ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CHU THANH NGÂN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
Ở BA VÌ - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TÁC GIẢ Chu Thanh Ngân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1. Kinh tế du lịch 9
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm 9
1.1.2. Các loại hình du lịch 22
1.1.3. Vai trò của kinh tế du lịch 26
1.2. Phát triển kinh tế du lịch 33
1.2.1. Khái niệm và nội dung phát triển kinh tế du lịch 33
1.2.3. Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch 50
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trên địa bàn Hà Nội về phát triển kinh tế
du lịch 54
1.3.1. Kinh nghiệm của thành phố Sơn Tây - Hà Nội 54
1.3.2. Kinh nghiệm của huyện Mỹ Đức - Hà Nội 57
1
DANH MỤC BẢNG
STT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
2.1
Các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn
huyện Ba Vì – Hà Nội
67
2
2.2
Cơ sở vật chất các đơn vị du lịch huyện Ba Vì
69
3
Tổng hợp khách đến thăm quan du lịch Ba Vì
từ 2006-2012
82
10
2.10
Doanh thu của du lịch Ba Vì từ 2009-2012
83 11
2.11
Nộp ngân sách Nhà nước của du lịch Ba Vì từ
2006-2012
86
DANH MỤC HÌNH
STT
Số hiệu
Tên hình
Trang
1
1.1
Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động
du lịch
11
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, du lịch đã trở thành nhu
bình quân 20%/năm, đời sống của cán bộ, nhân viên các khu du lịch ngày
càng được nâng lên, thu hút hàng ngàn lao động hàng năm, giúp tiêu thụ các
mặt hàng nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ, giúp phục hồi và phát triển các
nghề truyền thống, góp phần làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội, nâng cao
dân trí và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương. Chính vì vậy,
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 - 2015
và Nghị số 09/NQ-HU, ngày 31/3/2011 của Huyện ủy Ba Vì đã xác định rõ
mục tiêu: Phát triển dịch vụ du lịch Ba Vì trở thành ngành kinh tế trọng điểm
của huyện, đến năm 2015 đạt 2,5 - 2,6 triệu lượt khách du lịch, doanh thu đạt
200 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định tại chỗ cho 3.500 lao động, thu hút trên
10.000 lao động ở các địa phương lận cận đến kinh doanh trong mùa du lịch
tại các khu du lịch của huyện.
Để thực hiện mục tiêu trên, cần có những đánh giá cụ thể về tiềm năng,
hiện trạng phát triển kinh tế du lịch tại địa phương, từ đó xác định hướng phát
triển và giải pháp cho sự phát triển ngành kinh tế này.
Vậy, thực trạng kinh tế du lịch ở Ba Vì ra sao? Giải pháp nào để phát
huy tiềm năng thế mạnh của địa phương cho việc phát triển kinh tế du lịch ở
ba Vì, Hà Nội là câu hỏi cần được quan tâm giải đáp. Chính vì lẽ đó, tác giả
lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên. 4
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế du lịch, những lý
luận chung về kinh tế du lịch đã được công bố. Đây là nguồn tài liệu quý giá
và hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu. Một số công trình điển hình
như:
* Nhóm công trình nghiên cứu lý luận
- Đổng Ngọc Minh - Vương Lôi Đình: Kinh tế du lịch và du lịch học - Nhà
gắn với một địa phương cụ thể, trong những giai đoạn cụ thể.
* Công trình nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch Ba Vì
Công trình của tác giả Hoàng Văn Hùng:“Thực trạng phát triển kinh
doanh du lịch huyện Ba Vì những vấn đề nổi cộm - Phương hướng và giải
pháp thực hiện”, Đề tài nghiên cứu tại lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du
lịch, ngành Du lịch Hà Tây, 2004. Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến
những vấn đề lý luận cơ bản, những vấn đề thực tiễn của quá trình phát triển
kinh tế du lịch nói chung cũng như ở một số địa phương nói riêng. Đây là
nguồn tư liệu tham khảo rất có ý nghĩa trong việc thực hiện đề tài luận văn.
Các công trình nghiên cứu đã công bố trên đã làm rõ ở những khía cạnh
khác nhau về kinh tế du lịch và vấn đề phát triển kinh tế du lịch trên phương
diện lý thuyết và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung
nghiên cứu sâu và có hệ thống về phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội,
theo cách tiếp cận kinh tế chính trị, gắn với nội hàm phát triển và những tiêu
chí đánh giá sự phát triển đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
6
Vận dụng và hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch,
luận phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà
Nội. Từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế du lịch Ba Vì theo hướng
phát triển bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Khái quát và hệ thống hóa và hoàn thiện thêm cơ sở lý luận và tìm hiểu
kinh nghiệm thực tiễn của vấn đề phát triển kinh tế du lịch ở một số địa
phương.
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà Nội.
Từ đó đánh giá những thành công, hạn chế và các nhân tố tác động đến trong
nghiên cứu theo cách tiếp cận kinh tế chính trị. Vấn đề nghiên cứu gắn với
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, gắn với
những biến động về môi trường kinh tế, xã hội, vấn đề hội nhập kinh tế quốc
tế.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: Nghiên cứu về sự phát triển của các doanh nghiệp
kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì - Hà Nội
* Phạm vi thời gian: từ năm 2008 - nay.
6. Một số đóng góp mới của luận văn
- Hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch: nội dung và
những tiêu chí đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch.
8
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở
Ba Vì, Hà Nội từ năm 2008, đến nay: những thành tựu, bất cập trong sự phát
triển và nguyên nhân của tình hình.
- Đề ra giải pháp có thể vận dụng vào phát triển kinh tế du lịch ở địa
phương trong thời gian tới, gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập
kinh tế của địa phương và Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội
Chương 3. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế du
lịch huyện Ba Vì
Ở phương Tây, vào những năm cuối của thế kỉ XIV đã có nhiều quan niệm
khác nhau về du lịch. Có quan niệm cho rằng du lịch là một ngành công
nghiệp, đó là ngành “công nghiệp mẹ”, một ngành công nghiệp then chốt. Sự
phát triển về du lịch có tác động to lớn tới tất cả các ngành kinh tế của một
quốc gia. Nhưng cũng có quan niệm cho rằng du lịch là một hoạt động kinh tế
nhằm phục vụ khách nước ngoài, là một ngành kinh doanh, kinh doanh các
danh lam của đất nước, đối tượng tham quan là khách nước ngoài.
10
Đến đầu thế kỉ XX, du lịch vẫn còn là hoạt động dành riêng cho những
người khá giả, họ đi du lịch là để hưởng ngoạn, giải trí. Và sau đó hoạt động
này ngày càng thu hút được sự tham gia của hầu hết các tầng lớp xã hội khác
nhau.
Ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với cuộc
sống hàng ngày của hàng triệu người. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì
năm 2000 số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người với doanh
thu đạt được là 467 tỷ USD; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt với
doanh thu 474 tỷ USD; dự tính đến năm 2010 sẽ có khoảng 1006 triệu lượt
khách du lịch với doanh thu khoảng 900 tỷ USD.[8, tr 50]
Mặc dù vậy, hiện nay khi đề cập đến du lịch, không ít người lầm tưởng
rằng: du lịch là những kì nghỉ hè với những bãi biển đầy người, các sân bay
hay các đoàn xe du lịch vòng quanh các phố phường… Do đó, việc xây dựng
quan niệm và hiểu biết đúng đắn về ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch nhằm đáp ứng một
cách đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người.
Theo Hội liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch thì: “Du lịch là sự
tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của
những người không định cư dẫn tới. Số người này không định cư lâu dài, và
lại cũng không làm bất kì hoạt động nào để kiếm tiền”.[16,tr 241]
Trong tuyên ngôn Manila (1980) của tổ chức du lịch Quốc tế thì du lịch
được xem là: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích thực hiện sự
điều hành.
12
Khác với các định nghĩa trên, định nghĩa về du lịch của Michael Coltman
lại rất ngắn gọn như sau:“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân
tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ
du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi tiếp đón du lịch”.[10, tr 18]
Mối quan hệ đó có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động du lịch [6,tr 28]
Tháng 6 năm 1991 tại Otawa, Canađa, Hội Nghị Quốc Tế về thống kê du
lịch đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một
khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy điịnh trước,
mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền
trong phạm vi vùng tới thăm”. [10, tr19]
Định nghĩa trên đã quy định rõ các điểm sau:
- Ngoài “môi trường thường xuyên”, nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong
phạm vi nơi ở thường xuyên, các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng
ngày, các chuyến đi thường xuyên có định kì tổ chức phường hội giữa nơi ở
và nơi làm việc, và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên
hàng ngày.
Du khách
Nhà cung
ứng dịch vụ
Dân cư
sở tại
Chính quyền địa
phương nơi đón
khách du lịch
13
- “Khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
khoảng thời gian nhất định”.
Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm
các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch
vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn
uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch. Các
hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho
nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. [8,tr 45]
Tóm lại, cùng với sự phát triển, con người ngày càng có nhu cầu đươc
nghỉ ngơi, hưởng thụ nhiều hơn các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội để
hoàn thiện phát triển chính mình. Du lịch xuất hiện được coi là một trong
những hình thức nghỉ ngơi tích cực phổ biến nhất và nó ngày càng trở thành
một bộ phận không thể tách rời với đời sống con người, góp phần quan trọng
làm cho con người khoẻ mạnh, nâng cao đời sống tinh thần, mở mang tầm
hiểu biết.
* Kinh tế du lịch
Hoạt động du lịch ban đầu chỉ mang tính chất cá nhân lẻ tẻ, dần dần nó trở
nên phổ biến hơn và đa dạng hơn về hình thức. Đi du lịch không chỉ dừng lại
ở hình thức cá nhân riêng lẻ mà tiến đến nhóm người, tập thể người; không
gian du lịch đồng thời được mở rộng ra trong phạm vi từng lãnh thổ và giữa
các lãnh thổ với nhau. Yêu cầu đối với việc tổ chức các chuyến đi ngày càng
phức tạp hơn, du khách cần có các tổ chức với tư cách là trung gian trong
chuyến đi của mình để thực hiện các hoạt động như bố trí phương tiện đi lại,
15
chỗ ăn nghỉ, hướng dẫn tham quan…từ đó các tổ chức kinh tế du lịch đã ra
đời. Lúc này hoạt động du lịch không còn là hiện tượng mang tính chất cá
nhân, lẻ tẻ mà đã trở thành một hoạt động mang tính chất kinh doanh, hoạt
động kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội các nhu cầu về nghỉ ngơi, vui
chơi giải trí, giao lưu văn hoá và mở mang kiến thức của con người ngày càng
Thứ nhất: Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù, nền kinh
tế quốc dân bao gồm tổng hợp các ngành nghề, những lĩnh vực khác nhau hợp
thành, trong đó kinh tế du lịch là một bộ phận, một ngành kinh tế. Đây là loại
hình kinh tế mang tính đặc thù, thể hiện ở chỗ nó mang tính dịch vụ - cung
cấp các sản phẩm mang tính du lịch thoả mãn nhu cầu khách du lịch. Sản
phẩm du lịch này như đã nói ở trên là một loại sản phẩm đặc biệt, tuyệt đại đa
số sản phẩm của ngành kinh tế du lịch không biểu hiện dưới hình thái vật chất
mà là sản phẩm vô hình, biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ khác nhau. Hàng
hoá trao đổi giữa hai bên trong ngành kinh tế du lịch không phải là vật cụ thể.
Đối với du khách, lợi ích đem lại là sự cảm giác, thể nghiệm, hoặc hưởng thụ.
Sự trao đổi sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên tiến hành không làm thay
đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không
xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách có quyền chiếm hữu tạm thời sản
phẩm du lịch do nơi du lịch cung cấp. Với cùng một sản phẩm du lịch, bên
cung có thể bán được nhiều lần, cho nhiều du khách khác nhau. Quá trình
mua bán sản phẩm du lịch thì chỉ có quyền sử dụng được trao đổi tạm thời,
còn quyền sở hữu trước sau vẫn nằm trong tay người kinh doanh. Đây chính
là đặc điểm cơ bản đặc thù của sự vận hành kinh tế du lịch. Từ tính đặc thù
của các sản phẩm du lịch, mà người ta gọi kinh tế du lịch với cái tên “ngành
17
công nghiệp không khói”. Nó là một ngành công nghiệp vì nó là toàn bộ
những hoạt động nhằm khai thác của cải của du lịch nhằm biến các tài
nguyên, nhân lực, tiền vốn, nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm. Nhưng
coi nó là ngành công nghiệp không khói vì các sản phẩm du lịch mà nó cung
cấp thường không gắn liền với các công xưởng, nhà máy, xí nghiệp mang tính
sản xuất vật chất. Kết quả “sản xuất” là tạo ra những sản phẩm du lịch không
biểu hiện bằng hiện vật cụ thể mà là sự thoả mãn và hưởng thụ nhiều hơn về
tinh thần, là quá trình du lịch hoàn chỉnh một lần trong đó bao gồm nhiều loại
dịch vụ do nơi du lịch cung cấp.
Khẳng định kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế (hay một lĩnh vực kinh
thác các tài nguyên và cảnh quan đất nước. Đó là các tài nguyên du lịch thiên
nhiên (đất đai, khí hậu, sông suối, rừng núi ); tài nguyên du lịch nhân văn
(các di tích cổ, kiến trúc cổ, âm nhạc, hội hoạ, ẩm thực, tôn giáo…). Đây là
những sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
thực hiện các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ du lịch, thu hút
ngoại tệ góp phần quan trọng vào tăng thu nhập quốc dân cho đất nước.
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch cũng có những đặc điểm chung, giống như những ngành
kinh tế khác. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù, nên kinh tế du lịch có những
đặc điểm khác biệt.
* Tính nhạy cảm
So với các ngành kinh tế khác thì ngành kinh tế du lịch có tính nhạy cảm
hơn. Do ngành kinh tế du lịch gồm nhiều bộ phận tạo thành nên trong quá
trình cung cấp dịch vụ đối với du khách nhà cung ứng cần bố trí chính xác về
thời gian, có kế hoạch chu đáo chi tiết về nội dung các hoạt động, cần phải kết
19
hợp một cách hữu cơ, liên hệ chặt chẽ giữa các khâu đi lại, du ngoạn, ăn ở,
vui chơi, giải trí, mua sắm… Giả sử một khâu nào đó không tuân thủ quá
trình thì có thể gây ra hàng loạt phản ứng dây chuyền làm mất sự phối hợp
nhịp nhàng trong cơ cấu tổ chức, ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ du
lịch.
Mặt khác các nhân tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội đều có ảnh
hưởng đến ngành kinh tế du lịch như chiến tranh, nạn động đất, khủng bố
kinh tế, đại dịch SAR hay nạn dịch cúm AH5N1…đều ảnh hưởng lớn, gây
cản trở đối với sự phát triển của du lịch.
Do đó, để khắc phục được tính “nhạy cảm” này, ngành kinh tế du lịch cần
phải chủ động để có được chiến lược đúng đắn trong hoạt động của mình.
* Tính thời vụ
Do ảnh hưởng của các yếu tố địa lí tự nhiên, thời tiết khí hậu nên du lịch
hầu hết đều mang “tính thời vụ” đặc trưng.
phận sản xuất tư liệu vật chất, và một số bộ phận sản xuất tư liệu phi vật chất
(văn hóa, giáo dục, tôn giáo, khoa học kĩ thuật, hải quan, tài chính, bưu điện).
Nắm được đặc điểm tổng hợp của ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa thực tế
vô cùng quan trọng đối với việc quản lí kinh doanh của các ngành. Các bộ
phận trong ngành kinh tế du lịch không chỉ có đặc tính hướng đích thông qua
nút “thỏa mãn nhu cầu của du khách” mà còn liên hệ chặt chẽ với nhau. Bất
cứ hành vi chậm trễ hoặc bỏ lỡ dịp của bất kì bộ phận nào cũng sẽ ảnh hưởng
tới số lượng du khách du lịch. Do vậy, các bộ phận trong ngành kinh tế du
lịch phải hỗ trợ lẫn nhau và cần thiết triển khai kinh doanh liên hợp. Nếu các
doanh nghiệp du lịch theo đuổi lợi ích cục bộ, không phối hợp nhịp nhàng thì