ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN ĐINH THỊ THU HƢỜNG
VỐN XÃ HỘI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC TRẺ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(Nghiên cứu trường hợp Phường Đại Kim, Quận Hoàng Mai,
Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội - 2014
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là Luận văn do tôi hoàn thành, chƣa từng
công bố trƣớc đó và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung
thực của Luận văn.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 17
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 17
6. Câu hỏi nghiên cứu 18
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 19
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 21
9. Cấu trúc của luận văn 23
NỘI DUNG 24
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 24
1.1. Các khái niệm 24
1.1.1. Vi 24
1.1.2. Nguc 25
1.1.3. Nguc tr 28
n nguc 29
1.2. Các lý thuyết áp dụng 32
t mi 32
t la chn hp l 33
t vi 35
1.2.4. 38
1.3. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực 39
n ngui ca s nghip
c 39
n nguc cc 41
1.3.3. Chic Vit Nam thi k 2011 2020 43
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 46
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ VÀ SỰ
DỤNG VỖN XÃ HỘI VÀO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Từ đầy đủ
1
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
2
GDP
Chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước
3
HDI
Chỉ số phát triển con người
4
NTL
Người trả lời
5
TCTK
Tổng cục Thống kê
6
UNDP
Liên Hợp Quốc
7
WB
Ngân hàng Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không phải ngẫu nhiên Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam
khẳng định “Phát triển mạnh nguồn nhân lực con người Việt Nam với yêu cầu
ngày càng cao” và Thủ tướng Chính Phủ ngày 30 tháng 5 năm 2012 lại ra chỉ
thị triển khai thực hiện quy hoạch, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu phát triển
nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2015. Điều này cho thấy sự thịnh vượng
của mỗi quốc gia không chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà phần
lớn còn dựa trên nguồn nhân lực trẻ – nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87
triệu người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam khá dồi
dào. Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công
nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề. Trong
đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số;
nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân
lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người,
chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2
triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người [67].
Hiện nay, ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực là nhân lực
phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm
tỷ lệ cao, trong khi nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu
của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất
lượng cao. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã
qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu
người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số
người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp,
chiếm khoảng 40%. Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua
3
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần bổ sung tài liệu, làm phong phú hơn những nghiên
cứu về vốn xã hội, nguồn nhân lực.
- Cung cấp những số liệu về thực trạng nguồn nhân lực trẻ, tác động
của vốn xã hội đối với việc phát triển nguồn nhân lực trẻ. Những số liệu này
là cơ sở cho những đề tài nghiên cứu sâu hơn về vốn xã hội với nguồn nhân
lực trẻ.
- Vận dụng một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết mạng lưới xã hội,
lý thuyết tương tác xã hội, lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết cấu trúc- chức
năng, lý thuyết xung đột, lý thuyết vốn xã hội vào phân tích, giải thích các
vấn đề trong việc nghiên cứu vốn xã hội.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần nhỏ bé giúp
mỗi cá nhân vận dụng một cách hợp lý vốn xã hội của mình trong việc phát
triển bản thân một cách có hiệu quả.
Giúp cho các doanh nghiệp, cơ quan nói chung và các doanh nghiệp, cơ
quan trên địa bàn phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội nói riêng có
những chính sách phù hợp, công bằng nhằm hỗ trợ sự phát triển nguồn nhân
lực trẻ một cách tối ưu qua đó nhằm nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao
động, tạo ra ngày càng nhiều nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước.
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vốn xã hội ngày càng trở thành chủ đề được các nhà khoa học quan
tâm. Những nghiên cứu về vốn xã hội khá nhiều. Thông qua việc tổng quan
tài liệu, tác giả nhận thấy, đã có những công trình nghiên cứu, báo cáo, bài
báo khoa học về vai trò của vốn xã hội với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, dường như chưa có nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của vốn xã
hội co cụm vào trong tồn tại trong các nhóm, cộng đồng và những cá nhân
thuộc nhóm, cộng đồng đó có những đặc điểm tương đồng. Vốn xã hội co 5
cụm bên trong thì tốt trong những tình huống cá nhân muốn duy trì tình hình
kinh tế đã có. Trong khi đó, vốn xã hội vươn ra bên ngoài tồn tại trong những
quan hệ xã hội giữa các cá nhân vượt ra bên ngoài giới hạn các nhóm, cộng
đồng đồng nhất. Vốn xã hội vươn ra bên ngoài giúp cho cá nhân vươn lên
phía trước.
Nghiên cứu “Vốn xã hội trong việc tạo ra vốn con người” của Jame
S.Coleman (1988), tác giả phân tích mối quan hệ giữa 3 loại vốn là vốn kinh
tế, vốn xã hội và vốn con người. Theo Coleman, cả vốn kinh tế lẫn vốn xã hội
đều có ý nghĩa tích cực đối với việc tạo ra vốn con người. Tác giả nhấn mạnh,
vốn xã hội trong gia đình và cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong việc
hình thành vốn con người cho thế hệ kế tiếp, được hiểu là kết quả học tập của
con cái.
Bài báo “Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới” của
Fukuyama (2002), tác giả phân tích mối liên hệ giữa vốn xã hội với các thành
tố khác trong phát triển trên phạm vi toàn cầu. Fukuyama chỉ ra cách thức mà
vốn xã hội đã đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xóa đói
giảm nghèo. Theo tác giả, vốn xã hội giúp cho sự phát triển của nhiều doanh
nghiệp Mỹ La tinh. Vốn xã hội cũng giúp nhiều người vượt qua những khó
khăn trong giai đoạn suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng ở khu vực này.
Có thể thấy, các tác giả trên thế giới đã phân tích bản chất hai mặt của
vốn xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo đó, vốn xã
hội không chỉ có tác dụng tích cực mà còn gây ra những hệ quả tiêu cực.
- Ở Việt Nam
Sách “Lòng tin và vốn xã hội”, Nhà xuất bản Tri Thức (2014) là tập
hợp các bài viết của nhiều tác giả, tập trung vào vấn đề lòng tin, vốn xã hội.
niệm vốn xã hội và những khái niệm có liên quan, từ đó nghiên cứu vai trò,
tác động của vốn xã hội đối với sự phát triển làng nghề. Qua kết quả khảo sát
thực tế, đề tài đã chỉ ra được vai trò và tác động của vốn xã hội đối với sự 7
phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự phát triển làng nghề nói riêng. Tuy
nhiên, nghiên cứu mới chỉ được triển khai ở phạm vi hẹp là hai làng nghề.
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học “Vai trò của việc sử dụng
vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà
Nội” của Trần Tú Hoa (2010). Tác giả tiến hành khảo sát thu thập thông tin,
số liệu phân tích, đánh giá vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong quá trình
phát triển ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa; phân tích các yếu tố tác động tới
việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp này. Từ đó, tác giả đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xã hội trong quá trình phát triển
ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bài báo “Vốn xã hội và mấy vấn đề đặt ra trong nghiên cứu vốn xã
hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, Số 3(115), năm 2011 của
Nguyễn Tuấn Anh. Tác giả nhấn mạnh, các nghiên cứu lý luận về vốn xã hội
ở Việt Nam còn khá khiêm tốn. Do vậy, cùng với việc đưa ra các quan điểm
lý thuyết mới, cần có những nghiên cứu về lịch sử vốn xã hội. Những nghiên
cứu thực nghiệm và ứng dụng về vốn xã hội cho đến nay vẫn còn dừng lại ở
giai đoạn khởi động. Các nghiên cứu về vốn xã hội tập trung khai thác mặt
tích cực, bỏ qua hoặc xem nhẹ những biểu hiện tiêu cực, dễ gây ngộ nhận
rằng vốn xã hội giống như một thứ “bảo bối” thần kỳ đem lại toàn những điều
tốt đẹp.
Bài báo “Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở nông
thôn Việt Nam hiện nay” (2011). Tác giả Nguyễn Tuấn Anh lược sử khái
niệm và những quan niệm khác nhau về vốn xã hội; chỉ ra mặt tích cực và tiêu
cực của vốn xã hội qua các nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cũng
học, Số 2(90), năm 2005 của Nguyễn Quý Thanh. Tác giả đưa ra kết luận, gia
đình tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh doanh nhỏ ở
Việt Nam và cả ở Hàn Quốc. Các quan hệ gia đình có thể có cả ý nghĩa tích
cực và tiêu cực đối với sự phát triển của kinh doanh. Bạn bè và gia đình là
những nguồn quan trọng để những người kinh doanh nhỏ có thể vay vốn khởi nghiệp. 9
Bài báo “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân
ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, Tạp chí Xã hội học, Số 4 năm
2007 của Nguyễn Duy Thắng. Tác giả nhấn mạnh, việc sử dụng vốn xã hội
trong chiến lược sinh kế đã giúp cho người dân giảm được chi phí đầu vào
cho sản xuất và các chi phí giao dịch trong tìm kiếm việc làm hay thị trường,
đồng thời chia sẻ các thông tin đáng tin cậy về thị trường để tránh nguy cơ rủi
ro. Vốn xã hội là một trong những yếu tối quan trọng đóng góp tích cực vào
sự phát triển kinh tế của nông dân trong quá trình đô thị hóa.
Bài báo “Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng
ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ”, Tạp chí
Nghiên cứu Gia đình và Giới, Số 4(17) năm 2007 của Thomese F., Nguyễn
Tuấn Anh. Các tác giả chứng minh rằng, chính nhờ vào nguồn vốn xã hội mà
các hộ nông dân có thể tiến hành dồn điền đổi thửa một cách phi chính thức
mà không cần dựa trên một loại giấy tờ hay một quan hệ mang tính chính thức
và pháp lý nào. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp quá trình sản
xuất nông nghiệp được linh hoạt, hiệu quả hơn.
Bài báo “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư”, Tạp chí
Xã hội học, Số 2(62) năm 1998 của Đặng Nguyên Anh. Số liệu được sử dụng
trong bài viết có được từ cuộc khảo sát “Di cư và Sức khỏe” do Viện Xã hội
học tiến hành năm 1997 trong khuôn khổ dự án hợp tác quốc tế do Quỹ Dân
số Liên hiệp quốc (UNFPA) tài trợ. Bài viết tập trung phân tích ảnh hưởng
của mạng lưới xã hội đối với di cư nông thôn-đô thị. Kết quả thu được cho
Kết luận cho thấy, nếu một hộ gia đình là thành viên của một Hội có các
thành viên khác của Hội đang tiết kiệm nhiều hơn thì hộ cũng thường có xu
hướng tiết kiệm nhiều hơn.
Bài báo “Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội,
Số 07(95), 2006, trang 74-81 của Trần Hữu Quang. Tác giả đề cập quan điểm
vốn xã hội của nhiều tác giả nước ngoài, qua đó nhấn mạnh vốn xã hội là một 11
hiện tượng đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau
trong một cộng đồng hay một xã hội.
Bài báo “Vốn xã hội và đo lường vốn xã hội”, Tạp chí Khoa học Xã
hội, Số 3 năm 2007 của ThS. Lê Minh Tiến, Đại học Mở, TP HCM trong Hội
thảo “Vốn xã hội trong phát triển” do Tạp chí Tia sáng (thuộc Bộ Khoa học
và Công nghệ) tổ chức ngày 24/6/2006. Tác giả đã khái quát một số quan
niệm về vốn xã hội, trình bày một số cách vận dụng các nghiên cứu nước
ngoài xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội. Từ đó, tác giả đưa ra định
hướng xây dựng chỉ báo đo lường vốn xã hội ở Việt Nam.
Bài báo “Lòng tin trong xã hội và vốn xã hội”, bài tham luận tại Hội
thảo khoa học về “Vốn xã hội trong phát triển” do Tạp chí Tia sáng tổ chức
vào ngày 24/6/2006 tại Hà Nội, 2006 của Trần Hữu Quang.
Bài báoPhát triển bền vững” nhìn từ góc độ xã hội và văn hoá của
Trần Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tia Sáng tháng 11/2004 bàn về vấn đề phát
triển bền vững. Tác giả đã đưa ra những nguồn vốn quý giá tạo nên sự phát
triển bền vững trong đó có vốn xã hội, vốn vật thể, vốn con người. Tác giả bài
báo cũng đã đưa ra một số cách tiếp cập và lý thuyết nghiên cứu về vốn xã hội
và vai trò của vốn xã hội trong phát triển bền vững.
Bài báo “Vốn xã hội và kinh tế” đăng trên Tạp chí Thời Đại, Số 8 năm
2003 của Trần Hữu Dũng. Tác giả lược duyệt và đánh giá một số quan niệm
khác nhau về vốn xã hội của Pierre Bourrieu, Jame Coleman, Robert Putnam,
trưởng kinh tế thông qua yếu tố nguồn nhân lực. Các tác giả này cho rằng vấn
đề cốt lõi của phát triển kinh tế là đầu tư vào giáo dục để phát triển nguồn
nhân lực.
- Vit Nam:
Sách “Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - những phân tích xã
hội học” của tác giả Đặng Cảnh Khanh là công trình đáng chú ý nhất về
nguồn nhân lực trẻ. Cuốn sách này bàn đến nguồn nhân lực trẻ của các dân
tộc thiểu số trên nhiều chiều cạnh khác nhau như thể chất, sức khỏe, học tập, 13
lao động, đời sống văn hóa tinh thần, lối sống, nhân cách. Trong nghiên cứu
này có nhiều nhận xét quan trọng được tác giả đưa ra. Chẳng hạn trình độ học
vấn của nguồn nhân lực trẻ ở các dân tộc thiểu số còn thấp. Đồng thời trong
nghiên cứu này tác giả cũng nêu lên các giải pháp để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số.
Sách "Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn
nước ta" do Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996), giới thiệu về
kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia, trong đó có chính
sách phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới.
Sách "Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo -
Kinh nghiệm Đông Á" của Viện Kinh tế Thế giới (2003). Đây là cuốn sách
giới thiệu các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực trong phát
triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Các chính sách thành
công về giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á là giải pháp quan trọng
trong cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó
cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực.
Luận án Tiến sỹ “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của các
trường đại học khối Kinh tế Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác
đào tạo quốc tế” của Phan Thuỷ Chi (2008) cung cấp các vấn đề lý luận về
Nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Thành phố Đà Nẵng” phân tích và luận giải những đặc điểm
quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Đà
Nẵng. Nghiên cứu đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc phát triển
nguồn nhân lực ở Thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, tác giả cũng đã đề xuất các
định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Đà Nẵng nhằm phục vụ
cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Chuyên đề “Xây dựng con người, xây dựng xã hội học tập” của Phạm
Tất Dong là một công trình nghiên cứu đáng lưu ý, bàn đến việc xây dựng con
người và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Qua công trình này, tác 15
giả không chỉ bàn về xã hội học tập mà còn đi sâu phân tích vấn đề con người
và nhân cách, cấu trúc nguồn nhân lực, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng
cao, những yêu cầu của thời đại đặt ra với vấn đề xây dựng nguồn nhân lực.
Một số đề tài nghiên cứu về đánh giá nguồn chất lượng dân số như
“Nghiên cứu chất lượng dân số đô thị Thành phố Hà Nội” do PGS. TS
Nguyễn Thị Kim Hoa làm chủ nhiệm. Đề tài này xây dựng chỉ số đo chất
lượng dân số để tính riêng cho đô thị. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng
về trí tuệ, tinh thần, thể chất của người dân đô thị Hà Nội. Trên cơ sơ phân
tích các yếu tố tác động đến chất lượng dân số, đề tài đưa ra các giải pháp
nâng cao chất lượng dân số. Qua đề tài, chúng ta thấy rõ vai trò của vốn xã
hội trong phát triển chất lượng dân số.
Bên cạnh đó, bài viết “Về thực trạng công tác nhân tài ở nước ta hiện
nay” của Dương Phú Hiệp phân tích những quan niệm không đúng về nhân
tài. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, tôn
vinh nhân tài.
Bài viết “Sự phát triển của thế hệ người Việt Nam dưới tác động của
lịch sử, văn hóa đất nước” của Lê Thi (2007) cho rằng biến đổi xã hội là
vốn xã hội đối với các lĩnh vực đã có, tuy nhiên chưa nhiều. Vốn xã hội đã
được nghiên cứu, phân tích trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, với kinh
tế, trong việc dồn điền đổi thửa, trong sự phát triển của doanh nghiệp vừa và
nhỏ, trong việc tiết kiệm…Về cơ bản, mối quan hệ giữa vốn xã hội và vốn
con người – nguồn lực con người mới chỉ được khái quát về mặt lý thuyết mà
chưa có nghiên cứu chuyên sâu.
Điểm mới của luận văn so với các nghiên cứu trước đó là nghiên cứu
trước mới chỉ tập trung vào nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong một số
lĩnh vực của đời sống xã hội mà chưa chú ý đến vai trò của vốn xã hội đối với
sự phát triển của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ. Trong xu thế
toàn cầu hóa, đất nước ta đang trên đà phát triển, phấn đấu đến năm 2020 trở
thành nước công nghiệp, thì việc phát triển nguồn nhân lực trẻ là rất cần thiết.