STT Tên Phân công công
việc
Phân
loại
Ghi chú
1. Phạm Thanh Hương
2. Đoàn Thị Phương
Anh
3. Vũ thị Vân Anh
4. Đàm Thị Bích
5. Phạm Thị Chi
6. Phạm Văn Chinh
7. Nguyễn Đức Chiến
8. Phùng Gia Chiến
9. Nguyễn Cao Cường
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch đã ra đời từ rất lâu. Trong đó loại hình du lịch đền chùa cũng đã tồn
tại trong đời sống tâm linh của người Việt Nam từ rất xa xưa. Tuy nhiên, trước
đây, người ta chỉ quan niệm, đi đền chùa là để cầu may, cầu lộc... là để thoả mãn
đời sống tâm linh của mình. Trong thời gian gần đây, đền chùa mới được coi là
một điểm du lịch, việc đi đền đi chùa không còn là thuần tuý chỉ là khấn vái, cầu
may mà còn đồng nghĩa với việc đi du lịch. Do vậy, tuy du lịch đền chùa không
còn là mới nhưng hiện nay nó mới thực sự mang dáng dấp của một ngành du
lịch, mới được quan tâm phát triển và trùng tu tôn tạo. Đặc biệt, cùng với việc
mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, vấn đề cải tạo đền chùa ra sao, quy hoạch
như thế nào cho hợp lý... cần được quan tâm nhiều hơn nữa.
Vì vậy, với bài thảo luận mang chủ đề: “Định hướng phát triển loại hình du
lịch đền chùa tại Hà Nội mở rộng”, nhóm em muốn đưa một cái nhìn mới về loại
hình du lịch đền chùa đồng thời cũng xin góp một số ý kiến để phát triển loại
hình này hơn nữa.
Do việc tìm hiểu còn hạn chế, bài viết còn nhiều sơ suất, rất mong được cô góp ý
b) Du lịch văn hóa : thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là
truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật… của điểm
đến. Họ sẽ viếng thăm các viện bảo tàng, nghỉ tại các quán trọ đồng quê, tham
dự các lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của
địa phương.
c) Du lịch xã hội: hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với
những người khác là quan trọng nhất.
d) Du lịch hoạt động: Thu hút du khách bằng một hoạt động được xác định
trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kì nghỉ của họ.
Một số du khách muốn thực hành và hoàn thiện vốn ngoại ngữ của mình khi
đi du lịch nước ngoài, một số lại muốn thám hiểm khám phá cấu tạo địa chất
của một khu vực nhất định.
e) Du lịch giải trí: Nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn để phục hồi thể lực và
tinh thần cho con người. Loại hình này thu hút những người mà lý do chủ
yếu của họ đối với một chuyến đi nghỉ là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ.
f) Du lịch thể thao: Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất,
sức khỏe. Tham gia chơi các môn thể thao như: quần vợt, đánh gôn, bóng
chuyền bãi biển, lướt sóng …..
g) Du lịch chuyên đề: Liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng
một mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ,
thu hút những người kinh doanh, sinh viên thực tập, nghiên cứu.
h) Du lịch tôn giáo: Thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người
theo các đạo phái khác nhau. Đây là loại hình du lịch lâu đời nhất và vẫn còn
phổ biến đến ngày nay.
i) Du lịch sức khỏe: hấp dẫn những người tìm kiếm cơ hội cải thiện điều kiện
thể chất của mình. Nơi điển hình là các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi
cao hoặc ven biển,các điểm có suối nước nóng hoặc nước khoáng.
j) Du lịch dân tộc học: Đặc trưng hóa cho những người quay trở về nơi quê cha
đất tổ tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của quê hương, dòng dõi gia đình hoặc tìm
kiếm khôi phục các truyền thống văn hóa bản địa.
c) Du lịch khác thường: bao gồm những du khách không giàu có như tầng lớp
thượng lưu, họ thích đến những nơi xa xôi hoang dã, quan tâm đến những nền
văn hóa sơ khai hoặc tìm kiếm những phần bổ sung thêm trong một tour tiêu
chuẩn.
d) Du lịch đại chúng tiền khởi: Một dòng khách du lịch ổn định đi theo nhóm
nhỏ hoặc cá nhân đến những nơi an toàn, phổ biến, khí hậu phù hợp. Đây là
sự mở đầu và phát sinh hình thức du lịch đại chúng sau này.
e) Du lịch đại chúng: Một lượng lớn khách du lịch tạo thành dòng chảy liên tục
tràn ngập các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu âu hoặc Hawaii vào các mùa du
lịch. Loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển du lịch
ở các quốc gia gửi khách lẫn các quốc gia đón khách các điểm đến du lịch.
f) Du lịch thuê bao: Đây là loại hình du lịch phát triển rộng rãi, thị trường phát
triển đến các tầng lớp có thu nhập trung bình và thấp nên có dung lượng lớn.
nó hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động thương mại trong kinh doanh du
lịch.
1.3 Sự biến đổi các loại hình du lịch.
Ý nghĩa của các động cơ và loại hình du lịch có sự khác nhau và biến đổi
theo thời gian. Với từng thời kỳ khác nhau thì loại hình du lịch có sự thay đổi
khác nhau. Loại hình du lịch thay đổi theo các thời kỳ sau.
Trước thế kỷ XVIII, rất ít khách du lịch vì mục đích giải trí, đa số họ đi vì
mục đích thương mại, hành hương hoặc các mục đích tín ngưỡng học tập và chữa
bệnh.Ở La Mã cổ đại và trung đại, du lịch giải trí hạn chế trong các chuyến tham
quan trong ngày với khoảng cách ngắn để tham dự các hoạt động như hội chợ, kễ
hội thể thao hoặc giải trí tiêu khiển. vì vậy nhu cầu giải trí và tiêu khiển thường ở
mức độ ít và sơ khai.
Trong thế kỷ XVIII, các chuyến đi du lịch hảo hạng ở Châu Âu trở nên
thịnh hành và mốt. Khách tham gia vào vhuyến đi này thuộc tầng lớp thượng lơu
va trẻ tuổinhằm mục đích giáo dục và giải trí. Tuy nhiên phần chủ yếu trong du
lịch này vẫn là mục đích thương mại.Chủ yếu những chuyến đi này thường được
nhà nước hoặc các nàh buôn lớn đài thọ nhằm giảm bớt sự rủi ro mạo hiểm trong
dương...dần dần trở nên phổ biến.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH ĐỀN CHÙA Ở HÀ NỘI MỞ
RỘNG
2.1. Thực trạng chung
Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải
rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét
tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh
thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người
có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân
độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày
hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với
hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về
truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với
làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống
cộng đồng nhân dân.
Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng
nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò
vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như:
thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam
Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v...ở các lễ hội
của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất.
Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa
khiên, ném lao, đấu gậy.
Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã
hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu...
Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là
một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã.
Ngày xuân, người ta thường đi chơi đông hơn bình thường. Kẻ đi xa, người
đi gần, trang phục lộng lẫy, hân hoan phấn khởi làm cho không khí đầu xuân
Vì hầu hết những ngôi chùa đều đã được xây dựng từ rất lâu nên đã dần bị xuống
cấp và cần được tu bổ, nhưng trong quá trình tu bổ các nhà quản lý đã không chú