Văn hóa ứng xử của người quan họ thông qua lời ca dân ca quan họ cổ - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƢƠNG NGỌC TÙNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƢỜI QUAN HỌ
THÔNG QUA LỜI CA DÂN CA QUAN HỌ CỔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi trích
dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các số liệu, tên đề tài và kết quả nghiên cứu
trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Hà Nội ngày 15.12.2014
Ngƣời cam đoan
Trƣơng Ngọc Tùng Trƣơng Ngọc Tùng 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 11
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 12
5. Cấu trúc luận văn 12
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 13
1.1. Văn hóa và văn hóa ứng xử 13
1.2. Không gian văn hóa Quan họ xứ Kinh Bắc 17
1.2.1. Môi trường tự nhiên 17
1.2.2. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 19
1.2.3. Môi trường kinh tế 20
1.2.4. Môi trường văn hoá 20
1.3. Khái niệm, nguồn gốc và lịch sử phát triển dân ca Quan họ 22
1.3.1. Khái niệm dân ca Quan họ 22
1.3.2. Khái niệm lời ca dân ca Quan họ cổ 24
1.3.3. Nguồn gốc 27
1.3.4. Lịch sử phát triển 22
CHƢƠNG 2. VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA NGƢỜI QUAN HỌ TRONG
ĐỜI SỐNG 30
2.1. Ứng xử của ngƣời Quan họ với môi trƣờng tự nhiên 30
2.1.1. Các hình thái văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên nói chung 30
2.1.2. Ứng xử của người Quan họ với tự nhiên 32
5
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nói đến dân ca Quan họ Bắc Ninh là nói đến một loại hình nghệ thuật
dân gian truyền thống thuần Việt độc đáo, có chiều dài lịch sử và không gian
văn hóa sâu rộng. Sức hút của loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này đã
vƣơn ra khỏi địa bàn nơi nó sinh ra, lan truyền trong và ngoài nƣớc. Ngày
nay, chúng ta dễ dàng chứng kiến tại các lễ hội, các hội nghị, các trung tâm
vui chơi giải trí và thậm chí trong các đám cƣới ở khắp mọi miền đất nƣớc
hình ảnh liền anh liền chị Quan họ xúng xính tà áo tứ thân, mớ ba mớ bảy e lệ
bên chiếc nón quai thao và ca lên những giai điệu, lời ca mƣợt mà lôi
cuốn…Vì sao dân ca Quan họ lại có sức sống, sự lan tỏa rộng khắp và mạnh
mẽ đến nhƣ vậy, nhất là hiện nay, trong đời sống xã hội hiện đại có rất nhiều
hình thức giải trí khác nhau?
Từ những năm đất nƣớc ta chìm dƣới bom đạn chiến tranh, mặc dầu
còn rất nhiều khó khăn gian khổ hy sinh, song Đảng và Nhà nƣớc ta đã rất
chú trọng công tác nghiên cứu và bảo tồn dân ca Quan họ. Trải qua hơn nửa
thế kỷ, có rất nhiều tác giả đã dày công sƣu tầm, nghiên cứu và để lại khối
lƣợng tác phẩm khá phong phú đa dạng, sâu sắc và nhiều chiều, đem đến cho
ngƣời đọc, ngƣời yêu mến Quan họ một trữ lƣợng kiến thức rất đầy đủ liên
quan tới vùng đất, con ngƣời Quan họ. Song chƣa đủ để chúng ta kết luận
rằng đó là sức hấp dẫn của dân ca Quan họ với công chúng.
Thiết nghĩ, bên cạnh lề lối sinh hoạt, những phép tắc, phong tục, những
giai điệu uyển chuyển hay sự trình diễn của các nghệ nhân Quan họ còn có một

nghe dân ca Quan họ thấy hay mà không hiểu tƣờng tận vì sao hay, chƣa thấy
hết đƣợc thú chơi Quan họ của ngƣời Quan họ. Và thời gian cứ trôi đi, cùng
với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật và hàng ngàn hình thức 7
giải trí công nghệ hiện đại, con ngƣời sẽ không có nhiều thời gian để tìm hiểu,
nghiên cứu vốn văn hóa sâu sắc và độc đáo này. Dân ca Quan họ chắc chắn
vẫn tồn tại mãi mãi, nhƣng lời ca cổ với văn hóa ứng xử của ngƣời xƣa sẽ ra
sao khi Quan họ cải biên, Quan họ đài, Quan họ lời mới cứ ngày một lấn át.
Rồi ngày nào đó, thế hệ sau chúng ta có còn ai hiểu rõ tƣờng tận về ông cha
khi tiếp nhận lời ca cổ?
Từ những trăn trở muốn tìm hiểu kho tàng lời ca Quan họ cổ, một tài
sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vô cùng độc đáo và sâu sắc, để thấy
đƣợc văn hóa ứng xử của tiền nhân, chúng tôi mạnh dạn khai thác một khía
cạnh nhỏ trong vô vàn nội dung khác nhau chứa đựng trong lời ca: Văn hóa
ứng xử của ngƣời Quan họ qua lời ca dân ca Quan họ cổ.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu, các hội thảo với số lƣợng bài viết về
Quan họ và vùng đất Kinh Bắc rất phong phú và đa dạng trải qua một thời
gian tƣơng đối dài, giúp chúng ta lý giải phần nào vấn đề ở trên. Điển hình là
những nhà nghiên cứu nhƣ: Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý
cùng viết trong cuốn “Quan họ - Nguồn gốc và quá trình phát triển” (Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, 1978). Trong cuốn sách này, cả ba tác giả đã căn cứ từ
những tƣ liệu, tài liệu có nguồn gốc thực tế qua quá trình tìm hiểu các hoạt
động nghệ thuật của Quan họ, kết hợp giữa lý thuyết và thực tế để đi đến việc
kết luận nguồn gốc ra đời và phát triển của nghệ thuật Quan họ. Nhạc sĩ Hồng
Thao với công trình nghiên cứu, sƣu tập bền bỉ “300 bài dân ca quan họ Bắc
Ninh” (Viện Nghiên cứu Âm nhạc, 2002) và “Dân ca Quan họ” (NXB Âm
nhạc 1997). Đây là công trình rất có ý nghĩa và chất lƣợng, là nguồn tài liệu

sắc, thể tình yêu và trách nhiệm của mình với quê hƣơng Hà Bắc, trong đó
đáng lƣu ý là hai bài viết của tác giả Trần Linh Quý “Làng gốc Quan họ và
bảo tồn, bảo tàng đối với Quan họ” và của tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết „Tục 9
kết nghĩa làng chạ cổ truyền và tƣ liệu kết nghĩa làng chạ ở Hà Bắc”. Ở hai
bài viết này, độc giả có thêm kiến thức về Quan họ cũng nhƣ cách thức sinh
hoạt, cách thức diễn xƣớng và ứng xử của ngƣời Quan họ. Cùng thời gian
này, Ty văn hóa Hà Bắc cũng cho ra đời cuốn sách “Một số vấn đề về dân ca
Quan họ”. Cuốn sách tổng hợp bài phát biểu, báo cáo và tham luận của các
nhà quản lí văn hóa ở địa phƣơng vùng Quan họ, các cán bộ nghiên cứu công
tác tại viện Văn học, viện Dân tộc học, viện Âm nhạc, viện Sân khấu, vv…
Nội dung các bài viết đều tập trung vào khai thác tìm hiểu tập tục, nguồn gốc,
lịch sử phát triển của dân ca Quan họ cũng nhƣ phƣơng án bảo tồn, phát triển
Quan họ. Cuốn sách này cũng là một tƣ liệu vô cùng quý báu cho thế hệ sau.
Trong website: www.spnttw.du.vn, tác giả Nguyễn Thế Khoa dành nhiều thời
gian, công sức để sƣu tập, tìm hiểu dân ca Quan họ qua bài viết “Hành trình
sƣu tầm nghiên cứu dân ca Quan họ”. Từ những năm 1972, khi đất nƣớc còn
chia cắt, miền Bắc chìm trong khói bom của giặc Mỹ nhƣng tác giả Trần Văn
Khê cùng nhóm nghiên cứu đã dành tình cảm và trách nhiệm của mình cho
nền nghệ thuật độc đáo của dân tộc và đã cho ra đời hai cuốn “Một số vấn đề
về dân ca Quan họ”, và “Âm nhạc truyền thống Việt Nam và Hát Quan họ”
(Ty Văn hoá Hà Bắc , 1972). Có thể nói đây là những tài liệu vô cùng quý
báu, thể hiện tinh thần yêu nƣớc, yêu văn hóa truyền thống của thế hệ đi
trƣớc. Đặc biệt trong Website tỉnh Bắc Ninh (http://www.bacninh.gov.vn) và
trong từ điển “Bách khoa toàn thƣ mở” (http://vi.wikipedia.org/quanho) cung
cấp tƣơng đối đầy đủ cho bạn đọc các kiến thức liên quan tới loại hình nghệ
thuật này. Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các tác giả khác đăng trên các
tạp chí, các diễn đàn, các tờ báo của trung ƣơng và địa phƣơng. Nhìn chung

phong tục, tập quán, lễ hội, phong cảnh, di tích văn hóa, con ngƣời … từ góc độ
nhân học, tức môi trƣờng nảy sinh dân ca Quan họ. Ở loại này, điển hình là các
tác giả: Trần Đình Luyện, Lê Việt Nga, Đặng Văn Lung, Tô Ngọc Thanh. 11
Trong tất cả những tài liệu đã đƣợc công bố rộng rãi trên các thông tin
đại chúng, mặc dầu đa dạng phong phú, có chất lƣợng và số lƣợng, song căn
cứ từ việc chia loại nhƣ ở trên thì số lƣợng tác giả có tác phẩm, công trình
nghiên cứu về lời ca dân ca Quan họ cổ chƣa nhiều, đặc biệt là tìm hiểu về
văn hóa ứng xử trong lời ca cổ.
Văn hóa ứng xử trong lời ca cổ là một đề tài tƣơng đối rộng, đƣợc hình
thành từ gốc rễ nhân bản và tính cách của ngƣời Quan họ bao đời. Trong quá
trình lao động, sản xuất và sinh hoạt, ngƣời Kinh Bắc đã để lại vốn văn hóa
dân gian vô cùng phong phú và độc đáo. Nhìn từ góc độ xã hội, hiếm thấy có
nơi nào chứa đựng đƣợc nền văn hóa đa dạng và sâu rộng nhƣ ở đây. Chính vì
thế, nghiên cứu tìm hiểu về vùng đất và con ngƣời Kinh Bắc nói chung và dân
ca Quan họ nói riêng, từ trong quá khứ tới hiện tại, rất nhiều tác giả dày công
nghiên cứu, sƣu tầm và để lại khối lƣợng tác phẩm rất có giá trị. Nói các khác,
khi chúng ta quan tâm yêu mến tìm hiểu, nghiên cứu loại hình văn hóa dân
gian đặc sắc này thì nguồn tài liệu liên quan tới nó là tƣơng đối đầy đủ cả về
chất lƣợng và số lƣợng.
Cũng từ sự nghiên cứu tìm hiểu đã trình bày, chúng tôi nhận thấy việc khai
thác khía cạnh văn hóa ứng xử trong lời ca cổ là có cơ sở lý luận và thực tiễn.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là văn hoá ứng xử của ngƣời Quan họ
trong không gian sinh hoạt văn hoá Kinh Bắc. Trọng tâm là văn hoá ứng xử
của ngƣời Quan họ thông qua lời ca dân ca Quan họ cổ
3.2. Phạm vi nghiên cứu

13
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

Văn hoá là một phạm trù rất rộng liên quan tới quá trình hình thành và
phát triển nhận thức của con ngƣời. Văn hoá ứng xử chính là một trong những
biểu hiện của văn hoá trong cuộc sống của từng bộ tộc, dân tộc, quốc gia.
Trong phạm vi của chƣơng mở đầu, chúng tôi khái quát hai vấn đề này thành
hệ thống làm cơ sở lý luận cho việc lý giải sự hình thành và phát triển của văn
hoá ứng xử của ngƣời Quan họ nói chung và văn hoá ứng xử của ngƣời Quan
họ thông qua lời ca dân ca Quan họ cổ nói riêng.
1.1. Văn hóa và văn hóa ứng xử
Nói đến văn hóa là nói đến hàng nghìn định nghĩa khác nhau. Tùy quốc
gia, tùy dân tộc, tùy vùng miền… mà hình thành nên những nét đẹp văn hóa.
Theo từ điển “Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia” thì văn hóa là sản phẩm của
loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con
ngƣời và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời,
và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và phát
triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là
trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu
và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá
trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra. Về khái niệm văn hóa: Từ “văn
hóa” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa
thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ
phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm
tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối
sống Cũng theo “Đại từ điển tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn
15
những giá trị vật thể và phi vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế
giới tự nhiên. [3].
Nhƣ vậy, văn hoá là một phạm trù rất rộng có liên quan tới quá trình
nhận thức và phát triển của loài ngƣời. Một trong khía cạnh biểu hiện của văn
hoá đó là sự ứng xử. Sự ứng xử của mỗi xã hội, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
đều khác nhau, do đó hình thành nét riêng, độc đáo mang đặc tính, đặc điểm
của xã hội, dân tộc, quốc gia đó, mà chúng ta thƣờng gọi là văn hoá ứng xử.
Bàn về văn hóa ứng xử, theo ý kiến của Tiến sĩ mỹ học Phạm Thế
Hùng thì “Văn hóa ứng xử là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy
nghĩ, lối hành động của một cộng đồng ngƣời trong việc ứng xử và giải quyết
mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, với xã hội và từ vi mô đến vĩ mô”
[12, tr.314]. Văn hoá ứng xử của ngƣời Việt đã đƣợc hình thành trong quá
trình giao tiếp qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc. Cái đẹp trong văn
hoá ứng xử đƣợc cha ông ta lƣu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khac. Ngày
nay mặc dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhƣng giao tiếp ứng xử vẫn có tầm
quan trọng đặc biệt. Nó tạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức
trong cộng đồng dân cƣ, trong tình bạn, tình yêu, trong gia đình, trong nhà
trƣờng, trong kinh doanh, đàm phán - thƣơng lƣợng khi có những bất đồng có
thể dẫn đến xung đột.
Giao tiếp ứng xử có văn hoá, có đạo đức là cơ sở để có những mối quan
hệ thân thiện trong cộng đồng, quan hệ tình nghĩa trong gia đình, quan hệ hợp
tác trong kinh doanh, là cơ sở để tạo ra mội trƣờng xã hội có lơi cho sức khoẻ
của con ngƣời. Trong cuộc sống hàng ngày ngƣời Việt Nam luôn quan tâm
đến vấn đề giao tiếp, ngƣời Việt Nam do thiên về tình hơn về lý nên khi giao
tiếp con ngƣời luôn đề cao vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ để đảm bảo cho
sự đoàn kết nhất trí, cho cuộc sống vui vẻ hài hoà. Đề cập tới vấn đề này,
trong ca dao Việt Nam có câu:
17
đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con ngƣời nhằm
đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau. Xét trên bình diện
nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá
nhân đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân
với những ngƣời chung quanh. Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện
hoạt động bên ngoài của con ngƣời, đƣợc thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy
nghĩ và cách ứng xử của con ngƣời đối với bản thân, với những ngƣời chung
quanh, trong công việc và môi trƣờng hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành
vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó đƣợc hình thành qua quá
trình học tập, rèn luyện và trƣởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành
vi ứng xử văn hóa đƣợc coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi
cá nhân đƣợc thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá
nhân đó. Nó đƣợc biểu hiện trong mối quan hệ với những ngƣời chung quanh,
trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với
chính bản thân họ.
Đối với ngƣời Quan họ xứ Kinh Bắc, văn hóa ứng xử là nét đẹp trong
cộng đồng mà ở họ đƣợc gìn giữ. Qua bao đời trong đời sống sinh hoạt thể
hiện rõ nhất qua hoạt động văn hóa Quan họ, trở thành yếu tố đặc sắc không
thể thiếu của dân ca Quan họ. Điều này đƣợc thể hiện không chỉ ở hoạt động
diễn xƣớng mà còn rất rõ nét trong lời ca của những bài ca dân ca Quan họ cổ
1.2. Không gian văn hóa Quan họ xứ Kinh Bắc
1.2.1. Môi trường tự nhiên
Vị trí địa lý
Tỉnh Bắc Ninh (Kinh Bắc) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, tự
ngàn năm đã hình thành vùng dân cƣ đông đúc trù phú. Nơi đây sản sinh ra một
loại hình nghệ thuật đặc sắc đó là dân ca Quan họ. Ngƣời Kinh Bắc gắn bó với
cây lúa nƣớc, nhân dân thuần chất yêu lao động, hài hòa trong các mối quan hệ
19
Ðình Cả, Làng Tiêu, nghề kim hoàn, chạm vàng, chạm bạc, khảm trai ở Thị
Cầu, nghề làm tranh dân gian và hàng mã ở Ðông Hồ.
Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà
Nội - Hải Phòng - Hạ Long, Bắc Ninh có vị trí quan trọng về an ninh quốc
phòng. Vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một
trong những tiềm lực to lớn cần đƣợc phát huy một cách triệt để nhằm phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc
Ninh. Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cƣ của tỉnh,
Bắc Ninh có vị trí tƣơng tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
1.2.2. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Về khí hậu, Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa
đông lạnh và không khác biệt nhiều so với các tỉnh lân cận của đồng bằng
sông Hồng. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng rau, hoa quả,
chăn nuôi, tạo ra giá trị lớn trên một đơn vị diện tích. Bên cạnh đó, điều kiện
khí hậu ôn hoà, thuận lợi cũng ảnh hƣởng tới tính cách ngƣời dân nơi đây, và
chúng ta cũng lý giải đƣợc phần nào vì sao ngƣời Kinh Bắc dịu dàng đằm
thắm, tình nghĩa sâu nặng.
- Về địa hình - địa chất. Địa hình của tỉnh tƣơng đối bằng phẳng, có
hƣớng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, đƣợc thể hiện qua
các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Diện tích đồi núi
chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố
chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du. [57]. Ngoài ra còn một số khu vực thấp
trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lƣơng Tài, Quế Võ, Yên Phong. Đặc
điểm địa chất mang những nét đặc trƣng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng
sông Hồng, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hƣởng rõ rệt của cấu trúc mỏng.
21
phƣơng tập trung nhiều di tích lịch sử xếp hạng quốc gia là Từ Sơn, Yên
Phong, thành phố Bắc Ninh, Tiên Du. Bắc Ninh có nhiều di tích có giá trị lịch
sử văn hoá quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa quốc gia,
quốc tế nhƣ: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, chùa Dạm,
Văn Miếu
Lễ hội truyền thống: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41
lễ hội đáng chú ý trong năm đƣợc duy trì. Trong đó có những lễ hội có ý
nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hƣởng lớn nhƣ: Hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền
Đô, hội đền Bà Chúa Kho
Tất cả các lễ hội mang đậm nét đặc trƣng cho lễ hội cổ truyền của vùng
Kinh Bắc độc đáo, đặc sắc mang nhiều tín ngƣỡng về những đấng thần linh,
anh hùng dân tộc. Mỗi lễ hội giống nhƣ một viện bảo tàng sống về văn hóa,
truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc với những lễ nghi tôn giáo và những
trò chơi dân gian.
Tài nguyên du lịch nhân văn của Bắc Ninh khá đa dạng và phong phú
với nhiều loại hình khác nhau, nhƣng nổi bật nhất và đƣợc nhiều ngƣời biết
đến là các di tích lịch sử, văn hoá, tiêu biểu là đình, chùa và dân ca Quan Họ
Bắc Ninh.
Ca múa nhạc. Dân ca Quan họ là một đặc trƣng nổi bật và đặc sắc của Bắc
Ninh, sự nổi tiếng của dân ca Quan họ đã vƣợt ra ngoài biên giới quốc gia.
Từ những đặc điểm về địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị của vùng đất văn
hoá Luy Lâu xƣa, Bắc Ninh ngày nay giúp chúng ta cái nhìn toàn diện, sâu
sắc về con ngƣời Kinh Bắc và nghệ thuật Quan họ độc đáo. Đồng thời cùng
với việc tìm hiểu văn bản lời ca, đặc điểm của vùng đất con ngƣời nơi đây
cũng lý giải các vấn đề có liên quan tới con ngƣời, tập quán, lề lối sinh hoạt
của ngƣời Quan họ trong không gian văn hoá.



23
ngƣời dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không phải là "hát Quan
họ". Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền
anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong Quan họ
truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị đƣợc gọi là hát hội, hát
canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị đƣợc gọi là
hát chúc, mừng, hát thờ. “Chơi Quan họ" truyền thống không có khán giả,
ngƣời trình diễn đồng thời là ngƣời thƣởng thức (thƣởng thức "cái tình" của
bạn hát). Nhiều bài Quan họ truyền thống vẫn đƣợc các liền anh, liền chị
"chơi Quan họ" ƣa thích đến tận ngày nay nhƣ: Hừ la, La rằng, Tình tang, Bạn
Kim Lan, Cái ả, Cây gạo. Còn Quan họ mới còn đƣợc gọi là "hát Quan họ", là
hình thức biểu diễn (hát) Quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh
hoạt cộng đồng Tết đầu Xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng, [57]. Thực
tế, Quan họ mới đƣợc trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm. Các băng đĩa
CD, DVD về Quan họ ngày nay đều là hình thức Quan họ biểu diễn trên sân
khấu, tức Quan họ mới. Quan họ mới luôn có khán thính giả, ngƣời hát trao
đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau.
Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vƣơn ra ở nhiều
nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới. Quan họ mới có hình
thức biểu diễn phong phú hơn Quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát
đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa Quan họ mới cải biên các bài truyền thống
theo hai cách: không có ý thức và có ý thức. Dù ít hay nhiều nhƣng hình thức
hát Quan họ có nhạc đệm đƣợc coi là cách cải biên không có ý thức. Đa số
các bài Quan họ mới thuộc dạng cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài
đã cải biên cả nhạc và lời của bài Quan họ truyền thống. Loại cải biên này
không nhiều, ví dụ bài "Ngƣời ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông
vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên). Hát Quan họ với lời mới đƣợc
nhiều ngƣời yêu thích tới mức tƣởng nhầm là Quan họ truyền thống nhƣ bài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status