ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
NINH THỊ ÁNH HỒNG
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC CON NGƢỜI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ tốt nghiệp "Tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục con người mới" là công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng
dẫn của TS. Trần Thị Hạnh. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận
văn tốt nghiệp đã được nêu rõ trong phần danh mục tài liệu tham khảo, được trích
dẫn rõ ràng, trung thực. Nếu có bất cứ sự gian dối tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm và mọi kỷ luật của Khoa và của Nhà trường đề ra. Tác giả luận văn
Ninh Thị Ánh Hồng
LỜI CẢM ƠN!
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, người
chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và cách mạng
Việt Nam. Hồ Chí Minh đã để lại một tài sản trong kho tàng lịch sử tư tưởng của
dân tộc ta:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại” [18;20].
Trong di sản tư tưởng phong phú vô giá của Hồ Chí Minh, tư tưởng về
giáo dục con người Việt Nam mới là sự tiếp nối và nâng cao những giá trị tinh
túy trong tư tưởng nhân văn của truyền thống Việt Nam và thế giới. Đây cũng là
sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng con người của chủ nghĩa
Mác – Lênin vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục con
người Việt Nam mới của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc nâng cao dân
trí, bồi dưỡng đào tạo cho cách mạng Việt Nam những con người đủ đức, đủ tài
đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những
thắng lợi to lớn, đưa địa vị nước ta từ nô lệ trở thành một nước độc lập và ngày
càng có vị thế trên trường quốc tế.
Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến đổi nhanh chóng và sâu sắc.
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo ra sự
biến đổi về lực lượng sản xuất, mở ra một thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người theo
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiến nghị phương hướng và giải pháp nhằm
3
phát huy nhân tố con người trong thời đại công nghiệp hóa,hiện đại hóa dưới ánh
sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
“Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục” do Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đăng Tiễn –
Bùi Đức Thiệp (biên soạn), nhà xuất bản Giáo dục 1990. Tập thể tác giả đã tuyển
chọn những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về công tác giáo dục là một nhiệm
vụ của tất cả những người làm công tác giáo dục và quan tâm đến giáo dục, nhất
là trong thời đại cách mạng đang yêu cầu phải đổi mới công tác giáo dục hiện
nay.
- Nhóm những công trình của các nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục con người mới.
“Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới”, Nxb Chính trị quốc gia,Hà
Nội của tập thể tác giả: Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Xuân Thông, Nguyễn Thị
Minh Hương, Phạm Thị Lai, Nguyễn Thanh Nga. Tập thể tác giả đã sưu tầm
tuyển chọn khái quát về nội dung và ý nghĩa cho việc xây dựng con người mới,
đánh giá con người, bồi dưỡng con người về trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, xây dựng
mục đích, chăm lo lối sống cho con người
“Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát
triển toàn diện”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Trong đó tác giả đã chỉ ra mối
quan hệ giữa văn hóa và xây dựng con người mới ở Việt Nam. Đồng thời chỉ rõ
quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất con người Việt Nam phát triển toàn diện
trong bối cảnh hiện nay.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội. Cuốn sách đã được tác giả khái quát lên nội dung quan trọng có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc về quá trình lao động sản xuất, giáo dục, đào
tạo toàn diện – con đường cơ bản hình thành và phát triển con người toàn diện.
luận. Các tác giải đã khái quát nội dung có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí
Minh về vấn đề con người như giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, đạo đức cách mạng.
“Một số phẩm chất cơ bản cần có và định hướng phát huy nhân tố con
người theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lê Thị Hương trên tạp chí lý luận và
truyền thông. Bài viết chỉ ra một số phẩm chất của con người trong quan điểm Hồ
5
Chí Minh: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tinh thần lao động quên mình,
vì lối sống lành mạnh văn minh và chỉ ra một số định hướng cơ bản về phát huy
tiềm năng và sáng tạo con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những công trình trên đã nêu và khái quát được những nét lớn chủ yếu
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về giáo dục con người, đào tạo con
người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên còn rất ít công trình trực tiếp nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người Việt Nam mới tiếp cận dưới góc độ
của khoa học triết học. Song những tư liệu trên là tài liệu quý giá để tác giả tham
khảo trong quá trình viết luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích:
Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người Việt Nam
mới, từ đó vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người mới trong việc
giáo dục con người Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ:
- Luận giải những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người,
giáo dục con người mới
- Phân tích quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, mục đích,
nội dung giáo dục con người mới
- Bước đầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người mới
trong giáo dục con người Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
GIÁO DỤC CON NGƢỜI VIỆT NAM MỚI
1.1. Điều kiện khách quan, tiền đề tƣ tƣởng cho việc hình thành tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về giáo dục con ngƣời mới
1.1.1 Điều kiện khách quan
* Tình hình quốc tế.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản Phương Tây chuyển
nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa), nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đã đặt ra yêu cầu bức thiết về
thị trường. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc chiến tranh xâm lược các
quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất
khẩu tư bản của các nước đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung
của các dân tộc thuộc địa. Có một thực tế lịch sử, trong quá trình xâm lược và
thống trị của chủ nghĩa thực dân tại các nước ở Châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ
Latinh, sự bóc lột theo phương thức phong kiến trước kia vẫn được duy trì và bao
trùm lên nó là sự bóc lột theo phương thức tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai
cấp trước kia, ở nhiều nước thuộc địa phương Đông đã xuất hiện thêm các giai
cấp, tầng lớp xã hội mới, trong đó có giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. các
nước đế quốc xâm lược thuộc địa càng tăng đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc
đỏ" của phong trào cách mạng, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
"Trường Đại học Phương Đông gồm có 1025 sinh viên, trong đó có 151 nữ
sinh. Trong số sinh viên ấy có 865 đảng viên cộng sản thành phần xã hội của học
sinh như sau: 547 nông dân, 265 công nhân, 210 trí thức vô sản. Nếu người ta
chú ý rằng các nước phương Đông đều là những nước hầu như hoàn toàn nông
nghiệp thì sẽ hiểu tại sao số sinh viên nông dân chiếm tỉ lệ cao hơn". [35; 250].
9
Trường đã làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nước thuộc địa
tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp
tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công
nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.
Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã mở đường cho việc xây dựng
nền văn hóa mới trên cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và kế thừa những
tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là văn hóa Xô Viết.
Thành tựu của công cuộc xây dựng nền văn hóa Xô Viết được thể hiện
trong việc xóa bỏ tình trạng mù chữ và nạn thất học, phát triển hệ thống giáo dục
quốc dân, đấu tranh chống các tư tưởng của chế độ cũ, phát triển văn học nghệ
thuật.
Trước cách mạng ba phần tư dân số Nga mù chữ; trong ngôn ngữ của các
dân tộc không có từ "học tập". Chỉ trong vòng 20 năm (1921 - 1940), khoảng 60
triệu người đã thoát nạn mù chữ. Đến cuối những năm 30 nạn mù chữ về căn bản
được thanh toán, chế độ giáo dục phổ cập được thực hiện. Trong vòng chưa đầy
30 năm nước Nga "đi giày cỏ" năm kia đã trở thành một đất nước, trong đó đa số
người dân có trình độ văn hóa cao, có một đội ngũ tri thức đông đảo, phục vụ đắc
lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời. đã mở ra một thời đại
mới, mọi sự kiện lớn của thế giới – nhiều hay ít – đều có dấu ấn và chịu ảnh
hưởng của Liên Xô. Cục diện thế giới có sự thay đổi lớn về chính trị và kinh tế.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ra đời,
những ác nghiệt của cuộc sống để mà tồn tại, để mà khỏi chết đói thì làm sao
có thể nghĩ đến chuyện học hành. Đồng thời với việc gây tư tưởng sợ Pháp,
phục Pháp cùng với văn hóa phẩm đồi bại, thực dân Pháp còn duy trì ý thức hệ
đã lỗi thời, đưa nhân dân Việt Nam vào con đường mê tín dị đoan, u mê, lãng
quên đấu tranh giải phóng dân tộc.
11
Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức xây dựng một nền giáo dục mới,
thủ tiêu vai trò của nền giáo dục cũ. Hệ thống các trường tiểu học Pháp - Việt
được mở rộng nhằm thay thế trường cũ. Các khoa thi Hương, Hội, Đình bị bãi bỏ
với mục đích chấm dứt vai trò của các trí thức phong kiến đối với chính trị, xã
hội.
Với nền giáo dục thuộc địa, thực dân Pháp muốn người đi học chỉ biết
sùng bái kẻ mạnh hơn mình, yêu Tổ quốc nhưng không phải yêu quê hương
đất nước mình mà lại đi yêu cái quốc gia đang đè nén, áp bức và bóc lột mình.
Pháp thực hiện chính sách "ngu dân" về giáo dục và đầu độc về văn hoá
nhằm hỗ trợ đắc lực cho công cuộc khai thác ở Việt Nam. Ban đầu, thực dân
Pháp thực hiện chính sách giáo dục chỉ nhằm mục đích đào tạo đội ngũ thông
dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa, đồng
thời từng bước truyền bá chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, hạn chế ảnh hưởng của
chữ Hán.
Các trường học được tổ chức với ba bậc: bậc ấu học ở xã, bậc tiểu học
ở phủ, huyện và bậc trung học ở tỉnh. Bọn chúng đã thi hành một nền giáo dục
què quặt, nhỏ giọt. Giáo dục không phải là để cho nhân dân Việt Nam phát triển
trí tuệ, đào tạo nhân tài mà họ "chỉ xây dựng trường học để đào tạo ra những con
vẹt, những người vong bản thiếu đạo đức và thiếu cả kiến thức phổ thông".
[43;26].
Vì thế mà cho đến năm 1913, cả Bắc, Trung, Nam cũng chỉ có 10 vạn
học sinh trong tổng số 20 triệu dân. Tất cả các vùng miền núi đều không có
trường học. Đất nước ta như sống trong đêm tối của tri thức và văn hóa.
xâm.
Tư tưởng về giáo dục con người cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 được thể
hiện khá rõ trong những tư tưởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng - những trí thức nho học duy tân.
Theo Phan Bội Châu để thực hiện "Duy tân", trước hết phải duy tân con
người. Những sáng tác thơ văn của Phan Bội Châu đều phản ánh nỗi đau, nỗi
nhục mất nước của dân tộc Việt Nam, mà nguyên nhân được Phan Bội Châu chỉ
ra đó là con người. Theo Phan Bội Châu: biến cố do con người gây nên, vận trời
13
theo liền đó. Quan niệm của Phan Bội Châu khác hẳn với quan niệm "Thiên
mệnh" của những nhà nho cũ. Phan Bội Châu cho rằng: Người trong một nước
đều là chủ tể của một nước để cạnh tranh với nước khác, do vậy nhân dân là
quan trọng nhất, nhân dân còn thì nước còn, nhân dân mất thì nước mất. Theo đó
Phan Bội Châu yêu cầu mỗi người phải tự thức tỉnh để nhận thức được thực trạng
vong quốc của đất nước.
Từ yêu cầu tự thức tỉnh, Phan Bội Châu chủ trương giáo dục con người
nhằm giải phóng con người tiến đến giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu luôn đề
cao tinh thần giáo dục về đức dục, trí dục và thể dục. Phan Bội Châu còn phê
phán nền giáo dục phong kiến chỉ biết tạo ra những hủ nho, nhút nhát, ý tưởng
hẹp hòi, chỉ chú trọng đến khoa cử, văn tự. Đồng thời Phan Bội Châu cũng cảnh
báo và phê phán kiểu giáo dục theo thực dân Pháp lúc bấy giờ chỉ nhằm tạo ra
một lớp người làm tay sai cho giặc. Phan Bội Châu cho rằng nền giáo dục mới
không chỉ nhằm vào một tầng lớp người mà phải là toàn thể nhân dân vì: trong
cuộc đấu tranh bằng trí lực giữa các nước cái quyết định không phải bằng trí
khôn của một người mà phải là trí khôn của tất cả mọi người. Phan Bội Châu đã
đề ra: Khai dân trí, chấn dân khí, thực nhân tài.
Với Phan Bội Châu "giáo dục là sinh mệnh của quốc dân". Quốc dân suy
đồi là do bụng đói và óc đói. Ở đây, chúng ta thấy có một sự đồng cảm giữa quan
niệm của Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu".
Trong đó Phan Châu Trinh xếp khai dân trí - tức là giáo dục - vào vị trí thứ
nhất.
Ngoài ra tư tưởng giáo dục con người còn thể hiện trong tư tưởng của
Huỳnh Thúc Kháng. Huỳnh Thúc Kháng chỉ rõ giáo dục phải phục vụ yêu cầu
của xã hội, Huỳnh Thúc Kháng viết:
“Giáo dục phải trọng mặt lợi. Trong nước người nào cũng phải biết một
nghề, kỹ nghệ là nghề, khảo cứu là nghề, trước thuật cũng là nghề. Muốn công
15
nghệ được thịnh thầy giáo phải biết trọng khiếu riêng của thiếu niên”. [69;268].
Huỳnh Thúc Kháng còn bình luận:
“Ra ở đời, nhiều điều có học mà vô dụng, nhiều điều xã hội cần thời lại
không biết. Như thế là vì hoàn cảnh của học đường là một hoàn cảnh đặc biệ, chỉ
có không khí viển vông mà không có không khí thiết thực, vì thế phải dạy thực
hành trước rồi dạy lý luận sau và phải dùng phép thực nghiệm để dạy hơn là
dùng sách” [69;268].
Đây là phương châm học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội
mà nền giáo dục của ta hướng tới. Huỳnh Thúc Kháng cũng dịch giới thiệu và
bình luận về giáo dục bậc tiểu học và việc đào tạo giáo viên tiểu học qua kinh
nghiệm nhiều nước với những nhận xét rất mới: “Trước kia tiểu học chỉ truyền
cho quốc dân có cái trí năng làm nền vốn thông thường mục đích là tạo thành
cho dân chúng cái tánh cách thuần phục và dễ sai khiến. Hiện nay thì tiểu học
giáo dục nhiệm vụ quan yếu là đào luyện thân thể, trí năng và đạo đức cho đoan
chính cao hơn trước nhiều". Huỳnh Thúc Kháng chỉ rõ nội dung sư phạm giáo
dục do ba điều cần tổng hợp lại là: “trí thức, kỹ năng, nhân cách. Ba cái ấy cho
quân bình nhau không thiên lệch” [69;582].
Tuy nhiên những chủ thuyết của các ông đưa ra đã bộc lộ hạn chế, chưa
thực sự thoát hẳn ý thức hệ phong kiến, chỉ dừng lại ở việc tiếp thu các ý tưởng
mới của các nhà khai sáng Pháp và các nhà duy tân cải cách của Nhật Bản, Trung
Quốc. Các nhà duy tân trong thời kỳ này chủ yếu vận động mở trường dạy học,
đầu tiên, mở rộng cửa học đường để thu nhận tất cả các đối tượng, tầng lớp có
nhu cầu học tập. Khổng Tử chủ trương: "Hữu giáo vô loại" có nghĩa việc giáo
dục không phân biệt đẳng cấp. Ngoài ra Khổng Tử chủ trương giáo dục phải từng
bước, giáo dục phải tùy theo đối tượng để định hướng nội dung và cách thức.
Về phương pháp giáo dục: Khổng Tử coi trọng việc tự học, tự tìm tòi, suy
nghĩ, đào sâu của người học. Khổng Tử nói:
17
"Không tức giận vì muốn biết, thì không gợi mở cho, không bực vì không
rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không
suy ra ba góc kia thì không dạy nữa" [59;20].
Bên cạnh đó, Khổng Tử cũng chú trọng đến việc học đi đôi với hành,
người học phải: Nghe - Nghĩ - Làm. Khổng Tử cho rằng, học mà thực hành theo
điều mình học há chẳng vui sao. Học điều xưa để áp dụng cho thời nay, đó là
người khéo vận dụng tri thức. Như vậy có thể nói phương châm chính của Khổng
Tử là “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Học và dạy đều cần có phương
pháp và ai cũng đều phải học mới có thể cải thiện được chính bản thân và kiến
tạo xã hội thái bình.
Ngoài việc ảnh hưởng tư tưởng giáo dục con người của Khổng Tử, quan
điểm của Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, cũng có những ảnh hưởng nhất định đối
với Hồ Chí Minh. Như về phương pháp của Mặc Tử chú trọng sự kết hợp giữa
học và hành, quan niệm đó vẫn luôn có giá trị với mọi thời đại. Còn Mạnh Tử lại
nhấn mạnh có cách dạy người, chú trọng đến cái tài, cái đức và phương pháp tự
trau dồi:
"Có cách như trời mưa xuống mà hóa đi, có cách làm cho thành cái đức,
có cách làm cho đạt được cái tài, có cách trả lời cho câu hỏi, có cách học riêng
mà tự trau dồi" [59;26].
Mặt khác Mạnh Tử còn chủ trương hướng dẫn cho học trò, nhưng bắt học
trò phải tự cố gắng học lấy.
Trong khi đó Tuân Tử thì nhấn mạnh việc học tập phải kiên trì lâu ngày sẽ
bản trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người.
* Tư tưởng về giáo dục con người và giáo dục con người trong triết học
phương Tây
19
Giáo dục của Phương Tây chú trọng đến đào tạo ra hình mẫu con người mà
xã hội cần đến, quan tâm đến "giáo dục lý tưởng" cho một lớp người kế tục việc
quản lý xã hội mà chế độ đó đang hướng tới. Thực tế trong giáo dục đào tạo con
người luôn chi phối các triết lý và thực thi của các nền giáo dục Phương Tây và
được biểu hiện qua những thời kỳ khác nhau.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản đã phát
triển đến đỉnh cao, thì các nền giáo dục phương Tây lại một lần nữa đề ra những
yêu cầu mới cho giáo dục. Nền giáo dục mới, nhà trường mới là những thuật ngữ
được nêu ra trong thời gian này. Người ta đã giành cho giáo dục những gì tốt nhất
với những nội dung hết sức thực tế là chuẩn bị cho con người vốn tri thức và kỹ
năng nhằm đem lại năng suất lao động và cái lợi cao nhất cho nhà tư bản.
Jean-Jacques Rousseau cho rằng giáo dục là tự học, ông chỉ ra rằng: Chắc
chắn là người ta rút ra được những khái niệm rõ ràng hơn nhiều và vững vàng
hơn nhiều từ những sự vật mà ta tự học hiểu lấy như vậy, hơn là từ những sự vật
được người khác giáo huấn.
Trong suốt hành trình sang phương Tây tìm đường cứu nước giải phóng
dân tộc, Hồ Chí Minh đã nhiều năm tiếp thu văn hóa Âu Mỹ. Có thể nói rằng nền
văn hóa Âu Mỹ đã có ảnh hường lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã
được trực tiếp trải nghiệm cuộc sống của người lao động ở các nước phương Tây.
Hồ Chí Minh đã tận mắt chứng kiến những thành tựu của văn minh phương Tây
về chính trị, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật cụ thể là phong cách làm việc dân
chủ của nền giáo dục phương Tây. Hồ Chí Minh đã tiếp thu học hỏi được nhiều
điều từ nền văn minh đó. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã tìm ra được những mâu
thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục Với sự kế thừa các giá trị nhân văn, nhân đạo của văn hóa
máy, nhất là nhà máy điện, nông trường, bảo tàng kỹ thuật Tư tưởng này thực
hiện trong thực tế, xuất phát từ nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất
do C.Mác và Ph.Ăngghen tổng kết thời kỳ đầu cách mạng công nghiệp.