Đề tài Thiên chúa giáo trong trước tác Phan Bội Châu Luận văn ThS. Văn học - Pdf 28

®¹i häc quèc gia Hµ Néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n

NGUYỄN VĂN TUẤN

ĐỀ TÀI THIÊN CHÚA GIÁO
TRONG TRƢỚC TÁC PHAN BỘI CHÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM Hà Nội – 2014 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dƣới sự hƣớng
dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Vƣơng. Đề tài không trùng lặp với bất cứ công
trình khoa học nào. Những vấn đề trình bày trong luận văn này là kết quả do chúng
tôi nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc
những luận điểm khoa học nêu ra trong công trình này.

Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tuấn

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu suốt hai năm trong
chƣơng trình đào tạo Thạc sỹ, dƣới sự truyền dạy, hƣớng dẫn nhiệt tình, nghiêm túc
và khoa học của tập thể thầy cô là các Giáo sƣ, Phó giáo sƣ, Tiến sỹ của Trƣờng Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội. Trƣớc tiên, tôi xin kính gửi đến các thầy,
cô lời cảm ơn sâu sắc về những tri thức và tình cảm mà thầy cô đã dành cho tôi
trong thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần
Ngọc Vƣơng, đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Nhân đây, tôi
cũng xin gửi lời cảm ơn đến những bạn bè, đồng nghiệp – những ngƣời đã động
viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi, trong quá trình tiếp cận tƣ liệu để hoàn thành
luận văn.


văn học Việt Nam trung cận đại 31
1.2.1. Sự ghi chép về Thiên chúa giáo trong các tƣ liệu lịch sử 31
1.2.2. Đề tài Thiên chúa giáo trong những sáng tác văn học 35
Chƣơng 2: Quan niệm của Phan Bội Châu về Thiên chúa giáo 41
2.1. Vị trí Thiên chúa giáo trong trƣớc tác Phan Bội Châu 41
2.2. Quan niệm của Phan Bội Châu
về vấn đề văn hóa, tín ngƣỡng tôn giáo của đạo Thiên chúa 44
2.3. Thái độ của Phan Bội Châu trong mối quan hệ giữa
đạo Thiên chúa và sự xâm lƣợc của thực dân Pháp 50
Chƣơng 3: Những điểm mới trong đề tài
2

Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu 59
3.1. Đoàn kết lƣơng giáo – một tƣ tƣởng tiến bộ của
Phan Bội Châu chống kẻ thù xâm lƣợc 59
3.1.1. Vấn đề lƣơng – giáo trong phong trào
chống Pháp cuối thế kỷ XIX 60
3.1.2. Tƣ tƣởng đoàn kết lƣơng – giáo của Phan Bội Châu
trong phong trào đấu tranh chống kẻ thù xâm lƣợc 66
3.2. Điểm mới về Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu
so với các nhà Nho đƣơng thời 74
3.2.1. Đạo Thiên chúa trong cái nhìn của
vua quan triều Nguyễn và các các nhà Nho đƣơng thời 74
3.2.2. Tƣ tƣởng mới của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa 80
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91


ông nằm trong giai đoạn lịch sử đau thƣơng của đất nƣớc. Thêm vào đó là ông đƣợc
lớn lên trong không khí của chiến tranh và nỗi căm uất trƣớc sự xâm lƣợc của bọn
Đế quốc thực dân, dần dần Phan Bội Châu hiểu ra rằng “cần phải nuôi chí diệt thù”
để cứu nƣớc, cứu dân tộc.
Phan Bội Châu cũng là một nhà Nho, nhƣng lại ở vào giai đoạn cuối thời khi
mà chế độ Phong kiến đã đi đến hồi kết thúc, nên ông khác với các nhà Nho khác
mà nhƣ Trần Đình Hƣợu đã viết: “Ông từ một nhà Nho, thành một ngƣời hoạt động
cứu nƣớc, thành nhà chính trị, rồi ông trở thành một nhà văn. Con đƣờng trở thành
nhà chính trị, nhà văn của Phan Bội Châu đã trải qua nhiều hoàn cảnh cụ thể mà
qua đó, thời đại khắc họa những dấu ấn sâu sắc, làm cho ông khác những nhà Nho
khác, mà cũng tiêu biểu nhất cho những nhà Nho đó” [32/135]. Đối với lịch sử đấu
tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, Phan Bội Châu nhƣ là ngƣời tiếp nối những
trang sử đó, ông “đã đóng một vai trò trọng đại, tiếp nối phong trào Cần Vƣơng
cuối thế kỷ XIX, nuôi dƣỡng truyền thống quật khởi, bất khuất, anh hùng của ngƣời
Việt Nam trƣớc đợt sóng dập dồn của nạn xâm lăng” [72/294]. Đối với văn chƣơng,
Phan Bội Châu là một tác gia lớn, một nhân cách lớn, ông có một sự nghiệp vĩ đại
trong bƣớc ngoặt của lịch sử văn chƣơng dân tộc. Phan Bội Châu là ngƣời viết nhiều
với ý thức làm văn để phục vụ chính trị cứu nƣớc, và rất ít tác phẩm của ông viết ra
để tiêu khiển, trừ những năm cuối đời bị giam lỏng ở Huế. Cho nên, có thể nói văn
4

chƣơng của Phan Bội Châu là bộ phận khăng khít trong quá trình hoạt động cách
mạng của ông:
Mõ chuông là cái lƣỡi đây
Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên!
Những sáng tác của Phan Bội Châu chủ yếu nhằm xây dựng tƣ tƣởng yêu nƣớc
và tinh thần chiến đấu cho nhân dân chống quân xâm lƣợc. Ông ca ngợi những trang
quốc sử oanh liệt, các bậc anh hùng của đất nƣớc qua các thời đại Đồng thời, ông
cũng tố cáo mọi chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, để mọi ngƣời dân
thấy rõ bản chất của cuộc xâm lƣợc, đồng thời thức tỉnh nhân dân không nên có một

Xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một trong những giai
đoạn đầy biến động. Thời kỳ này đã xuất hiện nhiều khuynh hƣớng, đƣờng lối, và
phƣơng pháp duy tân đất nƣớc của các nhà Nho yêu nƣớc. Tƣ tƣởng của họ tuy có
khác nhau nhƣng cùng chung một mục đích là cứu dân, cứu nƣớc và phát triển xã
hội. Trong đó, Phan Bội Châu đƣợc xem nhƣ một ngôi sao sáng, là ngọn cờ đầu
trong phong trào duy tân, giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu đã để lại cho chúng ta
một kho tƣ liệu quý giá và đồ sộ trên nhiều lĩnh vực nhƣ văn học, sử học, tƣ tƣởng,
triết luận Cho đến nay, lịch sử nghiên cứu về Phan Bội Châu vẫn đang tiếp tục và
ngày càng thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều thế hệ chính trị gia, các nhà nghiên
cứu, hay các văn nghệ sĩ đánh giá về toàn bộ sự nghiệp trƣớc tác cũng nhƣ cuộc đời
của ông.
Ngƣời có nhiều công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu nhất có lẽ là nhà sử
học Chƣơng Thâu. Ông đã có trên 90 công trình nghiên cứu đƣợc đăng trên các báo,
tạp chí và hội thảo khoa học, và hơn 40 công trình sách chuyên khảo, biên soạn hoặc
viết riêng, hoặc viết chung với các nhà nghiên cứu khác về Phan Bội Châu và những
vấn đề liên quan tới nhà ái quốc vĩ đại này. Đồng thời, nhà sử học Chƣơng Thâu
cũng là ngƣời sƣu tầm và biên soạn bộ sách Phan Bội Châu toàn tập gồm 12 tập
trong đó có 10 tập trƣớc của Phan Bội Châu toàn tập đƣợc xuất bản năm 1990 (đến
nay đã tái bản nhiều lần) và hai tập bổ di 1 và bổ di 2 bổ xung một số thơ văn chƣa
đƣợc công bố trƣớc đó, mà một trong hai tập bổ di này đã đƣợc xuất bản năm 2012.
Với sự biên khảo sƣu tầm Phan Bội Châu toàn tập này của nhà sử học Chƣơng
Thâu “xứng đáng đƣợc coi là một mẫu mực của niềm hiếu kính và say mê của một
nhà khoa học đối với bậc tiền liệt, cũng tiêu biểu cho tính toàn vẹn, khách quan và
độ tin cậy văn bản học mà một cá nhân nhà khoa học có thể làm trên tinh thần tự
nguyện và về cơ bản là tự cấp tự túc” [70/491].
Một trong những công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu đƣợc đánh giá cao
nhất, đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu của giáo sƣ Đặng Thai Mai và
giáo sƣ Trần Đình Hƣợu mà theo giáo sƣ Trần Ngọc Vƣơng cho rằng đây là “những
6


lãng mạn đó cũng có tác dụng tố cáo cái hiện thực xấu xa cần phải tiêu diệt”
[17/471]. Thêm vào đó thì văn lãng mạn tích cực có thể làm cho ngƣời đời một hi
vọng đẹp đẽ, củng cố lòng tin con ngƣời vào tƣơng lai tƣơi sáng, mang lại cho họ
7

tinh thần lạc quan và ý chí đấu tranh kiên quyết. Hiện thực và tinh thần tích cực là
giá trị chân chính của văn học lãng mạn cách mạng và “văn thơ Phan Sào Nam,
trong một thời kỳ, quả có những yếu tố trữ tình hiện thực và tích cực đó” [17/471].
Trong giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930, Trần Đình
Hƣợu đã dành 1 chƣơng để viết về Phan Bội Châu. Đây là một công trình nghiên
cứu công phu, đầy đủ nhất từ con ngƣời và cuộc đời của Phan Bội Châu đến sự
nghiệp cứu nƣớc cũng nhƣ những đóng góp và cách tân trong văn chƣơng của ông.
Với một sự nghiên cứu cần mẫn và nghiêm túc của mình, Trần Đình Hƣợu đã
chỉ ra cuộc đời của Phan Bội Châu không giống nhƣ những nhà Nho lớp trƣớc mặc
dù ông đƣợc sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học. Từ một nhà Nho,
Phan Bội Châu trở thành một nhà hoạt động chính trị, rồi trở thành nhà văn, “con
đƣờng trở thành nhà văn chính trị của Phan Bội Châu trải qua những hoàn cảnh cụ
thể, độc đáo, qua đó, thời đại khắc lại nhiều dấu ấn sâu sắc, làm cho ông khác họ
mà lại tiêu biểu nhất cho họ” [32/135]. Văn học của Phan Bội Châu là văn học gắn
với chính trị, Trần Đình Hƣợu đã phân tích con đƣờng trở thành nhà văn chính trị
của Phan Bội Châu, với gần 60 năm hoạt động trong lĩnh vực văn chƣơng của mình,
với sự đổi thay của thời đại, tƣ tƣởng chính trị và sáng tác văn học của Phan Bội
Châu cũng có những bƣớc thay đổi, thăng trầm, và ông là “ngƣời táo bạo đi đầu
không ngần ngại đổi mới”. Sự đổi mới đó bắt nguồn từ những điều kiện tự nhiên,
lịch sử và xã hội đã ảnh hƣởng đến con ngƣời ông. Mà trong đó, có lẽ chính quê
hƣơng ông, quê hƣơng xứ Nghệ đã làm thay đổi nhận thức của ông về thời cuộc và
cách mạng. Thêm vào đó, Phan Bội Châu lại là một danh sĩ, nổi tiếng về văn chƣơng
và tinh thần yêu nƣớc. Chính vì thế mà “cá tính và màu sắc địa phƣơng để lại dấu
ấn đậm nét trong văn chƣơng của ông, tạo thành đặc sắc, nét nhất quán trong văn
chƣơng, từ thể phú của văn chƣơng cử tử đến truyện thơ cổ động, đến cả tính cách

nhƣng mặt khác Phan Bội Châu đã “khẳng định tinh thần yêu nƣớc của những ngƣời
giáo dân và chủ trƣơng đoàn kết lƣơng giáo, nhƣng một mặt ông cũng thấy khá rõ
giã tâm và âm mƣu chính trị của bọn gián điệp đội lốt thầy tu. Ông đã vạch rõ thủ
đoạn xảo quyệt của bọn thực dân Tƣ bản chủ nghĩa trong việc sử dụng tôn giáo làm
công cụ xâm lƣợc và bành trƣớng thuộc địa” [57/194]. Đặng Huy Vận cũng đã chỉ
ra đƣợc quan điểm tích cực của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa so với các nhà
Nho đƣơng thời: “Phan Bội Châu chủ trƣơng mọi ngƣời đều đƣợc tự do tín ngƣỡng.
Tuy nhận thức của ông còn đơn giản, nhƣng so với quan niệm cực đoan của những
ngƣời sĩ phu yêu nƣớc cuối thế kỷ XIX thì đã là một tiến bộ và có lợi cho việc đoàn
kết lƣơng giáo lúc bây giờ” [57/193]. Chính vì thế mà phải sang đầu thế kỷ XX với
Phan Bội Châu “vấn đề đoàn kết lƣơng giáo mới đƣợc đặt trong cƣơng lĩnh đấu
tranh cách mạng và hố sâu chia rẽ giữa lƣơng và giáo mới phần nào đƣợc giải
quyết” [57/191]. Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra những bằng chứng, những tƣ liệu

1
: Bài viết này sẽ đƣợc lấy trong cuốn Phan Bội Châu trong lòng thời đại do Chƣơng Thâu sƣu tầm và
tuyển chọn [57]
9

về phong trào yêu nƣớc chống Pháp của đồng bào công giáo đầu thế kỷ XX. Đó là
những tƣ liệu quý giá để chúng ta tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngƣời
công giáo với phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX.
Đề cập đến vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo chống Pháp, Phạm Hồng
Tung trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 6 năm 1999 có bài viết: Tìm hiểu thêm về
Phan Bội Châu và vấn đề đoàn kết lƣơng – giáo chống Pháp đầu thế kỷ XX. Trong
bài viết, tác giả đã nói rõ về sự hình thành và nội dung tƣ tƣởng đoàn kết lƣơng –
giáo của Phan Bội Châu. Từ điều kiện gia đình, bản thân, đặc biệt là những bài học
rút ra từ những thất bại các phong trào yêu nƣớc, những trải nghiệm và suy ngẫm
của bản thân, Phan Bội Châu đã sớm xƣớng lên ngọn cờ đoàn kết lƣơng – giáo:
“Ngay từ những ngày đầu dấn thân vào con đƣờng cứu nƣớc, Phan đã có dịp thông

quát đƣợc những vấn đề căn bản mà Phan Bội Châu đã viết về đạo Thiên chúa, đã
nêu bật đƣợc những điểm tích cực về vấn đề đoàn kết lƣơng – giáo vào công cuộc
cứu nƣớc của các đồng bào công giáo so với các nhà Nho đƣơng thời.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi nghiên cứu đến một số vấn đề về Thiên chúa giáo
trong trƣớc tác của Phan Bội Châu, cách nhìn nhận, những quan niệm của Phan Bội
Châu về đạo Thiên chúa và đồng bào Thiên chúa giáo, từ đó thấy đƣợc ý đồ của tác
giả khi viết về mảng đề tài này. Đề tài cũng có sự mở rộng đến những bài viết về
Thiên chúa giáo trong những giai đoạn trƣớc đó để chúng ta có thể hình dung những
chặng đƣờng phát triển trong nhận thức của các nhà Nho đối với đạo Thiên chúa,
cũng nhƣ những điểm mới của Phan Bội Châu so với các thế hệ trƣớc về một tôn
giáo mới đƣợc du nhập từ phƣơng Tây.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp lịch sử – xã hội: Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này là đặt hiện
tƣợng văn học vào bối cảnh xã hội để nghiên cứu. Phƣơng pháp này giúp cho hiện
tƣợng văn học bám chặt vào hoàn cảnh xã hội với những chứng cớ xác thực từ đời
sống thực tiễn của con ngƣời và xã hội. Phƣơng pháp nghiên cứu này rất phù hợp
khi nghiên cứu về nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học trong quá khứ, bởi văn
học quá khứ có mối liên hệ mật thiết dƣờng nhƣ không thể tách rời lịch sử xã hội.
Sử dụng phƣơng pháp này sẽ tránh cho chúng ta khỏi sa vào lối phê bình siêu hình,
xa rời thực tiễn, thậm chí sẽ đi quá xa vào việc bình luận vô căn cứ.
Phƣơng pháp so sánh: Sử dụng phƣơng pháp này để chúng ta nhấn mạnh nét
đặc thù của một nền văn học, một giai đoạn văn học hay một tác giả văn học so với
giai đoạn trƣớc đó hoặc cùng thời điểm đó. So sánh là để “hiểu một sự vật thông qua
các sự vật khác”. Đồng thời, phƣơng pháp này giúp cho chúng ta hiểu rõ bản chất và
11

vị trí của một hiện tƣợng văn học, một giai đoạn văn học hay một tác giả văn học
trong mối tƣơng quan đa chiều của nó. Cụ thể với đề tài này, sẽ so sánh cái nhìn,

nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX.
12

Chƣơng 2: Quan niệm của Phan Bội Châu về Thiên chúa giáo. Về quan niệm
của Phan Bội Châu đối với đạo Thiên chúa đƣợc trình bày chủ yếu ở hai vấn đề là:
quan niệm về văn hóa, tín ngƣỡng tôn giáo của đạo Thiên chúa và thái độ của ông
đối với mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa và sự xâm lƣợc của thực dân Pháp.
Chƣơng 3: Những điểm mới về đề tài Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu. Ở
chƣơng này, luận văn đi sâu vào những điểm mới của Phan Bội Châu về đề tài
Thiên chúa giáo, mà một trong những điểm mới nhất là vấn đề đoàn kết lƣơng –
giáo trong phong trào chống Pháp. Bên cạnh đó, chƣơng 3 này cũng trình bày quá
trình chuyển biến tƣ tƣởng của các nhà Nho nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
trên con đƣờng nhận thức trong cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc.
tế mới. Năm 1497, Vasco de Gama – nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã khám phá ra
đƣờng đi sang Ấn Độ bằng cách đi qua mũi Hải Vọng; năm 1500, Alvares Cabral
tìm ra Brasilia. Cuộc thám hiểm của Christophe Colomb đã tìm ra châu Mỹ. Bên
cạnh đó còn có các cuộc thám hiểm của Anh, Pháp Sự tồn tại của một tân lục địa
mới (Châu Mỹ) cũng nhƣ con đƣờng ngắn nhất để đến vùng Viễn Đông của các nhà
thám hiểm đã khẳng định địa vị của các nƣớc Tây Âu trên bản đồ thế giới [36/12 –
13].
Các cuộc phát kiến địa lý đó đã thúc đẩy các nhà chinh phục muốn tìm kiếm sự
nghiệp và một cuộc sống mới ở các miền đất lạ, và các thƣơng nhân hăm hở đi tìm
những thị trƣờng mới. Cuộc chạy đua đó đã dẫn tới hiện tƣợng các nƣớc phƣơng
Tây xô nhau đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trƣờng. Trong các cuộc thám
14

hiểm và chạy đua xâm lƣợc thuộc địa đó không chỉ có mặt của các nhà chinh phục
và các thƣơng nhân, mà còn thấy có mặt thƣờng xuyên và đông đảo các giáo sĩ của
các nƣớc phƣơng Tây đƣợc phái đi theo để thực hiện xứ mệnh truyền bá đạo Thiên
chúa. Cuộc truyền bá Thiên chúa giáo La Mã trên thế giới vẫn chủ yếu nằm dƣới sự
đỡ đầu và điều hành của ba quốc gia lớn là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp.
Thế kỷ XVI – XVII, giáo hội Thiên chúa giáo La Mã đã mở rộng việc truyền
đạo ra khắp ba châu lục: Á, Phi, Mỹ. Sang thế kỷ XVIII, giáo hội Thiên chúa giáo
La Mã bị trào lƣu tƣ tƣởng triết học mới của giai cấp Tƣ sản phƣơng Tây đả kích
mạnh mẽ, và lại bị tấn công dữ dội trong cách mạng Tƣ sản Pháp 1789, hầu hết các
giáo đoàn Thiên chúa giáo bị giải thể, khiến cuộc truyền giáo trên thế giới bị chậm
lại một thời gian dài. Tuy nhiên, từ sau thỏa hiệp ký kết giữa Napoléon I với tòa
thánh La Mã năm 1801, và sự ra đời tác phẩm Tinh thần Cơ Đốc giáo (Génie du
Christianisme) của Chateaubriand năm 1802, ca ngợi tính nhân văn của tôn giáo
này, thì vị thế của Thiên chúa giáo đƣợc phục hồi, các dòng tu, giáo đoàn đƣợc hoạt
động trở lại, việc truyền giáo ra ngoài Châu Âu tiếp tục đƣợc đẩy mạnh.
Nhƣ vậy, việc truyền bá đạo Thiên chúa luôn gắn bó mật thiết với các cuộc
thám hiểm, và sau này là cuộc xâm lƣợc thuộc địa, cũng nhƣ công cuộc thực dân ở

do lúc này ở Nhật đang có cuộc bắt đạo rất gắt, các giáo dân Nhật Bản đã đến đây
cƣ trú, thêm vào đó, ở đây cũng có nhiều thƣơng nhân Nhật Bản có đạo đến buôn
bán. Cho nên, hai giáo sĩ trên thay vì đi Nhật, họ đƣợc cử sang Hải Phố để duy trì
đời sống đạo của những ngƣời này. Nhân đó, họ (hai giáo sĩ trên) có nhiệm vụ khai
thác thuận lợi để tiến hành cuộc truyền giáo ở đây, nhƣ một thƣơng nhân Bồ Đào
Nha cho biết về “một triển vọng tốt đẹp của việc cải giáo cho vƣơng quốc này”
[36/51]. Và họ đã đạt đƣợc kết quả tốt đẹp, sau một năm với ba trăm ngƣời Việt đã
cải giáo. Trƣớc tình hình thuận lợi đó, sáu giáo sĩ đã đƣợc gửi sang Đàng Trong từ
Ma Cao vào năm 1624, trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes – “ngƣời có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho giáo hội Thiên chúa giáo La
Mã ở Việt Nam, ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỷ XVII”
[36/52].
D. Rhodes đã mở ra một trang sử mới trong sự phát triển của Thiên chúa giáo ở
Viễn Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng khi ông có công to lớn trong cuộc
vận động tòa thánh La Mã cử các thế diện tông tòa ngƣời Pháp đảm đƣơng việc
truyền giáo ở Viễn Đông (1658) khi mà Bồ Đào Nha không còn đủ sức đảm đƣơng,
và sự ra đời của Hội Thừa sai Paris (1663) nhằm đào tạo các giáo sĩ thừa sai ngƣời
Pháp đi làm nhiệm vụ truyền giáo ở vùng này.
Sau cuộc vận động của tòa thánh Vatican đến năm 1658, Giáo hoàng đã đồng ý
cử các giáo sĩ Pháp sang Viễn Đông với điều kiện họ phải tự lo liệu về mặt vật chất
và phƣơng tiện đi lại. Ba giáo sĩ quốc tịch Pháp là Pallu, Lambert, Cotolendi đƣợc

2
: Dòng tu do Ignace de Loyola (ngƣời Tây Ban Nha) thành lập năm 1534, là dòng tu chiến đấu chống
lại dị giáo, tuyệt đối trung thành với Giáo hoàng [36/14]
16

cử làm thế diện Tông tòa ở Viễn Đông. Do không thể vận động thành lập một công
ty thƣơng mại để buôn bán và chuyên chở các giáo sĩ nên họ phải đi bộ sang Viễn
Đông. Cotolendi đã bị chết giữa đƣờng còn hai giáo sĩ trên, Lambert đến Thái Lan


Trong thời kỳ lịch sử các giáo sĩ thừa sai của các dòng đạo ở phƣơng Tây tìm
luồng thƣơng mãi của nƣớc này hay nƣớc khác, ngoài việc truyền đạo còn phải quan
tâm thực hiện những gì có lợi cho những mục đích của nƣớc đã cử họ đi. Và, đóng
góp quan trọng của các giáo sĩ thừa sai với lợi thế của họ, là môi giới cho việc
thƣơng mãi, cung cấp những thông tin nhiều mặt phục vụ đắc lực cho cuộc thực dân
của các nƣớc phƣơng Tây. A.de Rhodes đã cung cấp những thông tin về tài nguyên
và khả năng giao thƣơng nhƣ sau: “Đây là chỗ nên chiếm lấy, nếu đến lập cơ sở
buôn bán ở đây, các lái buôn Âu Châu sẽ tìm thấy một nguồn lợi nhuận và của cải
dồi dào” [36/121].
Nhƣ vậy, A.de Rhodes cũng nhƣ các giáo sĩ thừa sai phƣơng Tây, ngoài việc
truyền đạo thì việc làm của họ cũng đã đóng góp cho sự bành trƣớng của các thế lực
phƣơng Tây. Đặc biệt, sau này, một số giáo sĩ của Hội thừa sai Paris sẽ tham gia
trực tiếp vào công việc chính trị ở Việt Nam. Khởi đầu của sự bành trƣớng thế lực
của Pháp tại Việt Nam là các Thế diện tộng tòa và giáo sĩ thừa sai Pháp. Khi họ ở
Việt Nam, song song với sự điều hành việc đạo thì họ cũng luôn quan tâm tới việc
tạo điều kiện thuận lợi nhƣ cung cấp thông tin, vạch kế hoạch cho sự bành trƣớng
thế lực của Pháp tại Việt Nam.
Lambert và Pallu là những ngƣời tiên phong dẫn dắt thực dân Pháp thâm nhập
vào Việt Nam. Các hoạt động truyền giáo của Lambert và Pallu luôn luôn gắn liền
với yêu cầu bành trƣớng thế lực thực dân Pháp. Bên cạnh Lambert và Pallu có hai
giáo sĩ cùng đi sang Viễn Đông là Bourges và Deyblier. Hai giáo sĩ này có quan hệ
mật thiết với công ty Đông Ấn ở Ấn Độ
3
, họ luôn đề cao uy thế của Pháp và ra sức
hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho thƣơng nhân Pháp xâm nhập Việt Nam. Cơ
hội thuận lợi đã đến vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, khi giáo mục Pigneau (Bá
Đa Lộc) thiết lập đƣợc mối quan hệ chặt chẽ với Nguyễn Ánh. Pigneau thay mặt
Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, ký kết với Pháp hiệp ƣớc Versailles 1787, rồi sau đó ra
sức giúp Nguyễn Ánh phục hồi ngôi vua, đánh dấu sự can thiệp trực tiếp của chính

cho nên, Pigneau đã vấp phải sự phản kháng của những ngƣời Bồ Đào Nha.
Tháng 2 năm 1787, Pigneau đến Pháp, đầu tháng 5 ông đƣợc yết kiến vua cùng
với sự có mặt của Bá tƣớc Montmorin và thống chết De Castries. Trong buổi gặp,
Pigneau đã trình bày ý kiến của mình xung quanh lợi ích của việc làm chủ đƣợc xứ
Đàng Trong. Đây là một vị trí thƣơng mãi và quân sự hết sức quan trọng đối với
việc củng cố và phát triển thế lực của Pháp ở Viễn Đông. Ông cho biết:
“Một căn cứ ngƣời Pháp ở Đàng Trong sẽ cho phép ta cân bằng đƣợc thế lực
đối với nƣớc Anh trong việc kiểm soát vùng Ấn Độ, sẽ tìm thấy ở đây nguồn của cải
đảm bảo hơn, sự viện trợ gần gũi hơn là sự viện trợ mà ta buộc phải trông chờ từ
Châu Âu, cho phép ta thống trị cả vùng biển Trung Hoa và các bán đảo của nó, và,
sau hết là làm chủ sự thƣơng mãi của cả miền này. Chúng ta sẽ có một địa điểm an
toàn để đỗ tàu trong trƣờng hợp có chiến tranh, để sửa chữa tàu với giá rẻ và ngay
cả đóng những cái mới. Căn cứ này cũng còn cho ta những phƣơng tiện dễ dàng để
19

tiếp tế cho các hạm đội của chúng ta và cung cấp cho các thuộc địa Ấn Độ Dƣơng
và Phi Châu của chúng ta những hàng hóa thật cần thiết.
Nhƣ vậy, chúng ta sẽ có trong tay mọi phƣơng tiện có hiệu quả không những để
ngăn cản ngƣời Anh trong ý đồ đẩy chúng ta ra khỏi Ấn Độ để bành trƣớng thế lực
của họ về phía Đông, mà còn làm cho họ sau này phải run sợ ngay ở Bengale, vị trí
then chốt của thế lực của họ, miễn sao cái căn cứ Đàng Trong ấy đƣợc mọi ngƣời
hiểu rõ và thực hiện đúng mức ” [36/141 – 142].
Những lời thuyết phục dài ngày cuối cùng cũng đã đạt đƣợc kết quả, ngày 28
tháng 11 năm 1787, đại diện cho nhà vua Pháp – Bá tƣớc Montmorin đã ký một bản
điều ƣớc tƣơng trợ với Pigneau – đại diện cho nhà vua Đàng Trong. Trong đó có
quy định một số điều nhƣ: vua Pháp sẽ viện trợ cho vua Đàng Trong lấy đƣợc ngai
vàng; bù lại, vua Đàng Trong sẽ phải nhƣợng bộ cho ngƣời Pháp quyền sở hữu cửa
biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn; ngƣời dân nƣớc Pháp có quyền đƣợc tự do buôn
bán; tất cả mọi tàu bè của nƣớc ngoài đi lại, buôn bán ở đây đều phải đặt dƣới quyền
bảo trợ của nƣớc Pháp Tuy nhiêu, điều ƣớc đã không đƣợc thi hành bởi cuộc cách

giáo sĩ thừa sai Pháp đã kêu gọi sự giúp đỡ của chính quốc dẫn tới sự can thiệp của
Pháp vào Việt Nam
4
.
Tự Đức lên ngôi, việc cấm đạo trở lên gay gắt hơn. Các giáo sĩ đã khẩn thiết
cầu cứu nhà vua Pháp. Napoléon III đã can thiệp vào Việt Nam, cử Montigny đi
xem xét tình hình ở Viễn Đông, đồng thời có nhiệm vụ đến Việt Nam đƣa yêu cầu
đƣợc thông thƣơng và đòi hỏi nhà vua Việt Nam phải đảm bảo an toàn cho các giáo
sĩ. Sau những cuộc gặp gỡ giữa Montigny với triều đình Huế bị thất bại, Napoléon
III quyết định can thiệp vũ trang vào Việt Nam. Nhƣng những ngƣời tích cực thúc
đẩy chính quyền Pháp thực hiện cuộc viễn chinh lại chính là các giáo sĩ thừa sai
Pháp mà tiêu biểu là hai giáo sĩ Huc và Pellerin
5
.
Trong thƣ văn gửi lên hoàng đế, linh mục Huc đã nêu những thuận lợi về chiến
lƣợc, kinh tế, thƣơng mại và tôn giáo khi Pháp chiếm Việt Nam: “Đà Nẵng nằm
trong tay ngƣời Pháp sẽ là một hải cảng không ai tấn công nổi và là cứ điểm quan
trọng nhất để chế ngự Bắc Á”, và “Lãnh thổ Cochinchine (Việt Nam) màu mỡ có thể

4
: Sự can thiệp của Pháp vào Việt Nam thể hiện rõ nhất bắt đầu từ tháng 2/1843, khi đƣợc tin triều đình
Huế giam giữ năm giáo sĩ Pháp (Galy, Berneux, Charrier, Miche và Duclos), Favin Lévêque đem tàu
đến Đà Nẵng yêu cầu đƣợc gặp quan trấn thủ để thƣơng lƣợng. Lévêque đòi tha năm giáo sĩ Pháp và
đe dọa sẽ làm dữ. Trƣớc tình hình đó, triều đình đã giao năm giáo sĩ này cho Lévêque. Tuy nhiên, ba
trong năm giáo sĩ trên đã quay lại Việt Nam hoạt động, chỉ có hai giáo sĩ về Pháp.
Năm 1844, giáo sĩ Lefèbre – phó giám mục địa phận Nam Kỳ Hạ bị bắt giam đã gửi thƣ cầu cứu
Cécille – chỉ huy hạm đội Pháp ở Đông Hải. Lefèbre đƣợc tha nhƣng sau đó lại trở lại Nam Kỳ.
Lefèbre một lần nữa lại bị bắt và giải về Huế. Lần này, vua Thiệu Trị ra lệnh trục xuất Lefèbre cho
ngƣời dẫn về Singapore năm 1847. Tƣởng rằng Lefèbre chƣa đƣợc tha, đô đốc Cécille cử hải quân
đại tá Lapierre cùng với R.De.Genouilly đem hai chiến hạm đến Đà Nẵng bắn phá năm chiếc thuyền

Pháp nhƣ những ngƣời giải phóng. Trƣớc lời thỉnh cầu tha thiết của hai vị linh mục
trên, thái độ của Ủy ban Nam Kỳ đã rất tán thành cuộc viễn chinh. Và vào ngày 1
tháng 9 năm 1858, tiếng súng đại bác của liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã nổ ra tại
cửa biển Đà Nẵng, mở màn cho cuộc xâm lƣợc Việt Nam. Lúc này, các giáo sĩ thừa
sai vẫn là những ngƣời cộng tác nhiệt tình và đắc lực cho thực dân Pháp.
1.1.2.2. Những mƣu toan chính trị của các thừa sai nửa cuối thế kỷ XIX
Trƣớc những lời thỉnh cầu và lời hứa về một triển vọng khá tốt đẹp của một
cuộc viễn chinh vào Viễn Đông, Rigault de Genouilly lên đƣờng đến Nam Kỳ với
sứ mệnh bảo vệ sự truyền giáo của các thừa sai (bảo vệ bằng súng và đại bác) và
mang ánh sáng văn minh đến cho dân tộc Việt Nam. Nhân dịp này, ông thăm dò khả
năng thiết lập một chế độ bảo hộ tại Nam Kỳ.

Trích đoạn Quan niệm của Phan Bội Chõu Thỏi độ của Phan Bội Chõu trong mối quan hệ giữa Đạo Thiờn chỳa trong cỏi nhỡn của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status