nghiên cứu về Windows Server 2003 và ứng dụng thực tiễn tại Chi nhánh Ngân hàng công thương khu vực Ba Đình - Pdf 10

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt:
- NHCTVN: Ngân hàng Công thương Việt Nam
- CNTT: Công nghệ thông tin
- TTCNTT: Trung tâm Công nghệ thông tin
- AD: Windows Server Active Directory
- MOM: Phần mềm quản trị vận hành máy chủ Microsoft Operations
Manager
- SMS: Phần mềm quản lý cấu hình máy chủ/máy trạm Microsoft
System Managerment Server
- OU: Organizational Unit (Đơn vị tổ chức)
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, công nghệ thông tin đã và đang đóng vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế, xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới, là một
phần không thể thiếu trong một xã hội ngày càng hiện đại hóa. Việc ứng
dụng các thành tựu CNTT ngày một rộng rãi và nó trở thành một nhu cầu tất
yếu hỗ trợ phát triển các công ty, doanh nghiệp... và rất nhiều các tổ chức
khác.
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong 4 Ngân hàng thương
mại Nhà nước lớn nhất Việt Nam, có hệ thống chi nhánh phân bố khắp tất cả
các tỉnh thành trên cả nước. Với một quy mô hoạt động lớn như vậy, hệ
thống thông tin của Vietinbank đã được đầu tư khá phức tạp và là cả một
quá trình liên tục đổi mới, phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Vietinbank cũng là ngân hàng đầu tiên ứng dụng công nghệ hiện đại và
thương mại điện tử đầu tiên tại Việt Nam. Được thực tập ở đây là một cơ hội
rất lớn của bản thân em để có thể học hỏi và vận dụng những kiến thức mà
em đã học được trên ghế nhà trường ra thực tế. Qua một thời gian tìm hiểu
hệ thống mạng cũng như những chính sách quản trị người dùng của hệ thống
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46

sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin và Trung tâm Đào tạo.
Ngân hàng Công thương Việt Nam còn là thành viên sáng lập ra
các tổ chức tín dụng:
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
4
- Sài Gòn Công thương Ngân hàng
- Indovinabank (Ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam)
- Công ty cho thuê Tài chính quốc tế - VILC (Công ty cho thuê Tài chính
quốc tế đầu tiên tại Việt Nam)
- Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á - NHCT.
Là thành viên chính thức của:
- Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA)
- Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (AABA)
- Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng (SWIFT)
- Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế.
Ngân hàng Công thương Việt Nam (NNCTVN) đã ký 8 Hiệp định
Tín dụng khung với các quốc gia Bỉ, Đức, Hàn quốc, Thụy Sĩ và có quan hệ
đại lý với 735 ngân hàng lớn của 60 quốc gia trên khắp các châu lục.
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
5
Ngân hàng Công thương Việt Nam được thành lập từ năm 1988, trên
cơ sở tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là một trong bốn Ngân
hàng Thương mại Nhà nước lớn nhất của Việt Nam, và được xếp hạng là
một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Việt Nam.
Hệ thống mạng lưới của NHCTVN gồm Trụ sở chính, hai Văn phòng
Đại diện, 2 Sở Giao dịch lớn (Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), 137 chi
nhánh, 150 phòng giao dịch, 425 điểm giao dịch và quỹ tiết kiệm, 400 máy rút
tiền tự động (ATM), Trung tâm Công nghệ Thông tin (tại Hà Nội), Trường
Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực (tại Hà Nội).
Các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Công thương Việt Nam:

hành chính, kế hoạch hóa sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình
quản lý Ngân hàng hai cấp (Ngân hàng Nhà nước – Ngân hàng thương mại)
lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong kinh doanh, các Ngân hàng tthương mại
Quốc doanh ra đời (Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương,
Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn). Trong bối cảnh chuyển đổi đó, Ngân hàng Ba Đình cũng đã được
chuyển đổi thành một chi nhánh Ngân hàng thương mại quốc doanh với tên
gọi Chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Ba Đình trực thuộc Ngân hàng
Công thương thành phố Hà Nội với hoạt động kinh doanh mang tính kinh
doanh thực sự, thông qua việc đổi mới phong cách giao tiếp, phục vụ, lấy lợi
nhuận làm mục tiêu kinh doanh, cùng với việc đa dạng hóa các loại hình
kinh doanh dịch vụ, khai thác và mở rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm
dịch vụ mới vào kinh doanh. Lúc này Ngân hàng Công thương Ba Đình hoạt
động theo mô hình quản lý Ngân hàng Công thương 3 cấp (Trung ương –
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
7
Thành phố - Quận). Với mô hình quản lý này, trong những năm đầu thành
lập (07/1988 – 03/1993), hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương
kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của một Ngân hàng
thương mại trên địa bàn thủ đô, do hoạt động kinh doanh phụ thuộc hoàn
toàn vào Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội, cùng với những khó
khăn và thử thách trong những năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế theo
đường lối đổi mới của Đảng. Trước những khó khăn và vướng mắc từ mô
hình tổ chức quản lý, cũng như cơ chế, bắt đầu từ 01/04/1993, Ngân hàng
Công thuơng Việt Nam thực hiện thí điểm mô hình tổ chức Ngân hàng Công
thương 2 cấp (Cấp trung ương – Cấp quận), xóa bỏ trung gian là Ngân hàng
Công thương thành phố Hà Nội, cùng với việc đổi mới và công tác tăng
cường cán bộ. Do vậy ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới
cơ chế hoạt động tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt

1. Các khái niệm về Active Directory
Dịch vụ thư mục:
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
10
Hệ thống mạng nội bộ đầu tiên xuất hiện trong những năm đầu 1990
được tổ chức thành một nhóm các máy tính và được gọi là workgroup (nhóm
làm việc). Một workgroup máy tính cho phép người dùng có thể phối hợp tốt
hơn trong cùng 1 dự án khi cần chia sẻ tài nguyên như các văn bản và máy
in. Và vì giá trị của việc sử dụng các hệ thống mạng dữ liệu ngày càng được
khẳng định trong thế giới kinh doanh, các hệ thống mạng cũng trở nên lớn
dần. Ngày nay một hệ thống mạng của các tổ chức doanh nghiệp thường có
hàng ngàn nút mạng.
Khi các hệ thống mạng ngày càng lớn dần, số lượng tài nguyên chia sẻ
cũng nhiều hơn, và do đó ngày càng khó khăn trong việc định vị và tìm kiếm
các tài nguyên. Một dịch vụ thư mục là một nguồn tài nguyên số hóa, mặc
dù có thể thực hiện những chức năng không giống nhau nhưng đều chứa một
danh sách tài nguyên có thể sử dụng trong một mạng dữ liệu.
Một dịch vụ thư mục có thể chứa các thông tin về các máy tính trong
mạng, các người dùng mạng và cả các thiết bị phần cứng, phần mềm. Bằng
cách lưu trữ trong thư mục trung tâm, các tài nguyên này có thể được tất cả
mọi người sử dụng ở mọi thời điểm.
Active Directory (AD) là một trong những dịch vụ thư mục quản trị
hệ thống (Network - focused directories) phổ biến nhất được phát triển kèm
theo hệ điều hành máy chủ Windows Server của tập đoàn Microsoft. AD có
thể nói là trung tâm quản lý hệ thống, quản lý hầu hết các tài nguyên, dịch
vụ trong hệ thống từ tài khoản người dùng, máy chủ, máy trạm, môi trường
làm việc đến các chính sách về hệ thống, chính sách an toàn bảo mật. Bên
cạnh đó, AD hỗ trợ các cơ chế cho phép sẵn sàng bắt tay với các ứng dụng
trên các nền hệ điều hành khác nhau.
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46

rộng cũng như tăng cường tính sẵn sàng và vững chắc cho hệ thống thông tin
của mình.
Hệ thống mạng Windows hỗ trợ 2 mô hình dịch vụ thư mục: workgroup
và domain (Miền) trong đó mô hình miền được ứng dụng trong các tổ chức
triển khai Windows Server 2003. Mô hình dịch vụ thư mục workgroup là
một CSDL phẳng bao gồm tên các máy tính và được thiết kế cho các mạng
nhỏ. Đây là hình thức dịch vụ thư mục sở khai được giới thiệu trong
Windows NT 3.1 những năm 1990.
Mô hình Miền là một kiến trúc thư mục có phân cấp của các tài nguyên –
Active Directory - và được sử dụng bởi tất cả các hệ thống là thành viên của
miền. Các hệ thống này có thể sử dụng các tài khoản người dùng, nhóm và
máy tính trong thư mục để bảo mật các tài nguuyên của chúng. Active
Directory do đó đóng vai trò như một trung tâm lưu trữ nhận thực, cung cấp
1 danh sách tin cậy chỉ ra “Ai là ai”trong miền.
Bản thân Active Directory còn hơn là một CSDL, nó chứa 1 danh sách
các thành phần hỗ trợ, bao gồm cả các transaction logs (nhật ký giao dịch)
và hệ thống dữ liệu hệ thống – còn gọi là Sysvol – nơi đấy chứa các thông
tin về các kịch bản đăng nhập và chính sách nhóm. Nó là dịch vụ hỗ trợ và
sử dụng các CSDL này, bao gồm giao thức Lightweight Directory Access
Protocol (LDAP – Giao thức truy nhập thư mục hạng nhẹ), giao thức bảo
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
13
mật Kerberos, các chu trình đồng bộ dữ liệu và dịch vụ đồng bộ file (File
Replication Service – FRS). Cuối cùng Active Directory là một bộ sưu tập
các công cụ mà người quản trị mạng có thể sử dụng để quản lý dịch vụ thư
mục.
Cơ sở dữ liệu của Active Directory và các dịch vụ của nó được cài đặt
trên một hay nhiều máy chủ quản trị miền. Một máy chủ quản trị miền là
một máy chủ đã được thăng cấp bằng cách chạy trình cài đặt Active
Directory (Active Directory Installation Wizard). Khi một máy chủ được

chỉ có 1 miền.
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
15
Khi quá trình cài đặt Active Directory có nhiều hơn 1 miền, một thành
phần của Active Directory gọi là Global Catalog cho phép các máy trạm
trong một miền có thể tìm kiếm thông tin trong một miền khác. Global
Catalog bản chất là một tập hợp các thông tin dữ liệu của tất cả các miền kết
hợp lại. Khi cần tìm kiếm một người dùng trong một miền khác, global
catalog có thể không chứa tất cả thông tin về người dùng đó nhưng nó đủ dữ
liệu để trả lời để người dùng có thể tìm kiếm được các thông tin chi tiết hơn
ở đâu.
Các đối tượng và thuộc tính
Mọi CSDL đều được tạo nên bởi các bản ghi và trong Active Directory ,
các bản ghi này được gọi là các đối tượng. Mọi đối tượng là một phần tử thể
hiện một tài nguyên mạng nhất định. Một Active Directory có thể chứa các
đối tượng thể hiện các tài nguyên vật lý, ví dụ như các máy tính và máy in,
hoặc các tài nguyên nhân sự, ví dụ như các người dùng và nhóm, hoặc các
tài nguyên phần mềm, ví dụ như các ứng dụng và vùng DNS, hoặc các tài
nguyên quản trị, ví dụ như các OU và các site. Sau khi thăng cấp một máy
tính thành máy chủ quản trị miền, người quản trị có thể tạo các đối tượng
tron miền đó.
Các đối tượng Active Directory được sử dụng thông dụng nhất là:
• Domain (miền): là một đối tượng gốc có chứa các đối tượng
khác trong miền.
• Organizational Unit (Đơn vị tổ chức): là một đối tượng chứa
(container object) được sử dụng để tạo ra các nhóm logic bao gồm
các đối tượng như máy tính, người dùng và nhóm.
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
16
• Người dùng: Thể hiện một người dùng mạng và thực hiện chức

Một trong các tác vụ khó nhất và phức tạp nhất trong việc quản trị Active
Directory là tạo ra kiến trúc phân cấp các OU sao cho hiệu quả nhất. Người
quản trị có thể sử dụng rất nhiều cách để thiết kế cấu trúc phân cấp OU như
theo phòng ban, theo chức năng…
Nhóm cũng là một đối tượng chứa nhưng nó không phải là một thành
phần của cấu trúc phân cấp bởi vì các thành viên của nhóm có thể nằm ở bất
kỳ đâu trong miền. Để thực hiện đúng chức năng tổ chức, các đối tượng
chứa đồng thời phải đóng vai trò quan trọng trong việc quản trị các đối
tượng. trong một hệ thống file các cấp phép được áp dụng trên các đối tượng
được truyền từ trên xuống dưới theo cấu trúc phân cấp. Đây là một trong
những tính năng cơ bản trong cấu trúc phân cấp mà người quản trị có thể áp
dụng một cách hiệu quả. Thay vì gán các quyền và cấp phép cho từng người
dùng, người quản trị có thể gán các quyền và cấp phép này cho các đối
tượng chứa và đối tượng người dùng trong nó sẽ được thừa hưởng các
Quyền và Cấp phép cần thiết.
2. Các chính sách nhóm
Do cách thức thừa hưởng các thiết lập từ đối tượng mức cha truyền
xuống mức con, người quản trị có thể sử dụng các OU để gom các đối tượng
cần cấu hình tương tự nhau. Các thiết lập mà cấu hình mà bạn áp dụng đến
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
18
từng máy tính chạy trong Windows cũng có thể được quản trị một cách tập
trung nhờ sử dụng một tính năng của Active Directory gọi là chính sách
nhóm (Group Policy). Các chính sách nhóm cho phép bạn xác định các
thiết lập bảo mật, triển khai phần mềm, cấu hình hệ điều hành và cách thức
hoạt động của các ứng dụng trên một máy tính mà không phải thực hiện trực
tiếp trên máy tính đó. Người quản trị có thể thiết lập các tùy chọn cấu hình
trên một đối tượng đặc biệt của Active Directory gọi là đối tượng chính
sách nhóm (Group Policy Object - GPO) sau đó kết nối các GPO này vào
các đối tượng trong Active Directory chứa các máy tính hoặc người dùng mà

thương Việt Nam. Các Server ở các chi nhánh đóng vai trò duy trì hoạt động
của tất cả máy tính trong mạng của chi nhánh và trung chuyển những số liệu
giao dịch về cho Trung tâm Công nghệ thông tin của Ngân hàng Công
thương Việt Nam tại 108 Trần Hưng Đạo.
Do hệ thống quản trị được cài theo kiểu AD áp dụng trên toàn hệ
thống mạng của Ngân hàng Công thương xuống đến các chi nhánh và
các điểm giao dịch nên có thể xem như mỗi mạng của chi nhánh được
bảo mật và ngăn chặn truy cập không cho phép bởi 2 lớp Firewall như sơ
đồ sau:
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
21
Sơ đồ mạng máy tính của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba
Đình:
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
22
Về hệ thống truyền thông:
Hệ thống sử dụng bộ kích và router đời mới, cáp đồng 2MBps từ hệ
thống đến các điểm giao dịch là đường truyền Leasedline 128Kbps. Ngoài ra
hệ thống mạng của Ngân hàng Công thương còn sử dụng 1 đường truyền dự
phòng. Đường truyền chính hiện nay đang thuê của VNPT còn đường truyền
phụ của FPT là đường dây cáp quang. Ngoài ra chi nhánh Ba Đình trực tiếp
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
23
quản lý 13 máy ATM. 13 máy này được nối với hệ thống mạng của chi
nhánh với 13 đường truyền 64kbps.
2. Quản trị hệ thống Active Directory
2.1 Kế hoạch triển khai AD tại Ngân hàng Công thương Việt Nam
Sau một thời gian dài tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm, Trung tâm
CNTT đã chứng minh được tính khả thi của hệ thống AD và các công cụ
quản lý hệ thống của hãng Microsoft đối với NHCTVN. Dự án đã được Ban

vùng, mỗi vùng là một tên miền, riêng Hội sở có một tên miền riêng. Như
vậy, cấu trúc AD của NHCTVN được chia làm 5 domain:
Phạm Minh Đức Công nghệ thông tin 46
25

Trích đoạn Các công việc thực hiện khi triển khai AD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status