Một số vấn đề về thanh toán bù trừ của Ngân hàng công thương khu vực Ba Đình - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc là phơng hớng
chiến lợc trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xớng và tổ chức thực hiện.
Những vấn đề về tài chính, tiền tệ, Ngân hàng đợc coi là một trong những
công cụ mạnh mẽ để thực hiện quản lý vĩ mô của Nhà nớc trong hoạt động
Ngân hàng, đợc coi là mũi nhọn đột phá cho nền kinh tế phát triển. Hoạt
động Ngân hàng với chức năng là trung tâm tiền tệ - tín dụng, thanh toán bao
trùm lên mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Do vậy một sự thay đổi nhỏ
nào của Ngân hàng cũng đều có tác động đến sự phát triển của nền kinh tế.
Một trong những lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng có tác động mạnh mẽ
nhất đối với nền kinh tế đó là nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt nói
chung và thanh toán bù trừ nói riêng. Phơng thức thanh toán này là phơng
thức thanh toán truyền thống ở các nớc trên thế giới nhng mới đợc áp dụng ở
Việt Nam trong một vài năm gần đây.
Thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những nghiệp vụ quan
trọng của Ngân hàng, trực tiếp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc, nên những năm qua đi đôi với với việc cải tiến đổi mới mô hình
tổ chức, cơ chế nghiệp vụ, ngành Ngân hàng đã tập trung cải tiến chế độ
thanh toán không dùng tiền mặt, thể hiện qua Nghị quyết số 22/QĐ-NH1
ngày 20 tháng 2 năm 1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và
Nghị quyết số 30/CP ngày 9 tháng 5 năm 1996 của chính phủ. Thông t số
07/TT - NH1 ngày 27 tháng 12 năm 1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam.
Tham gia thanh toán bù trừ có thể là các tổ chức tín dụng, các Ngân
hàng thơng mại hoặc kho bạc Nhà nớc là thành viên, trong đó Ngân hàng
Nhà nớc làm chủ trì. Phơng pháp này đang đợc áp dụng phổ biến đối với các
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngân hàng không chỉ ở thành phố Hà Nội thủ đô của cả nớc mà còn đợc áp

1. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt đối với nền kinh tế
quốc dân.
Trong một xã hội nền sản xuất hàng hoá là cơ sở để đánh giá mức độ
phát triển của xã hội. Một xã hội phát triển thì trớc hết nền sản xuất hàng hoá
phải phát triển. Muốn vậy quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá phải thuận
lợi, nhanh chóng. Quá trình này đợc thể hiện thông qua mối quan hệ chặt chẽ
giữa hàng hoá và tiền tệ. Sự biến đổi hình thái hàng hoá ở khâu mua hàng gắn
liền với sản xuất và lu thông hàng hoá, đồng thời nó còn thể hiện mối quan
hệ thanh toán giữa ngời mua và ngời bán. Nh vậy thanh toán là một khâu rất
quan trọng trong quá trình lu thông hàng hoá.
Thanh toán tiền tệ thông qua NHTM bao gồm thanh toán bằng tiền và
thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán bằng tiền mặt là việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
trong quan hệ chi trả lẫn nhau về hàng hoá, lao vụ. Trong thanh toán bằng
tiền mặt không có sự tách biệt về không gian và thời gian giữa sự vận động
của vật t hàng hoá và tiền tệ. Nó đợc thực hiện trên cơ sở trực tiếp giữa các
bên mua và bán không qua một khâu trung gian nào khác, ngời mua nhất
thiết phải có trong tay một lợng tiền mặt tơng đơng với giá trị của vật t hàng
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoá hay lao vụ đợc mua bán thì ngời bán mới chấp nhận giao hàng hay cung
ứng lao vụ.
Thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng là chỉ các nghiệp vụ
chi trả về hàng hoá dịch vụ và việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thông qua
việc trích chuyển tài khoản trong hệ thống Ngân hàng hoặc bù trừ công nợ
mà không phải sử dụng đến tiền mặt.
Trớc tình hình đó cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng đã
cho ra đời một hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Ngày 22 tháng 2
năm 1994, Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc đã thông qua Quyết định 22/QĐ-
NH1 ban hành thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt và Thông t 08/TT-NH2

không những là phơng thức sử dụng tiền hợp lý mà còn là công cụ quan trọng
trong tay Nhà nớc để tổ chức lãnh đạo và quản lý kinh tế có kế hoạch.
Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho quá trình tái sản
xuất liên tục bình thờng, nó có tác dụng làm tăng tốc độ luân chuyển vật t
hàng hoá, tăng tốc độ luân chuyển vốn trên cơ sở đó tăng nhanh nhịp độ tích
luỹ xã hội, từ đó thúc đẩy nền sản xuất và quá trình tái sản xuất lu thông sản
phẩm xã hội. Hơn nữa, thanh toán không dùng tiền mặt giữa các địa phơng
giảm bớt chi phí lu thông và an toàn cho khối lợng tiền đó. Công tác không
dùng tiền mặt có phạm vi rộng lớn, nó áp dụng cho mọi đối tợng, mọi thành
phần kinh tế, chính vì vậy mà nó đóng góp một phần quan trọng làm tăng khả
năng nguồn vốn năng động của Ngân hàng vì cơ sở tiến hành thanh toán
không dùng tiền mặt chính là số d trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, đồng
thời nó cũng hình thành nên nguồn vốn huy động của Ngân hàng thơng mại.
Nh vậy làm tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt là một trong
những cơ sở cho sự ổn định tiền tệ, giải quyết nạn kẹt tiền trong nền kinh tế,
làm cho lu thông hàng hoá đợc thực hiện trôi chảy, từ đó thúc đẩy hàng hoá
phát triển, đồng thời nó làm tăng vốn đầu t cho nền kinh tế và phát huy vai
trò kiểm soát bằng đồng tiền của Ngân hàng đối với nền kinh tế. Do vậy
thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phải đợc phát huy vai trò to lớn
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là một trọng trách thuộc về
Ngân hàng - trung gian thanh toán của nền kinh tế.
1.3. Vai trò của Ngân hàng trong việc tổ chức thanh toán không dùng tiền
mặt phục vụ hoạt động nền kinh tế.
Hiện nay việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt do các Ngân
hàng thơng mại đảm nhiệm nhng phải đặt dới sự kiểm tra, giám sát của Ngân
hàng Nhà nớc. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia và góp phần vào
sự nghiệp chung của nền kinh tế nớc nhà, việc tổ chức thanh toán giữ một vai
trò quan trọng và có ý nghĩa rất lớn, đó chính là vai trò trung gian thanh toán

lớn càng có khả năng cho vay, ngợc lại cho vay càng nhiều thì lãi thu đợc
càng lớn khiến nguồn vốn lại có điều kiện bổ sung và phát triển. Đồng thời
thực hiện tất cả hai nghiệp vụ nợ và có lại qua nghiệp vụ trung gian thanh
toán. Ngân hàng có điều kiện tập trung trong tay những khoản tiền nhàn rỗi
để tạo nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn ngày một tăng. Chính vì vậy
thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán Ngân hàng sẽ có điều kiện phát triển hoàn
thiện các nghiệp vụ tín dụng nâng cao hiệu quả kinh tế cho Ngân hàng.
Đối với Nhà nớc, Ngân hàng là một tổ chức kinh tế thực hiện, thực thi
các chính sách về tiền tệ, tín dụng thanh toán, là cơ quan tổ chức, điều hoà lu
thông tiền tệ.
2. Những quy định chung về thanh toán không dùng tiền mặt
qua Ngân hàng.
2.1. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt :
Thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là bút
tệ.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của thanh toán không dùng tiền mặt. Việc
thanh toán đợc thực hiện bằng cách trích tiền từ tài khoản của ngời trả tiền
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chuyển vào tài khoản của ngời thụ hởng tại Ngân hàng, kho bạc Nhà nớc,
hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau.
- Trong thanh toán không dùng tiền mặt, mỗi khoản thanh toán có ít
nhất 3 bên tham gia, đó là : ngời trả tiền, ngời nhận tiền và các trung gian
thanh toán.
Ngời trả tiền có thể là ngời mua hàng, ngời nhận dịch vụ, ngời nộp
thuế, trả nợ hoặc là ngời chuyển nhợng một khoản tiền nào đó do
thiện chí cho ngời khác hay do luật định. Ngời trả tiền đóng vai trò
quyết định trong quá trình thanh toán. Có thể họ là ngời mở đầu
hoặc tiếp nối trong quá trình thanh toán đã đợc ngời nhận tiền khởi
xớng trớc. Ngời trả tiền có nhiệm vụ trả đúng hạn số tiền phải trả

2.2. Những quy định cơ bản về không dùng tiền mặt.
2.2.1. Tài khoản thanh toán.
Để tiến hành trích chuyển tài khoản, quy định đầu tiên là các chủ thể
thanh toán phải mở tài khoản tại một hay nhiều tổ chức tài chính trung gian,
các khách hàng (gồm các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, các đơn
vị vũ trang, công dân Việt Nam và ngời nớc ngoài hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam) đợc quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và đợc
thực hiện thanh toán, tài khoản phải luôn có đủ số d để thanh toán kịp thời và
đầy đủ cho ngời thụ hởng.
Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng và thực hiện thanh toán
qua tài khoản đợc ghi bằng đồng Việt Nam. Trờng hợp mở tài khoản và thanh
toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo quy chế quản lý ngoại hối của chính
phủ Việt Nam ban hành.
Ngoài ra, trong một số hình thức thanh toán còn đòi hỏi phải có hợp
đồng kinh tế hay đơn đặt hàng, các chủ thể tham gia thanh toán phải thực
hiện đúng theo những điều khoản đã ký trong hợp đồng kinh tế. Hợp đồng
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh tế hay đơn đặt hàng là cơ sở pháp lý để giải quyết khi xảy ra tranh chấp
trong quá trình thanh toán.
2.2.2. Tất cả những chứng từ thanh toán của các chủ thể thanh toán
đều phải lập trên mẫu in sẵn do Ngân hàng in và nhợng bán. Những chứng từ
đó phải đợc lập đủ niên, biết rõ ràng, không đợc tẩy xoá và phải nộp vào
Ngân hàng theo đúng quy định. Các Ngân hàng có quyền từ chối việc thanh
toán hoặc không tiếp nhận các giấy tờ thanh toán trong trờng hợp chủ thanh
toán vi phạm một trong các quy định của chế độ thanh toán hiện hành.
2.2.3. Trách nhiệm của Ngân hàng trong thanh toán không dùng tiền
mặt.
- Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của các chủ tài khoản (bên trả
tiền) phải đảm bảo an toàn chính xác, thuận tiện. Các Ngân hàng có trách

Sau Nghị định 53 của Chính phủ, hệ thống Ngân hàng nớc ta gồm 2
cấp đó là: hệ thống Ngân hàng Nhà nớc và hệ thống ngân hàng thơng mại.
Do có nhiều khách hàng mở tại các Ngân hàng khác nhau cùng, hoặc khác hệ
thống nên việc thanh toán cho nhau sẽ liên quan đến các ngân hàng phục vụ
đôi bên mua bán. Các ngân hàng có liên quan này phải hoàn thiện việc thanh
toán tiền của khách hàng cho nhau. Bởi vậy cần thiết phải thực hiện nghiệp
vụ thanh toán giữa các ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán giữa
các ngân hàng, các ngân hàng liên quan không những phải tiếp tục hoàn
thành quá trình thanh toán cho khách hàng mà còn phải thanh toán vốn cho
nhau một cách sòng phẳng. Với các lý do đó nó quyết định sự tồn tại của
thanh toán qua lại giữa các ngân hàng.
Trong quá trình mua bán hàng hoá của doanh nghiệp, các cá nhân,
Ngân hàng đảm nhiệm khâu thanh toán thì mỗi ngân hàng đều là một trung
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
gian, thu hộ, chi hộ cho khách hàng rồi thực hiện thanh toán với nhau. Nhng
mỗi ngân hàng là ngời đồng thời vừa thu hộ vừa chi hộ nên doanh số thanh
toán đợc bù trừ cho nhau. Số chênh lệch cuối cùng của mỗi chu kỳ giao dịch
đối với mỗi ngân hàng là một khoản nợ hoặc khoản đợc thu thực sự phải
thanh toán sau khi bù trừ, đó chính là cơ sở để phát sinh hệ thống thanh toán
bù trừ. Trong điều kiện nền sản xuất hàng hoá càng phát triển khối lợng
thanh toán giao dịch của các doanh nghiệp ngày càng lớn kéo theo khối lợng
vốn mà các ngân hàng phải thanh toán cho nhau ngày càng lớn. Do vậy cần
thiết phải áp dụng hình thức thanh toán bù trừ nhằm đảm bảo hiệu quả cao
trong công tác thanh toán.
Trong phơng thức này có ngân hàng thành viên có quan hệ phải thu
hay phải trả lẫn nhau không thực hiện thanh toán trực tiếp từng món cho nhau
mà chỉ thanh toán số chênh lệch cuối cùng mà ngân hàng mình phải trả hay
đợc thu do Ngân hàng chủ trì đa ra trên cơ sở tổng hợp trên số bù trừ cho
từng ngân hàng với các ngân hàng khác có liên quan. Nh vậy cách thanh toán

tín nhiệm của ngân hàng mình với ngân hàng khác trong thanh toán bù trừ,
thanh toán kịp thời sòng phẳng số chênh lệch thanh toán với ngân hàng chủ
trì. Theo nguyên tắc tổ chức kỹ thuật nghiệp vụ của thanh toán bù trừ giữa
các ngân hàng (ban hành theo QĐ181 NH-QĐ ngày 10/10/1991 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nớc) tất cả các Ngân hàng thành viên tham gia thanh
toán bù trừ phải có các điều kiện và thực hiện đúng quy định sau:
- Phải có tiền gửi tại Ngân hàng chủ trì thanh toán bù trừ.
- Phải tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ các quy tắc, tổ chức trong kỹ
thuật về nghiệp vụ thanh toán bù trừ nh:
- Phải có văn bản đề nghị thanh toán bù trừ và cam kết chấp hành đúng
quy định trong thanh toán bù trừ.
+ Phải có văn bản giới thiệu các cán bộ chịu trách nhiệm trực tiếp giao
nhận chứng từ và làm thủ tục thanh toán trong thanh toán bù trừ. Những ngời
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trực tiếp đến giao nhận, làm thủ tục thanh toán phải giới thiệu chữ ký của
mình với ngân hàng chủ trì với ngân hàng thành viên khác.
+ Phải thực hiện đúng giờ giấc đến giao nhận chứng từ với nhân hàng
thành viên khác theo quy định chung của ngân hàng chủ trì.
+ Phải lập đúng, đầy đủ và kịp thời các giấy tờ và trong khi giao dịch
thanh toán bù trừ. Số liệu phải đảm bảo chính xác, rõ ràng đồng thời chịu
trách nhiệm về pháp lý đối với tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ và chính
xác của số liệu.
+ Phải thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và hạch toán trong thanh toán
bù trừ kể cả việc điều chỉnh các sai lầm trong hạch toán thanh toán bù trừ để
đảm bảo số liệu nhất trí giữa các ngân hàng thành viên có liên quan và ngân
hàng chủ trì.
+ Ngân hàng chủ trì chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả thanh toán của
các ngân hàng thành viên và thanh toán số chênh lệch trong thanh toán bù
trừ.

thành viên đối phơng.
Sau khi xếp song chứng từ thanh toán bù trừ tiến hành nhập số liệu
chứng từ vào máy tính.
+ Kiểm tra tính chính xác của số liệu: Thực hiện bớc kiểm tra bằng ch-
ơng trình và chấm bảng kê do máy in, in ra để phát hiện sai sót. Nếu phát
hiện sai sót thì căn cứ vào chứng từ để sửa lại cho chính xác.
+ Ghép qua liên hàng: Với các ngân hàng thành viên thanh toán bù trừ
có liên quan đến phần liên hàng thì các số liệu liên hàng liên quan đến thanh
toán bù trừ đợc ghép vào số liệu thanh toán bù trừ đi.
Chuyên đề tốt nghiệp Ngô Tôn Sơn - Khoá : 25 C
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ In bảng kê thanh toán bù trừ mẫu số 12 và14: Bảng kê mẫu số 12 đ-
ợc lập cho từng ngân hàng thành viên đối phơng và theo từng vế nợ riêng, có
riêng. Mỗi bảng kê mẫu số 12 đợc in làm hai liên. Bảng kê mẫu số 14 đợc lập
trên cơ sở tổng hợp các bảng kê mẫu số 12 ở cả hai vế nợ, có và lập cho tất cả
các ngân hàng thành viên đối phơng có liên quan. Mỗi bảng kê mẫu số 14 đ-
ợc in làm hai liên. Bảng kê này thể hiện số phải thu hay phải trả của ngân
hàng phát sinh nghiệp vụ với tất cả các ngân hàng thành viên đối phơng có
liên quan.
+ Gửi file thanh toán bù trừ đi đến trung tâm thanh toán bù trừ: có thể
copy file số liệu thanh toán bù trừ đi vào đĩa mềm để thanh toán viên mang
đến trung tâm thanh toán bù trừ hoặc chuyển qua mạng Modem đến trung
tâm thanh toán bù trừ. Trớc khi gửi file số liệu thanh toán bù trừ về trung tâm
thanh toán bù trừ phải kiểm tra lại file này gồm: Kiểm tra trên file, ngày
tháng, nội dung và hình thức của file để tránh trờng hợp nhầm lẫn hoặc file
gửi đến trung tâm thanh toán bù trừ không sử dụng đợc gây chậm trễ trong
quá trình thanh toán bù trừ tại trung tâm hoặc bị loại không đợc phép tham
gia phiên bù trừ đó.
+ Căn cứ vào các bảng kê mẫu số 12 tiến hành hạch toán vào tài khoản
thanh toán bù trừ của ngân hàng thành viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status