tư tưởng hồ chí minh về giáo dục - Pdf 13

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục
Viết bởi Lê Gia Thanh
Chủ nhật, 22 Tháng 8 2010 07:36
Điều 3, Luật giáo dục, năm 2005 của nước ta đã khẳng định: “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo
dục Xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác Lê Nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”.
Tư tưởng phát triển toàn diện con người của Mác và Ăngghen trong “Tuyên Ngôn của Đảng
Cộng Sản” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo công cuộc giáo dục ngày nay.
Một tư tưởng vĩ đại mà Mác và Ăngghen đã tuyên bố trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản” đó là:
“sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [19].
Tư tưởng coi con người là trung tâm của cuộc sống gắn liền với tiến trình phát triển văn hoá của
loài người và ngày nay, phát triển toàn diện con người đã trở thành một tư tưởng chỉ đạo của thời
đại.
“Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản ” còn nhấn mạnh làm cho con người được phát triển tự do đó là
phát triển trí tuệ và thể lực, đạo đức và tay nghề, tính độc lập cá nhân, cá tính và tính cộng đồng,
trách nhiệm và quyền hạn, lợi ích và đóng góp, dân chủ và kỷ cương là những điều kiện cho sự
phát triển tự do của tất cả mọi người.
Tại diễn đàn Đại hội giáo dục toàn Nga lần thứ nhất, ngày 28-8-1918 [20] LêNin đã khẳng định
vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là một điều kiện đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm coi giáo dục như là bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, trong văn kiện “Những nhiệm
vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” (26-4-1918) Lênin đã coi giáo dục như giao thông, bưu
điện, Lênin đã khẳng định vai trò kết cấu hạ tầng của giáo dục trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Một tư tưởng hết sức có ý nghĩa đối với thời kỳ công nghiệp hoá là tư tưởng về giáo dục kỹ thuật
tổng hợp. Từ đó tất cả các trường phổ thông đều mang các tính chất: giáo dục phổ thông, giáo dục
lao động, giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Khẩu hiệu nổi tiếng của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” đã trở thành triết lý sống của hàng triệu,
hàng triệu con người trong các thế hệ. Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã đưa giáo dục
suốt đời thành một nguyên lý của nền giáo dục mở đầu thiên niên kỷ mới.
Những quan điểm giáo dục của Mác-Lênin đã rất gần gũi với thực tiễn giáo dục của đất nước ta.

sự đặc sắc trong quan điểm của Người về vấn đề nhân cách, việc học tập để rèn luyện phát triển
nhân cách đối với mỗi người.
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thiện ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục
mà nên”. Người muốn nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục trong việc hình thành phẩm chất nhân
cách con người, “thiện”, “ác” không phải là bản chất sẵn có của con người mà chủ yếu là do quá
trình giáo dục hình thành nên.
Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc đổi bảo vệ và xây dựng đất
nước. Người kêu gọi: “Quốc dân Việt Nam! muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh
nước giàu, mọi người Việt Nam…phải có kiến thức mới, để có thể tham gia vào công cuộc xây
dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.
Hồ Chí Minh còn quan tâm chỉ đạo cho giáo dục tích cực phục vụ hoạt động kinh tế, làm cho hai
lĩnh vực này liên hệ chặt chẽ với nhau. Người đánh giá tác dụng tích cực của giáo dục trong quá
trình phát triển kinh tế: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế”.
Về mục đích giáo dục:
Mục đích cao cả trong suốt cuộc đời phấn đấu của Hồ Chí Minh đó là mong cho dân tộc, nhân
dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Ngày nay nước ta đã được độc lập, dân ta đã được tự do, thanh niên đã là người làm chủ đất
nước, vì vậy mục đích của nền giáo dục là đào tạo ra những con người biết làm chủ nước nhà,
phải lấy nhiệm vụ học tập làm chủ yếu.
Người đã chỉ rõ mục đích của việc học đó là: học để yêu Tổ quốc, học để yêu nhân dân, học để
yêu lao động, học để yêu đạo đức, học để phụng sự Tổ quốc, học để phụng sự nhân dân.
Mục đích giáo dục lớn nhất trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là
xây dựng con người mới, đào tạo ra những con người biết làm chủ nước nhà.
Nhiệm vụ giáo dục:
Người đã đặt ra nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học, cấp Đại học, cấp Trung học, cấp tiểu học. Ở
cấp trung học, Người nói rằng cần phải đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn,
thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần
thiết cho đời sống thực tiễn.
Về nội dung giáo dục:
Để xây dựng xã hội chủ nghĩa theo Người: “trước hết cần phải có con người xã hội chủ nghĩa”.

tự do tư tưởng", nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục. Các phương pháp này vừa
mang tính truyền thống, lại vừa hiện đại, vừa hệ thống, khoa học, lại vừa cụ thể, thiết thực, luôn
gắn với đời sống và thời đại.
Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình với việc
chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa - một nền
giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành,
không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về
phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo con người luôn
soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác
định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt
Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực
tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói
riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ rộng
rãi trong Đảng với việc phát huy dân chủ trong Đảng hiện nay.
Tác giả : Th.s Dương Thanh Bình - Gv Khoa Xây dựng Đảng
File đính kèm: Không có
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân chủ là chìa khoá vạn năng để
giải quyết mọi công việc khó khăn của cách mạng. Trong Đảng không có dân chủ
thì đời sống của Đảng sẽ trở nên “âm u” (1). Trước khi đi xa trong di chúc Người
căn dặn: “trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết
và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Người nhấn
mạnh thực hành dân chủ chứ người không nói là dân chủ.Phải chăng, Người thấy
việc nói về dân chủ trong Đảng nhiều nhưng thực hành dân chủ rộng rãi thì còn có
những hạn chế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ để làm cho Đảng mạnh, thì
phải mở rộng dân chủ”(2), trong Đảng “ phải thật sự mở rộng dân chủ để bày tỏ hết
ý kiến của mình” (3).
Như vây, phát huy dân chủ trong Đảng là phát huy dân chủ nội bộ. Trong di sản tư
tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy nhiều lần Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề

cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì
nhưnmgx người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi
tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự
sửa chữa được nhiều. Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra”. (6)
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ trong nhân dân, Đại hội X của Đảng đã tổng
kết: “ Việc thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân dân, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc có tiến bộ” (7).
Tuy nhiên, Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra: “ Dân chủ trong Đảng và trong xã
hội còn bị vi pham. Kỷ cương, kỷ luật nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự
đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ còn yếu”(8). “ Công tác tổ chức trên một số
mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng.
Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong Đảng và trong hệ
thống chính trị, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và
cán bộ, đảng viên. Còn thiếu những quy chế cụ thể đảm bảo phát huy dân chủ, thực
hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số cấp uỷ đảng và cán bộ lãnh đạo
thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán
bộ một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình
thức”. (9).
Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ trong Đảng và thực tiễn
mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng và xã hội trong thời gian qua, để tiếp tục
thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng hiện nay cần thực hiện tốt những vấn đề
sau:
Thứ nhất, cần sớm xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ trong Đảng. Từ đó
mỗi đảng viên và tổ chức Đảng, mọi cấp uỷ và người đứng đầu đều thấy được
quyền hạn và trách nhiệm của mình về thực hiện dân chủ trong Đảng, đồng thời đó
cũng là căn cứ đê giám sát dân chủ trong Đảng.
Mặt khác, các tổ chức cơ sở Đảng cần xây dựng quy chế nội bộ. Trong quy chế,
cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa bí thư với các thành
viên của cấp ủy; giữa đảng ủy, chi ủy với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể

1. Quyền được thông tin.
2. Quyền được thảo luận và biểu quyết.
3. Quyền được ứng cử, đề cử và bầu cử .
4. Quyền được phê bình, chất vấn kiến nghị và yêu cầu trả lời.
5. Quyền được trình bày ý kiến về bản thân mình.
6. Quyền được bảo lưu ý kiến khi ý kiến của mình thuộc về thiểu số.
Tất nhiên, việc mở rộng và dân chủ phải đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật, đấu
tranh, xử lý những trường hợp lợi dụng dân chủ để có hành vi vu cáo hoặc gây rối
nội bộ.
Thứ tư, phát huy dân chủ trong công tác cán bộ.
Phát huy dân chủ, đặc biệt là dân chủ trong công tác cán bộ là một nội dung quan
trọng. Bởi vì cán bộ là gốc của công việc, mọi việc thành bại là do cán bộ tốt hay
kém. Thực tế cho thấy, trong Đảng có thực hành dân chủ và mở rộng, phát huy dân
chủ hay không, vai trò của cấp uỷ Đảng và người đứng đầu cấp uỷ là rất quan
trọng.Các cấp uỷ Đảng và người đứng đầu có nhận thức đúng, có thực hành dân
chủ trong nội bộ hay không thì nguyên tắc tập trung dân chủ và các quyền dân chủ
và quy chế làm việc mới thành hiện thực. Do đó cần phát huy dân chủ trong Đảng
để đảng viên có quyền lựa chọn được đội ngũ cán bộ của Đảng có phẩm chất chính
trị, có uy tín và năng lực lãnh đạo, thật sự tâm huyết với Đảng với dân. Đồng thời
cần đổi mới phương thức bầu cử, thực hiện rộng rãi việc bầu cử trực tiếp đối với
các chức danh trong Đảng
Thứ năm, xây dựng chế độ và nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra
của cấp ủy cấp trên và giám sát của quần chúng.
Kiểm tra là một nội dung và hình thức lãnh đạo. Công tác kiểm tra của cấp uỷ cấp
trên nhằm phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức. Nhờ có
kiểm tra thường xuyên mà phát hiện được việc chấp hành đúng hay không đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm chủ trương chính sách, điều lệ Đảng; phát
hiện kịp thời những vi phạm dân chủ để uốn nắn, khắc phục nhằm giữ vững kỷ
luật; kỷ cương của Đảng; giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo hoặc những thắc mắc
của cán bộ, đảng viên hoặc nhân dân. Đồng thời, cũng nhờ kiểm tra mà phát hiện

mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại.
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp hiện đại.
Đại hội cũng đã thông qua năm nhiệm vụ chủ yếu là:
1- Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế
theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều
rộng và chiều sâu. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
2- Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực;
phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc
làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm
an sinh xã hội. Bảo vệ môi trường.
3- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội,
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
4- Tiếp tục phát huy dân chủ nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp
quyền. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính
phủ, chính quyền địa phương; đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp;
thực hiện có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí.
5- Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao hiệu quả công tác cán bộ, kiểm
tra, giám sát. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đại hội cũng Quyết nghị, ngay trong nhiệm kỳ khoá XI, cần tập trung tạo chuyển
biến mạnh mẽ bảy nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng;
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục liên quan đến DN và dân;
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
- Tập trung xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hệ thống

- Bên cạnh, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình",
gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay
đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có những diễn biến phức tạp.
BCH Trung ương Đảng khoá XI và các cấp uỷ, tổ chức đảng xây dựng chương
trình hành động thực hiện Nghị quyết.
Các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011 - 2015: 7,0 - 7,5%/năm.
+ Giá trị gia tăng công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm tăng 7,8 - 8%;
+ Giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm 2,6 - 3%/năm.
+ Năm 2015, GDP bình quân đầu người khoảng 2.000 USD.
+ Cơ cấu GDP:
- Nông nghiệp 17 - 18%,
- Công nghiệp và xây dựng 41 - 42%,
- Dịch vụ 41 - 42%;
+ Sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng
GDP;
+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%.
+ Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 12%/năm, giảm nhập siêu, phấn đấu đến
năm 2020 cân bằng được xuất nhập khẩu.
+ Vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm đạt 40% GDP.
+ Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt 23 - 24% GDP;
+ Giảm mức bội chi ngân sách xuống 4,5% GDP vào năm 2015.
+ Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động.
+ Tỉ trọng lao động nông - lâm - thuỷ sản năm 2015 chiếm 40 - 41% lao động xã
hội.
+ Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8 - 2 lần so với năm 2010.
+ Tốc độ tăng dân số đến năm 2015 khoảng 1%.
+ Tuổi thọ trung bình năm 2015 đạt 74 tuổi.
+ Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm bình quân 2%/năm.

của mình, phải ra sức làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.
+ Với tuổi nhi đồng, Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nay các cháu là
nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế
giới.Các cháu đoàn kết thì thế giới hòa bìnhvà dân chủ, sẽ không có
chiến tranh.
Các cháu phải thi đua, tuỳ theo sức của các cháu làm được việc gì
có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy”
- Trách nhiệm bồi dưỡng thế hệ trẻ của Đảng.
Hồ Chí Minh khẳng định, thế hệ trẻ xứng đáng với tương lai thì thế
hệ đi trướng, những bậc cha anh phải có trách nhiệm bồi dưỡng thế hệ
trẻ. Đó cũng là trọng trách lớn lao của cách mạng, của Đảng. Bởi vậy
trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau:
- Truyền thống dân tộc:
+ Hồ Chí Minh khẳng định rằng: Dân tộc Việt Nam ta có truyền
thống hiếu học và tôn sư trọng đạo. Dân ta vì trọng đạo làm người mà
tôn sư và coi trọng giáo dục.Mục tiêu là học để làm người, để trở thành
tài.Phương châm giáo dục truyền thống là “Tiên học lễ, hậu học văn” và
“cần khổ học”.
+ Hồ Chí Minh hấp thụ truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
của dân tộc ngay từ cái nôi gia đình và quê hương.Xứ Nghệ tuy đời sống
vất vả nhưng rất hiếu học, thời nào cũng sản sinh người hiền tài.Hồ Chí
Minh ảnh hưởng sâu sắc tấm gương kiên trì học tập của người cha, tấm
gương nhà giáo mẫu mực của ông ngoại.
- Sự khổ công học, khổ công luyện ngay từ nhỏ theo truyền thống
dân tộc và gia đình và trong suốt cuộc đời của Người.
+ Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa, những tri thức của
giáo dục phương Đông từ nhỏ và không ngừng bồi đắp thêm cho mình.

cách êm thắm, bọn cá mập của nền văn minh không những đầu độc nhân
dân An Nam bằng rượu và thuốc phiện, mà còn thi hành một chính sách
ngu dân triệt để”.
+ Hồ Chí Minh tố cáo thực dân Pháp cấu kết với phong kiến hạn
chế giáo dục và thực hiện giáo dục nhồi sọ làm hư hỏng các thế hệ trẻ
Việt Nam. Người viết: Trong mấy mươi năm nô lệ, đế quốc và phong
kiến đã dùng giáo dục nô lệ để nhồi sọ thanh niên ta, làm cho thanh niên
ta hư hỏng.
- Hồ Chí Minh chủ trương, khi cách mạng thành công sẽ thực hiện
nền giáo dục cách mạng. Nhưng “trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh
hưởng của giáo dục thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã
hội, xa rồi đời sống lao động và đầu tranh của nhân dân; học để lấy bằng
cấp; học theo lối nhồi sọ”.
2. Hồ Chí Minh xác định vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo
trong việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ.
- Giáo dục là bước đầu tiên.
+ Sau hơn một tháng đọc Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh xác
định: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những
công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí”
1
, vì
“Nuớc nhà cần phải kiến thiết.Kiến thiết cần phải có nhân tài”
2
.
+ Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bây giờ xây dựng kinh tế. Không có
cán bộ không làm được.Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng
không nói gì đến kinh tế văn hóa.Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là
bước đầu.”
3
.

nước .
Về nhà trường, Người nói: “Trường học của chúng ta là trường học
của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân
và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà. Về mọi mặt,
trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong
kiến.”
1
- Giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi.
+ Với các cháu thiếu nhi, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách dạy trẻ, cần
làm cho chúng biết: Yêu tổ quốc, thương đồng bào, chuộng lao động,
giữ kỷ luật, biết vệ sinh, học văn hoá”
2
. Đó chính là con đường “làm cho
con em chúng ta thành những trò giỏi, con ngoan, bạn tốt và mai sau là
những công dân dũng cảm, cán bộ gương mẫu, người chủ xứng đáng của
chế độ xã hội chủ nghĩa”.
+ Với thanh niên phải giáo dục họ “luôn luôn nâng cao tinh thần
yêu tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối
với công nông, tuyệt đối trung thành với sự ngiệp cách mạng, triệt để tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà
Đảng và nhân dân giao cho”
3
.
+ Thường xuyên giáo dục cán bộ trẻ, tiếp tục chăm sóc bồi dưỡng
giáo dục họ để “làm việc, làm người,làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn
thể, “giai cấp và nhân dan, Tổ quốc và nhân loại”.Muốn đạt mục đích,
thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”
1
.
4. Bồi dưỡng, giáo dục thế hệ cách mạng cho đời sau một cách

tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước
nhà.
+ Trung học thì cần bảo đảm cho học trò những tri thức phổ thông
chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước
nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.
+ Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc,
yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy
phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người
lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu.
5. Phương châm giáo dục thế hệ trẻ của Hồ Chí Minh.
- Học đi đội với hành, giáo dục gắn liền với xã hội.
+ Tháng 9/1945, trong Thư gửi các học sinh, Hồ Chí Minh viết:
“Đối riêng với các em lớn, …Phải sẵn sàng mà chống quân giặc cướp
nước, đấy là bổn phận của mỗi công dân. Các em lớn chưa hẳn đã đến
tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên, ngoài
giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho
quen với đời sống chiến sỹ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong
cuộc phòng thủ đất nước”
2
.
Với các em nhỏ, Người khuyên cứ “Từ 5 đến 10 cháu tổ chức
thành một đội, giúp nhau học hành.Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả
đội đem nhau đi giúp đồng bào”
3
.
+ Trong kháng chiến, Hồ Chí Minh chủ trương: “Chúng ta cần phải
có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc. Vì vậy, chúng ta:
1. Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho hợp với sự
nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
2. Muốn như thế, chúng ta phải có sách kháng chiến và kiến quốc

đầu”.Đồng thời thầy và trò cần giúp đỡ những anh chị em phục vụ cho
nhà trường.Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua sao cho cơm lành
canh ngọt để cho học sinh ăn no, học tốt.
+ “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huyđầy
đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật
chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa
cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi
nhiệm vụ đó”
1
.
6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục.
- Giáo dục phải xuất phát và bám chắc mục tiêu giáo dục.
Người dạy: “Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết: Yêu Tổ quốc,
thương đồng bào, chuộng lao động, giữ kỷ luật, biết vệ sinh, học văn
hóa”
1
; “Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài
kháng chiến và kiến quốc”
2
.
- Giáo dục là một khoa học.
Người nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học” do vậy, cách dạy
trẻ “phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ
trung của chúng (chớ nên làm cho chúng hóa ra những “người già sớm”.
Nhiều thư các cháu gửi cho Bác Hồ, viết như người lớn viết; đó là một
triệu chứng già sớm nên tránh)”
3
; ở bậc tiểu học, “cách dạy phải nhẹ
nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải
đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu”

động
Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ nhìn thấy những mặt mong muốn đạt được như đã nêu ra, không
phải trường nào cũng có thể làm được, lĩnh vực nào cũng có thể làm được mà phải xem xét và
lường trước những mặt trái của nó.
3. Những mặt trái khi trao quyền tự chủ hoàn toàn cho tất cả các trường đại học, cao đẳng
a/ Nếu như sự chuyển giao ồ ạt xảy ra với các trường thì: Một số trường chưa đủ khả năng,
năng lực, chủ động dễ gặp lúng túng khi tiếp nhận tự chủ, dẫn đến sai lầm. Trao quyền tự chủ
cho cơ sở có đủ năng lực, đủ điều kiện sẽ đem lại hạnh phúc ấm no cho mỗi gia đình và xã hội.
Trái lại, quyền tự trao cho những cơ sở chưa đủ điều kiện, cán bộ quản lý không đủ năng lực,
tâm không sáng, khó lường trước được hậu quả. Do vậy, Bộ cần nghiên cứu sao cho phù hợp với
hoàn cảnh từng địa phương, khả năng và vị thế người lãnh đạo của trường, tránh chuyển giao ồ
ạt, đốt cháy giai đoạn, hy vọng "toàn thắng ắt về ta".
Sẽ có trường biết rõ mình không đủ năng lực nhưng vẫn tiếp nhận cho "bằng chị bằng em" và
làm ẩu, bởi trách nhiệm thuộc về lý do "chưa có kinh nghiệm, không biết, không có tội"; hoặc vì
"bệnh thành tích" hay lý do nào đó không dám từ chối; cũng có thể nhận những quyền mang tính
"lợi nhuận" cao, từ chối cái khó khăn. Tất nhiên, có trường không đủ khả năng họ từ chối và chỉ
nhận những quyền phù hợp với khả năng, năng lực.
b/ Chuyển giao không phù hợp hoàn cảnh, thiếu cân đối, khoa học.
Có trường nhận quá nhiều, quá sâu rộng tận dụng không hết, ngược lại có trường bị giới hạn một
số mặt sẽ rất khó triển khai, hoặc tỉ lệ phân chia quyền tự chủ thiếu cân đối, khó thực hiện.
Chẳng hạn, khi cho tự chủ, có trường làm theo tiến trình về học thuật/chương trình/giáo viên/tài
chính/tuyển sinh, họ cần căn cứ chương trình như thế nào, mời những ai, lương bổng ra sao, cần
bao nhiêu tài chính Như thế, trường phải được giao đầy đủ các quyền, thiếu một mặt không
thể tiến hành. Ngược lại, có trường muốn tự chủ về tuyển sinh, tài chính để căn cứ vào đó làm
kinh phí hoạt động thì yêu cầu tự chủ không cần rộng như trường trên.
Như vậy, Bộ nên căn cứ vào khả năng của từng trường giao quyền tự chủ. Các trường không thể
thiếu việc trình kế hoạch tự chủ của mình để Bộ có thông tin chuẩn xác, khoa học hơn trong việc
giao quyền.
c/ Chuyển giao tự chủ cho công lập cần tính đến khả năng cạnh tranh của hệ thống các
trường ngoài công lập, các trường trung cấp, trường nghề.

nay không thiếu "Tây ba lô" làm giảng viên cho các Trung tâm Anh văn Quốc tế). Hoặc, họ có
thể thuê một số giáo viên nổi tiếng làm "bình phong" ở một số ngành, khoa và "độn" giảng viên
không đủ năng lực (trả phí thấp) nhằm đạt lợi nhuận cao nhất, người học và xã hội nhận lãnh hậu
quả.
Cấu kết với tập đoàn, tổ chức quốc tế để rửa tiền thông qua hoạt động đầu tư, tài trợ, từ thiện, mở
trường, mở ngành học. Nếu không kiểm soát, vô tình chúng ta hợp thức hoá "tiền bẩn" tiếp tay
cho hoạt động tội phạm nước ngoài - tiềm ẩn cho sự thao túng ngành giáo dục nước nhà về lâu
dài.
Thông qua hình thức trao đổi sinh viên, đưa người trái phép ra nước ngoài; liên kết với các
trường, tổ chức quốc tế không uy tín, hoặc đào tạo vượt chỉ tiêu nước ngoài cho phép, người học
sau bao năm theo đuổi chỉ có mỗi tờ "chứng nhận".
e/ Quốc tế hoá giảng viên, không tạo điều kiện cho giảng viên trong nước phát huy năng lực
Sính ngoại - tâm lý chung của phần lớn người Việt. Khi được tự do hợp tác quốc tế, một số
trường tài chính mạnh sẽ quốc tế hoá 100% đội ngũ giảng viên. Nếu điều này xảy ra sẽ thui chột
nhân tài trong nước, không tạo điều kiện cho giảng viên hơn kém, ngang tầm, thậm chí trình độ
cao hơn giảng viên quốc tế phát huy năng lực.
Để đánh bóng thương hiệu của mình, trường này tranh đua với trường khác mời giảng viên
ngoại, vừa tốn kém, vừa không tận dụng tài năng đất Việt tạo ra cơn "sốt" chất xám ảo. Bộ nên
quy định tỷ lệ giảng viên là người ngoại quốc sao cho hợp lý, khoa học trên cở sở phát huy nội
lực kết hợp ngoại lực. Đặc biệt, những ngành quan trọng, then chốt, mũi nhọn, ngành có tính
chiến lược của nước nhà nên có giải pháp sao cho giảng viên trong nước đủ khả năng làm chủ,
tránh phụ thuộc bên ngoài, nếu không một ngày không xa thiên hạ nắm công nghệ đào tạo, chúng
ta phải trả giá cho "thành tích" sính ngoại.
g/ Lợi dụng quyền tự chủ, khe hở pháp luật để làm chệch mục tiêu.
Quyền tự chủ và sự giới hạn của quyền tự chủ rất mong manh giữa đúng và sai. Điều này, có thể
người xấu lợi dụng khe hở pháp luật làm chệch mục tiêu giáo dục. Đơn cử như: Sinh viên lợi
dụng tự chủ, kích động, biểu tình, làm ẩu vì những lý do không chính đáng; giảng viên kích động
sinh viên đấu tranh vì "dân chủ", bài giảng viên ngoại hay lợi dụng đánh giá giảng viên thông
qua sinh viên để thực hiện ý đồ cá nhân, loại trừ người mình không ưa
h/ Hình thành tập đoàn "gia đình trị", độc tài, độc đoán lôi bè kết cánh trù dập người tốt

Cần lưu ý khi thực hiện tự chủ trong quản lý, nhiều trường hợp giảng viên có thương hiệu, uy tín,
nảy sinh bệnh "ngôi sao", "sao" này liên kết với "sao" khác đòi hỏi chế độ thù lao quá cao khiến
trường có nhu cầu không đủ khả năng mời giảng dạy.
- Tuyển cán bộ, giảng viên, công nhân viên:
Khi được toàn quyền quyết định nhân sự, các trường dễ nảy sinh việc hợp đồng cán bộ giảng
viên không đủ năng lực, dựa vào quen biết và trả lương, đãi ngộ cao, giảng viên không đủ năng
lực nhưng "dễ bảo"; chỉ tuyển một số người có uy tín để "đối phó" với Bộ phục vụ cho ngành
"hot", số còn lại sử dụng giảng viên không đủ năng lực, trả phí thấp nhằm đạt lợi nhuận cao nhất;
Tuyển và đào thải giảng viên liên tục nhưng không sử dụng nhằm đánh bóng thương hiệu gây
nhầm lẫn cho người học, doanh nghiệp, xã hội.
Các trường đại học và cao đẳng ở tỉnh lẻ có thể mất cán bộ, giảng viên giỏi vì mức lương, chế độ
ưu đãi hấp dẫn của các "đại gia" thành phố dẫn đến thiếu hụt lao động trình độ cao, không đảm
bảo cho việc đào tạo. Bộ nên lưu ý hỗ trợ giúp các trường tỉnh lẻ giữ chân người tài khi giao
quyền tự chủ.
Hiện tượng nhờ người đứng tên để mở trường, phân nhánh, ngành, khoa, cấp bậc đào tạo có thể
xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng đến chất luợng đào tạo, quản lý. Chẳng hạn: cho phép trường
không đủ năng lực mở mã ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, họ sẽ hợp thức hoá đội ngũ cán bộ,
giảng viên, chức vụ lãnh đạo. Dẫn đến hậu quả là một chính sách tốt đẹp, nhưng trở thành miếng
mồi béo bở cho những hoạt động phi giáo dục.
- Chương trình: duy trì chương trình lạc hậu, chắp vá, trang thiết bị không đảm bảo cho việc dạy
học, sản phẩm tạo ra không đáp ứng được nhu cầu xã hội.
- Liên kết quốc tế: thông qua trao đổi giảng viên, đưa người ra nước ngoài bằng hình thức tài trợ
để tranh thủ tuyên truyền cho sinh viên có tư tưởng hướng ngoại.
4. Kết luận
Như đang có một cuộc duy tân mới được khởi xướng, hơn kém 100 năm trước, Phan Châu Trinh
- một trong những bộ óc sáng suốt nhất của Việt Nam đầu thế kỉ 20 - đã thống thiết chủ trương
và bắt tay thực hiện cải cách giáo dục. Nhưng rồi uẩn khúc bi tráng của lịch sử đã khiến ông gãy
gánh giữa đường. Ngày nay, chúng ta có hàng nghìn lần thuận lợi hơn để tiếp tục sự nghiệp dang
dở của ông, sẽ thật hổ thẹn nếu chúng ta để cho công cuộc này dở dang thêm một lần nữa đẩy
nền giáo dục của dân tộc tụt hậu ngày càng xa.

đức cách mạng không phải là cái có sẵn, không phải từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của sự
đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày của mỗi người. Do vậy, Bác cho rằng đối với thế hệ trẻ,
trước hết là đoàn viên, thanh niên phải luôn nỗ lực, rèn luyện đạo đức cách mạng: thực hiện cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; sống trong sạch, có chí tiến thủ và đoàn kết, không kiêu ngạo;
tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; phê phán những thói hư, tật xấu; thường xuyên tiến
hành phê bình và tự phê bình để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Khẳng định vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách
mạng cho đoàn viên, thanh niên, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) của Đảng đã chỉ rõ: “Sự
nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng
trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội
chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện
thế hệ thanh niên”. Đại hội X của Đảng cũng xác định: “Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo
dục chính trị, truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống; tạo môi trường thuận lợi để phát triển
toàn diện”. Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo
đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Điều đó thể hiện ở sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
đến những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của tuổi trẻ. Từ đó đã có những chủ trương, chính
sách, kế hoạch cụ thể cho đoàn viên, thanh niên được rèn luyện, lao động, học tập, công tác,
được phát huy năng lực, khả năng sáng tạo và sức trẻ của mình vào công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời gian qua Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
đã phát huy vai trò nòng cốt, cùng với các lực lượng giáo dục khác luôn kiên trì thực hiện nhiệm
vụ giúp Đảng giáo dục và rèn luyện đoàn viên, thanh niên. Nhiều phong trào cách mạng của tuổi
trẻ, tiêu biểu như phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình
nguyện”, “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đã diễn ra hết sức sôi nổi. Kết
quả là đã góp phần tạo dựng nên một lớp thanh niên mới, trong đó có bộ phận thanh niên tiên
tiến đi đầu trên nhiều lĩnh vực, có thái độ, nhận thức tốt và ý thức chính trị cao, có ý chí vượt qua
khó khăn, vươn lên lập thân, lập nghiệp, phát huy mạnh mẽ truyền thống xung kích của lớp
thanh niên đi trước. Cũng từ đó mà vai trò, vị trí của đoàn viên, thanh niên ngày càng được
khẳng định trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ mà thế hệ trẻ đã đạt được, thì do tác động mặt trái của cơ

Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình
và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ
các tiền đề: Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam,
Hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão và Ba là, những tư
tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư
tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động
thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc
và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội đung và phương pháp giáo dục.
Về vai trò và mục đích của giáo dục. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải
tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Người nói: "Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu,
phần lớn đều do giáo dục mà nên".
Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Người
kêu gọi:
"Quốc dân Việt Nam!
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,
Mọi người Việt Nam phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và
trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ".
Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính
sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho "ngu dân dễ trị". Bằng ngòi bút với lời lẽ sắc bén, Người đã
chỉ rõ bộ mặt thực của cái gọi là "khai hoá văn minh" của thực dân Pháp: những người đến trường được
"đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp", những người không
đến trường thì bị đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện. Do vậy, theo
Người, để khẳng định chính mình, mỗi người phải thẳng thắn đấu tranh với cái lỗi thời, lạc hậu và các tệ
nạn xã hội. Người viết: "Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như:
Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp,
dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân". Thật
vậy, ngay từ những năm đầu bước vào đời, khi tham gia giảng dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, tại
đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hoá, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status