dinh dưỡng đất thí nghiệm 42

Bảng 3.3. Tỉ lệ nảy mầm của hạt cao lương (%, n=3) 43

Bảng 3.4. Chiều cao của hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 khi
thu cắt (cm, n=3) 44

Bảng 3.5a. Tốc độ sinh trưởng của dòng cao lương OPV86 (cm/ngày
đêm, n=3) 47

Bảng 3.5b. Tốc độ sinh trưởng của dòng cao lương OPV88 (cm/ngày
đêm, n=3) 48

Bảng 3.6. Năng suất chất xanh của hai dòng cao lương OPV86 và
OPV88 (tấn/ha, n=3) 49

Bảng 3.7. Năng suất chất khô của hai dòng cao lương OPV86 và
OPV88 (tấn/ha, n=3) 52

Bảng 3.8. Năng suất protein của hai dòng cao lương OPV86 và
OPV88 (tấn/ha, n=3) 54

Bảng 3.9. Năng lượng trao đổi của hai dòng cao lương OPV86 và

Đồ thị 1.1. Đồ thị đặc trưng của sinh trưởng 3
Hình 3.1. Chiều cao của dòng cao lương OPV86 và OPV88 khi thu cắt 46
Hình 3.2. Năng suất chất xanh của hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 51
Hình 3.3. Năng suất chất khô của hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 53
Hình 3.4. Năng suất protein của hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 56
Hình 3.5. Năng lượng trao đổi của hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix

DANH MỤC VIẾT TẮT

Số thứ tự Ký hiệu viết tắt Đọc là
1 Cs Cộng sự
2 CT Công thức
3 CX Chất xanh
4 DE Năng lượng tiêu hóa
5 DXKN Dẫn xuất không nito
6 KTS Khoáng tổng số
7 ME Năng lượng trao đổi
8 NSCK Năng suất chất khô
9 NSCX Năng suất chất xanh
10 TB Trung bình
11 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
12 SEM Sai số chung của số trung bình
13 VCK Vật chất khô
14 VGĐT4 Vụ gieo đầu tháng 4
15 VGĐT6 Vụ gieo đầu tháng 6
16 VGĐT8 Vụ gieo đầu tháng 8
17 VGĐT10 Vụ gieo đầu tháng 10
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

cao lương nhập nội. Cây cao lương có thể cho năng suất cao trong 2-3 lứa cắt đầu,
các lứa sau năng suất giảm rất nhanh tùy thuộc vào thời vụ gieo trồng. Việc xác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

định thời vụ trồng cao lương để thu được năng suất chất xanh cao nhất, thu hoạch
vào đúng thời điểm trước đông để ủ chua dự trữ rất có ý nghĩa trong sản xuất chăn
nuôi. Xuất phát từ thực tiến trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định
thời vụ trồng và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua hai dòng cao lương OPV86
và OPV88 chọn tạo tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam ”
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được thời vụ trồng hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 thích hợp
tại vùng đồng bằng Sông Hồng để đạt năng suất chất xanh cao, giúp hạ giá thành
thức ăn thô xanh trong chăn nuôi gia súc nhai lại.
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Số liệu thu được của đề tài là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng quy trình trồng
và chăm sóc cây cao lương làm thức ăn cho gia súc nhai lại.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trồng cao lương đúng thời vụ sẽ cho thu cắt được nhiều lứa, cho năng suất
chất xanh cao, giảm chi phí cho sản xuất thức ăn thô xanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY THỨC ĂN
1.1.1. Động thái sinh trưởng của thân lá
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch
của tế bào, mô và toàn cây, kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể

Page 4

Mặc dù đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình
chữ S, tuy nhiên độ dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác
nhau. Dựa vào sự nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định:
+ Thời điểm bón thúc cho cây thức ăn.
+ Thời điểm thu hoạch thích hợp để được năng suất và chất lượng thức ăn cao.
+ Chọn cỏ để trồng kết hợp, hạn chế được sự che bóng của nhau.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của thân lá
Thực tiễn cho thấy không loài thực vật nào có thể sống và cho năng suất cao,
chất lượng tốt trong mọi đều kiện tự nhiên khác nhau. Nghiên cứu sự thích nghi của
các giống cây thức ăn khác nhau dưới tác động của các yếu tố có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc lựa chọn các giống cây thức ăn tốt để phát triển trong sản
xuất. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây gồm:
- Khí hậu
+ Ánh sáng
Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng
của cây rất phức tạp. Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho cây tiến hành
quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục mà lục lạp chứa diệp lục là nơi
duy nhất tích lũy năng lượng mặt trời dưới dạng các chất hữu cơ. Có ánh sáng cây
mới sinh thân, cành lá và ra hoa kết quả bình thường.
Ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng dưới hai hình thức khác nhau là cường
độ sáng và quang chu kì, nhưng khó có thể dùng thực nghiệm để tách riêng những
ảnh hưởng khác nhau giữa chúng. Ở những cường độ ánh sáng yếu (500-1000 lux)
thì cường độ quang hợp tăng nhanh cùng cường độ sáng nhưng những cường độ ánh
sáng mạnh thì mức tăng giảm bất ngờ. Đối với nhiều loài cỏ nhiệt đới cường độ
quang hợp tiếp tục tăng, tuy không theo đường thẳng, cho đến khi năng lượng nhận
được bằng 60.000 lux hay cao hơn. Cường độ sáng thích hợp cho quá trình quang
hợp ở cỏ nhiệt đới là 50.000-60.000 lux, ở cỏ ôn đới là 15.000-20.000 lux.
Tăng quang chu kì làm kìm hãm tốc độ đẻ nhánh tuy không ảnh hưởng tới

3
và chu trình C
4
. Một số cây
trồng thuộc nhóm này như mía, ngô, kê, cao lương. Đặc điểm của nhóm thực vật
này là ở chúng đã có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện chức
năng quang hợp. Một loại lục lạp chuyên trách cố định CO
2
một cách hiệu quả nhất
còn một loại lục lạp chuyên khử CO
2
thành các chất hữu cơ cho cây. Do vậy mà
hoạt động quang hợp của cây C
4
mạnh hơn và hiệu quả hơn các thực vật khác. Kết
quả là năng suất sinh vật (tổng lượng chất khô mà cây tích lũy được trên một đơn vị
diện tích trồng trọt trong một thời gian nhất định) của cây C
4
thường cao.
Xét về mặt tiến hóa thì các cây C
4
có con đường quang hợp hoàn thiện hơn,
tiến hóa hơn thực vật C
3
và thực vật CAM.
Nhóm thực vật CAM (Crassulacean Acid Metabolism) bao gồm thực vật
mọng nước như các loại xương rồng, dứa, hành, tỏi… Chúng thực hiện con đường
quang hợp thích nghi với điều kiện khô hạn, bắt buộc phải đóng khí khổng vào ban
ngày và chỉ mở khí khổng vào ban đêm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

nhìn chung tất cả các loài thực vật có hạt (thực vật hạt kín và thực vật hạt trần) thì
nhiệt độ tối thích để hạt nảy mầm là trong khoảng nhiệt độ từ 23-33
0
C.
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh
trưởng của cây. Các loài cỏ khác nhau có phản ứng với độ dài ngày khác nhau, một
số giống đáp ứng với độ dài ngày ngắn, một số khác ra hoa trong điều kiện dài ngày
hơn, chính điều này làm cho nhiều loài cỏ ra hoa ở địa phương này mà không ra hoa
ở địa phương khác, cho nên việc sản xuất hạt giống cỏ chỉ có ở những vùng có điều
kiện nhất định. Do biên độ nhiệt độ của cây thức ăn nhiệt đới nhỏ hơn biên độ nhiệt
của cây thức ăn ôn đới nên vùng ôn đới khó có thể nhập, trồng cây nhiệt đới.
+ Độ ẩm
Ẩm độ là một nhân tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây. Cây sinh trưởng
mạnh nhất khi tế bào bão hòa nước. Giảm mức độ bão hòa khi sinh trưởng chậm lại.
Đối với các tế bào rễ vì không có mô che chở như các bộ phận trên mặt đất nên phải
đủ ẩm rễ mới sinh trưởng được. Về mùa xuân nước trong đất nhiều, độ ẩm không
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

khí cao, cây mất ít nước và chất nguyên sinh được bão hòa nên sinh trưởng mạnh,
còn mùa đông do độ ẩm không khí thấp, cây mất nước nhiều chất nguyên sinh
không bão hòa nên cây sinh trưởng chậm lại.
Ẩm độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sản lượng cỏ. Lượng mưa
tổng số cũng như phân bố của nó quyết định sự thích nghi của một số giống cây
thức ăn gia súc đối với môi trường nhất định nào đó. Sự thay đổi theo mùa của sinh
trưởng do nhiều yếu tố gây ra, nhưng hạn chế nhất cho sinh trưởng trong mùa đông
vẫn là nhiệt độ và ẩm độ mà trong đó nhiều nhà nghiên cứu cho nhận định rằng ẩm
độ là nhân tố hạn chế nhất. Cho nên tưới nước cho đồng bãi cỏ là một hình thức
nhằm tăng năng suất cỏ và đáp ứng được nhu cầu cho chăn nuôi thâm canh ở nhiều
nước chăn nuôi phát triển, lí do là vì nhờ nước mà cây có thể hút được chất dinh

cho hiệu quả cao nhất là tưới phun mưa. Phương pháp tưới phun mưa cho phép tiết
kiệm nước, điều hòa được lượng nước tưới, điều hòa được độ ẩm và nhiệt độ không
những của đất mà còn của lớp không khí gần mặt đất. Phương pháp này càng có
hiệu quả cao khi kết hợp tưới nước với bón phân vi lượng.
Hầu hết các cây thức ăn đều tồn tại khi bị ngập úng một vài ngày, nhưng rất
ít cây có thể sinh trưởng ở vùng đất bị ngập úng trong thời gian dài. Một số loài
thức ăn có thể chịu đựng được ngập úng tốt hơn những loài khác như cỏ lông para
(Brachiaria mutica), Brachiaria humidicola, Macroptilium gracile… Có hai hệ
thống tiêu nước cho đồng cỏ: hệ thống hở và hệ thống kín. Hệ thống tiêu nước hở là
mạng lưới rãnh thoát nước, kênh gom, hồ chứa nước. Mức độ tiêu nước được điều
chỉnh thông qua mật độ của các rãnh thoát nước. Hệ thống tiêu nước kín cũng bao
gồm mạng lưới các rãnh thoát nước, kênh gom nước và hồ chứa nước. Các hệ thống
rãnh và kênh được làm bằng các vật liệu khác nhau, đặt ngầm dưới đất. Trên thực tế
thường kết hợp cả hai hệ thống tiêu nước trên đồng cỏ.
- Dinh dưỡng trong đất
Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây thức ăn
trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các nguyên tố
đại và vi lượng. Phân bón và cách bón phân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất chất
khô và thành phần hóa học của thức ăn. Các loài có năng suất cao như cỏ voi
(Pennisetum purpureum), cỏ ghi nê (Panicum maximum), cỏ lông para (Brachiaria
mutica)… phản ứng rất mạnh với phân chuồng và phân đạm. Phân bón lót P - K rải
một lần trong năm có tác dụng trong cả năm, làm tăng năng suất cỏ so với không
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

bón phân. Ngược lại sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay khi trước
đó người ta bón phân, cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm một cách
hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục trạng mùa do điều
kiện thời tiết gây nên.
Độ pH trong đất quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các nguyên

thành phần thực vật của đồng cỏ, phương thức sử dụng đồng cỏ, thành phần của phân
bón, mức bón, thời gian và cách bón phân.
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu thức ăn Liên bang Nga (Liên Xô cũ)
thì hiệu quả sử dụng phân nitơ trung bình của đồng cỏ tự nhiên ở Liên Xô đạt từ 34-
92%, phân photpho từ 17-20% và phân kali từ 33-97%. Trong điều kiện nhiệt đới
và cận nhiệt đới, các chỉ tiêu này tương ứng là 9,5-100% đối với phân nitơ, 20% đối
với phân photpho và 75% đối với phân kali.
Chất khoáng trong đất ở dạng khó sử dụng càng nhiều thì phân khoáng bón
cho đồng cỏ càng có hiệu quả cao và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất càng
mạnh. Thực tế cũng chứng minh rằng phân bón có hiệu quả cao hơn ở đồng cỏ
trồng thu cắt so với đồng cỏ tự nhiên chăn thả. Bởi vậy ở các nước nhiệt đới bón
phân thường được áp dụng cho đồng cỏ trồng và là biện pháp quan trọng duy trì
năng suất cao của đồng cỏ.
Bùi Quang Tuấn (2005) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón
phân urê khác nhau đến năng suất, thành phần hoá học cũng như hiệu quả của đầu
tư phân bón đối với cỏ voi, cỏ ghi nê. Kết quả cho thấy mức bón phân urê thích hợp
đối với cỏ voi là 100kg, cỏ ghi nê là 50kg N/ha/lứa cắt.
Điểm rất nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỉ lệ protein thô trong cây
thức ăn. Tuy nhiên ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn
không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn.
Bón nhiều phân nitơ dẫn đến thực vật sinh trưởng nhanh (nhiều thân cành, lá
ít) sẽ dẫn đến xơ thô trong thức ăn tăng.
- Sức nảy mầm của giống
Sự sinh trưởng của cây thức ăn phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt,
nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này. Nhiều
loài cỏ có sức nảy mầm cao như cỏ Mộc Châu, nhưng một số khác sức nảy mầm
kém và cần được xử lí bằng các phương pháp như xát vỏ, xử lí quang học, xử lí hoá
học… như cỏ ghi nê (Panicum maximum), đậu stylo (Stylosanthes guianensis).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

thể tác động đến các vùng tiểu khí hậu bằng cách tưới tiêu vùng hạn hán, trồng cỏ
dưới tán cây với những bức xạ nhiệt lớn….
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

1.1.3. Động thái tái sinh trưởng của thân lá
Cỏ mọc lại sau khi thu cắt gọi là cỏ tái sinh. Quá trình tái sinh trưởng của
thân lá cũng được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn sinh trưởng chậm; Giai đoạn
sinh trưởng nhanh; Giai đoạn sinh trưởng chậm.
Giai đoạn sinh trưởng chậm của cỏ tái sinh thường ngắn vì sau khi thu hoạch
cây cỏ vẫn còn nguyên bộ rễ đã phát triển hoàn thiện, và cùng với nó là các chất
dinh dưỡng dự trữ. Thu hoạch cách mặt đất 5-7 cm (đối với cây hòa thảo) và 7-10
cm (đối với cây đậu thân bò) nên cây cỏ vẫn còn khả năng quang hợp nhất định. Do
vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây nhanh chóng hồi phục, đảm bảo
cho quá trình tái sinh trưởng nhanh sau đó.
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh trưởng của thân lá
Các nhân tố ảnh hưởng tới sinh trưởng như trên đã xét cũng có ảnh hưởng rất
sâu sắc tới tái sinh trưởng. Cây cỏ đã được thu hoạch bằng dạng này hay dạng khác
chỉ có khả năng tái sinh khi trong rễ và phần thân còn lại có chứa đầy đủ chất dinh
dưỡng cần thiết cho quá trình tái sinh và vì vậy ngoài các nhân tố trên, các nhân tố
sau đây: tuổi thiết lập, tuổi thu hoạch và độ cao thu hoạch cũng rất quan trọng, ảnh
hưởng tới tái sinh, vì nó quyết định lượng dinh dưỡng dự trữ để tái sinh.
+ Tuổi thiết lập
Tuổi thiết lập là tuổi kể từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch lứa đầu. Lứa
tuổi này rất quan trọng vì nó tạo điều kiện cho các bộ phận dưới đất (rễ, thân
ngầm…) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ dinh dưỡng sau này. Chỉ khi các bộ
phận này đã phát triển và dự trữ đầy đủ chất dinh dưỡng mới cho phép quá trình tái
sinh mạnh. Nếu cây thức ăn vừa mới mọc mà ta đã chăn thả gia súc hoặc thu cắt thì
chúng bị tàn phá ngay. Hay thu hoạch khi cây thức ăn đã quá già phần còn lại có
khả năng tái sinh kém. Nhưng ở giữa hai thời điểm này có một giai đoạn mà ở đó

Ủ chua là một biện pháp sinh vật học để bảo quản thức ăn nhiều nước. Bản
chất của việc ủ chua là trong điều kiện yếm khí, khi nén chặt sinh khối thức ăn trong
tháp hoặc hố ủ sẽ xảy ra mạnh mẽ các quá trình sinh hóa và vi sinh vật học để lên
men đường hình thành axit hữu cơ cấp thấp (axit lactic, axit butyric, …) để giảm độ
pH tới mức có tác dụng ức chế mọi hoạt động của vi sinh vật thối rữa. Do vậy, giá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

trị dinh dưỡng của thức ăn được bảo tồn và bảo quản được trong thời gian dài.
Người ta phân biệt 3 tác động chính trong quá trình ủ chua:
- Tác động của hô hấp hiếu khí:
Sau khi cắt cỏ tế bào thực vật vẫn sống và thực hiện hô hấp hiếu khí. Thông
thường đường hexose sẽ bị ôxi hoá cho ra CO
2
, H
2
O và nhiệt. Ở từng cây thức ăn
riêng rẽ thì nhiệt này nhanh chóng toả vào không khí, nhưng trong thiết bị ủ (túi, bể,
hào, hố ủ …) nhiệt toả ra sẽ làm tăng nhiệt độ của khối ủ. Nhiệt độ cao càng làm
tăng hô hấp hiếu khí. Chỉ vài giờ sau khi ủ nhiệt độ của khối ủ lên tới 60-70
0
C. Các
sản phẩm của hô hấp hiếu khí không có ích cho ủ chua thức ăn. Ngược lại, trong
điều kiện nhiệt độ cao nước bốc hơi rồi sau đó nhỏ xuống lớp trên khối ủ, là một
trong những nguyên nhân làm cho lớp thức ăn này bị mốc.
Hơn nữa, ở nhiệt độ khối ủ cao hơn 40
0
C thì protein và các axit amin sẽ phản
ứng với đường tạo thành các phức hợp bền vững (melanoid) mà gia súc không thể
tiêu hóa được. Trong trường hợp này thức ăn ủ chua có mùi thơm của táo, mùi mật

Lượng ôxi trong khối ủ càng nhiều thì hô hấp hiếu khí càng kéo dài. Ủ nhanh,
nén chặt, bịt kín túi, hào, hố, bể ủ sẽ hạn chế được hô hấp hiếu khí.
+ Ẩm độ của nguyên liệu ủ:
Tỉ lệ nước trong nguyên liệu ủ càng cao thì hô hấp hiếu khí càng mạnh.
Nhược điểm này hạn chế bằng cách phơi héo thức ăn sau khi băm chặt hoặc trộn
thêm thức ăn thô khô như cỏ khô, rơm khô để hút bớt nước của khối ủ.
- Tác động của hô hấp yếm khí:
Tế bào thực vật không chết ngay sau khi đã sử dụng hết ôxi. Nhờ quá trình hô
hấp đặc biệt này nên tế bào vẫn có thể sống thêm được một thời gian nhất định, trong
thời gian này lượng chất tích lũy trong thức ăn vẫn tiếp tục bị phân giải cho ra rượu
và các axit hữu cơ. Nhưng sản phẩm này tích lũy dần trong tế bào cuối cùng làm cho
tế bào bị chết. Lượng đường và lượng nước trong thức ăn càng nhiều thì quá trình hô
hấp yếm khí trong tế bào càng lâu, nhưng số lượng axit hữu cơ sản sinh ra trong quá
trình hô hấp này còn ít và chưa rõ ràng trong việc bảo quản giá trị thức ăn.
- Tác động của vi sinh vật:
Song song với các tác động trên còn có tác động mạnh mẽ của các vi sinh vật có
trong sinh khối ủ, chủ yếu là các loại vi khuẩn lên men lactic, axetic, butyric, các vi
khuẩn gây thối, các nấm, mốc. Các vi sinh vật này có sẵn trên bề mặt nguyên liệu ủ.
Nấm và vi khuẩn hiếu khí chiếm ưu thế trong thức ăn xanh, nhưng khi môi
trường yếm khí được thiết lập chúng nhanh chóng bị thay thế bởi nhóm vi sinh vật
có khả năng sống trong điều kiện không có ôxi. Nhóm này bao gồm: vi khuẩn lên
men lactic, clostridia và enterobacteria.
+ Vi khuẩn lên men lactic:
Vi khuẩn lên men lactic là nhóm vi khuẩn yếm khí không bắt buộc (có khả
năng sinh trưởng trong điều kiện có hoặc không có ôxi), thông thường có sẵn
trên cây thức ăn với số lượng nhỏ, nhưng sẽ tăng rất nhanh sau khi thu cắt, đặc
biệt cây được băm chặt nhỏ hoặc làm dập nát. Nhóm vi khuẩn lên men lactic
được chia thành 2 nhóm nhỏ: homofermentative (Lactobacillus plantarum,
Pediococcus pentosaceus và Enterococcus faecalis) và heterofermentative


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status