Thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng. Thực trạng và giải pháp - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi sướng và lãnh đạo hơn 15
năm qua, kinh tế đất nước đã có sự chuyển biến nhanh chóng. Cùng với sự đổi
mới chung của đất nước, ngành ngân hàng cũng đã có những bước tiến đáng
kể, thể hiện rõ vai trò đóng góp cho sự phát triển nền kinh tế là nguồn cung
ứng vốn cho các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh cho doanh
nghiệp, phát triển kinh tế cho đất nước, đồng thời mang lại nguồn thu nhập
chủ yếu cho ngân hàng. Song thực tế trong thời gian qua công tác cho vay của
các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả không cao. Nguyên nhân chính xuất
phát từ những yếu kém, chủ quan trong công tác thẩm định. Hậu quả là nhiều
dự án có hiệu quả đầu tư thấp, không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Thời
gian qua đã xảy ra nhiều vụ việc đổ vỡ tín dụng, gây thất thoát của nhà nước
hàng chục ngàn tỷ đồng, làm ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế nói chung
và sự phát triển của từng doanh nghiệp, từng ngân hàng nói riêng.
Trước thực tế đó đòi hỏi các ngân hàng thương mại không ngừng nâng
cao chất lượng tín dụng mà trọng tâm là công tác thẩm định khách hàng vay
vốn tại ngân hàng. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng mà còn góp phần tiết kiệm vốn cho xã hội, thúc đẩy mở
rộng, phát triển cho nền kinh tế.
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà
Trưng em đã có dịp tìm hiểu về công tác thẩm định khả năng trả nợ của khách
hàng tại ngân hàng. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “Thẩm định khả năng trả
nợ của doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai
Bà Trưng. Thực trạng và giải pháp” với mong muốn tìm hiểu hơn nữa về
công tác thẩm định tại ngân hàng.
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 1
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề tài nghiên cứu của em gồm 2 chương:
Chương I: Thực trạng công tác thẩm định khả năng trả nợ của doanh

hàng Công Thương khu vực I, còn chi nhánh ngân hàng kinh tế cấp quận
(cũng trực thuộc NHNN thành phố Hà Nội) được chuyển thành chi nhánh
Ngân hàng Công Thường khu vực II. Như vậy sau khi chuyển đổi, 2 chi nhánh
trên đều trực thuộc chi nhánh NHCT thành phố Hà Nội, thuộc NHCT Việt
Nam. Với bộ máy mới này, Chi nhánh đã hoạt động được 5 năm.
Tại quyết định số 93/NHCT-TCCT ngày 1/4/1993 của Tổng giám đốc
Ngân hàng Công Thương về việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức Ngân hàng Công
Thương trên địa bàn Hà Nội theo mô hình quản lý hai cấp của NHCT Việt
Nam, bỏ cấp thành phố, hai chi nhánh NHCT khu vực I và II Hai Bà Trưng là
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 3
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NHCT chi nhánh trực thuộc NHCT Việt Nam được tổ chức hạch toán kinh tế
và hoạt động như các chi nhánh NHCT cấp tỉnh, thành phố.
Kể từ ngày 1/9/1993, theo quyết định của Tổng giám đốc NHCT Việt
Nam, sát nhập chi nhánh NHCT khu vưc I và chi nhánh NHCT khu vực II Hai
Bà Trưng. Như vậy kể từ ngày 1/9/1993 trên địa bàn quận Hai Bà Trưng (Hà
Nội) chỉ còn duy nhất một chi nhánh NHCT.
Sau hơn 10 năm trưởng thành và phát triển, Chi nhánh đã vượt qua nhiều
khó khăn, thử thách, từng bước khẳng định được vị thế của một ngân hàng
thương mại nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Để thực hiện chiến lược đa dạng hóa các phương thức, hình thức, giải
pháp huy động vốn trong và ngoài nước, đa dạng hóa các hình thức kinh
doanh, từ năm 1993 trở lại đây Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực
II Hai Bà Trưng đã thu được nhiều kết quả trong hoạt động kinh doanh, từng
bước khẳng định mình trong môi trường kinh doanh mới mang đầy tính cạnh
tranh.
2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 4
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A

kho
quỹ
Phòng
tài trợ
thương
mại
Phòng
kế
toán
tài
chính
Phòng
thông
tin
điện
toán
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Giao
dịch
Trương
Định
Giao
dịch
Chợ
Hôm
13 quỹ

Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 6
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
Bảng 2: Tiền gửi huy động của Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai
Bà Trưng trong thời gian qua
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng nguồn vốn huy
động
Tỷ
đồng
1823 2001 2150 2230 2417
1. Tiền gửi của tổ chức
kinh tế
Tỷ
đồng
640 710 780 801 952
Tiền gửi của tổ chức
kinh tế/ tổng nguồn vốn
huy động
% 35.1 35.5 36.3 35.92 39.4
- Mức gia tăng liên
hoàn
Tỷ
đồng
- 70 70 91 151
- Tốc độ tăng liên hoàn % - 10.94 9.86 11.67 18.85
2. Tiền gửi của dân cư
Tỷ
đồng
1183 1291 1370 1429 1465

2500
3000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Tien gui cua
dan cu
Tien gui cua
to chuc kinh
te
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy tổng vốn huy động có xu hướng tăng, năm
sau tăng cao hơn năm trước. Xét về mặt giá trị tuyệt đối tổng vốn huy động
tăng từ 1823 tỷ đồng vào năm 2001 lên đến 2417 tỷ đồng vào năm 2005, tức
tăng thêm 594 tỷ đồng trong vòng 5 năm. Xét về mặt giá trị tương đối tổng
vốn huy động cũng tăng nhưng năm sau tốc độ tăng giảm so với năm trước, cụ
thể là tốc độ gia tăng liên hoàn vốn huy động giảm từ 9.8% vào năm 2002
xuống còn 8.4% vào năm 2005.
Trong năm 2004 tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh
thấp hơn so với các năm trước và thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của các
Ngân hàng trên địa bàn Hà Nội nói chung và các chi nhánh NHCT nói riêng
(Tổng nguồn vốn các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội tăng 19.2%, trong đó tiền
gửi dân cư tăng 23.8%, tiền gửi tổ chức kinh tế tăng 15.9%, 8 chi nhánh
NHCT lớn trên địa bàn Hà Nội tăng 11.4%). Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn

mạnh nhưng do thường xuyên coi trọng chất lượng dịch vụ kết hợp tốt chính
sách khách hàng, nên nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng, đảm bảo được
cân đối vốn cung cầu và tạo thế chủ động cho hoạt động kinh doanh. Công tác
quản lý tiền gửi của dân cư được chi nhánh thực hiện thường xuyên nghiêm
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 9
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
túc thông qua công tác kiểm tra với nhiều hình thức. Qua đó đã khắc phục
những sai xót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi dân cư và các giấy tờ
in quan trọng, nâng cao uy tín của Ngân hàng với khách hàng.
3.2.Về công tác cho vay
Trong công tác cho vay, ngân hàng cũng đã được được kết quả như sau:
Bảng 3: Kết quả công tác cho vay của Ngân hàng Công Thương khu vực
II Hai Bà Trưng thời gian qua
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Doanh số cho vay Tỷ đồng 802 901 920 934 956
- Mức gia tăng liên hoàn Tỷ đồng 99 19 14 22
- Tốc độ tăng liên hoàn % 12,34 2,1 1,52 2,35
Cho vay ngắn hạn Tỷ đồng 367 492 545 611 665
% cho vay ngắn hạn trong
tổng doanh số cho vay
% 45,76 54,6 59,2 65,4 69,56
Cho vay trung và dài
hạn
Tỷ đồng 435 409 375 323 291
% cho vay trung và dài
hạn trong tổng doanh số
cho vay
% 54,24 45,4 40,8 34,6 30,44
( Nguồn: báo cáo tổng kết công tác tín dụng các năm 2001-2005)

Doanh số cho vay của chi nhánh tăng lên qua các năm (tăng từ 802 tỷ đồng
năm 2001, năm 2002 là 901 tỷ đồng; 2003 là 920 tỷ đồng; 2004: 934 tỷ đồng,
năm 2005 là 956). Trong các hình thức cho vay thì tỷ trọng cho vay ngắn hạn
chiếm tỷ lệ ngày càng cao do đó tỷ lệ vay trung và dài hạn ngày càng giảm đi.
Điều này là do nhu cầu vốn lưu động doanh nghiệp lớn rất lớn, chu kỳ sản
xuất của doanh nghiệp trên địa bàn thường ngắn. Trong khi đó cho vay trung
dài hạn giảm dần là do trong thời gian vừa qua chi nhánh đã thực hiện phương
châm “phát triển, an toàn, hiệu quả”, công tác cho vay đã thực hiện đúng chỉ
đạo của Ngân hàng công thương Việt Nam, chi nhánh quan tâm triển khai các
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn vốn vì vậy nếu các doanh
nghiệp không có đủ tài sản đảm bảo để đáp ứng cho nhu cầu vay của mình thì
cũng không được cấp khoản vay. Việc cho sinh viên vay vốn cũng được triển
khai thực hiện thường xuyên và kịp thời hỗ trợ sinh viên trong quá trình học
tập. Số lượng sinh viên vay vốn tại ngân hàng ngày càng tăng. Tính đến ngày
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 11
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
cuối năm 2004 đã có 1820 sinh viên, cuối năm 2005 có 2218 sinh viên của các
trường đại học như Bách khoa, Xây dựng, viện đại học Mở… thực hiện vay
vốn. Công tác cho vay đối với cán bộ công nhân viên được thực hiện đảm bảo
chế độ. Cán bộ công nhân viên vay vốn chủ yếu là mua sắm phương tiện đi
lại, sửa chữa nhà ở… đều trả đúng cam kết. Năm 2004 đã có 425 cán bộ vay
vốn với dư nợ là 3.5 tỷ đồng tăng 87.6% so với cuối năm 2003. Năm 2005 con
số này là 470 cán bộ vay vốn với dự nợ là 3.6 tỷ đồng.
Bảng 4: Tổng dư nợ cho vay Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai
Bà Trưng thời gian qua
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng dư nợ cho vay
nền kinh tế
Tỷ đồng 795 892 908 925 903

Tổng doanh số bảo lãnh năm 2005 đạt 493.7 tỷ bằng 79.2 % năm 2004.
Doanh số mua bán một ngoại tệ năm 2005:
 Doanh số mua : 21 triệu USD đạt 90.3% so với năm 2004
 Doanh số bán: 22 triệu USD đạt 91. 6% so với năm 2004
Doanh số thanh toán quốc tế:
 L/C nhập khẩu: năm 2005 đạt 133 món trị giá 15.8 triệu USD, so với năm
2004 giảm 33 % về giá trị
 L/C xuất khẩu: năm 2005 đạt 138 món trị giá 12.2 triệu USD tăng 44 %
so với năm 2004.
4.3.2 Họat động thanh toán:
Doanh số thanh toán năm 2005 đạt 12107 tỷ đồng, so với năm 2004 đạt
159 % trong đó thanh toán điện tử trong hệ thống 3098 tỷ đồng, thanh toán
ngoài hệ thống 2320 tỷ đồng, thanh toán nội bộ ngân hàng 6688 tỷ đồng
4.3.3 Dịch vụ thẻ:
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 13
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
Năm 2005 công tác phát triển dịch vụ thẻ ATM của chi nhánh đã đạt được
những kết quả nhất định, đưa số lượng thẻ phát hành đến 31/12/2005 là 6915
thẻ đạt 200% so với kế hoạch và tăng 180% so với năm 2004.
Dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế cũng đã bắt đầu triển khai thực hiện tại chi
nhánh, các bộ phận liên quan cũng đã nhanh chóng nắm bắt quy trình nghiệp
vụ mới để thực hiện. Tuy nhiên kết quả về phát hành thẻ tín dụng quốc tế của
Chi nhánh còn hạn chế, đòi hỏi các phòng cần quan tâm hơn nữa.
II. Thực trạng công tác thẩm định khả năng trả nợ của doanh
nghiệp tại NHCT KVII Hai Bà Trưng thời gian qua
1. Sự cần thiết phải thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp tại
NHCT KVII Hai Bà Trưng.
Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng cũng như
nhiều ngân hàng thương mại khác là loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng

với người đi vay, làm cho người đi vay không có khả năng thanh toán với
ngân hàng.
- Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng: do trình độ cán bộ tín dụng
còn hạn chế, việc phân tích khách hàng chưa đầy đủ, không am hiểu về khách
hàng của mình dẫn đến việc đánh giá khách hàng của mình không chính xác;
hay cũng có thể do đạo đức của cán bộ thẩm định, cấu kết với người đi vay…
- Nguyên nhân từ phía chính khách hàng vay vốn: có thể là do cố tình
không trả nợ hoặc cũng có thể do không có khả năng trả nợ do điều kiện tài
chính không cho phép.
Tất cả các nguyên nhân trên đều khiến cho ngân hàng không thể thu hồi
được khoản tiền cho vay. Vì vậy việc phân tích khả năng trả nợ của khách
hàng là rất cần thiết, giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro liên quan đến
tín dụng. Mục đích của việc phân tích khả năng trả nợ này là xác định khả
năng và ý muốn của người đi vay trong việc hoàn trả tiền vay. Khả năng, ý
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 15
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
muốn của người đi vay phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, gồm yếu tố liên quan
đến bản thân người đi vay và các yếu tố bên ngoài tác động đến người đi vay.
Vì vậy việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng cần phải đặt người vay
trong môi trường có nhiều biến động có thể xảy ra ảnh hưởng trong một thời
điểm ở tương lai để quyết định xem món nợ có được hoàn trả theo trình tự
bình thường hay không.
2. Quy trình thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp tại NHCT
KVII Hai Bà Trưng
Quy trình thẩm định khả năng trả nợ khách hàng có thể được tóm tắt bằng sơ
đồ sau:
Sơ đồ 2: Quy trình thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay
vốn tại NHCT KVII Hai Bà Trưng.
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 16

Đối với khách hàng quan hệ tín dụng làn đầu: cán bộ tín dụng hướng dẫn
khách hàng cung cấp những thông tin về khách hàng; các quy định của ngân
hàng mà khách hàng phải đáp ứng.
Đối với những khách hàng đã có quan hệ tín dụng: cán bộ tín dụng hướng dẫn
khách hàng hoàn thiện hồ sơ, đối chiếu và tiếp nhận hồ sơ.
Như vậy cán bộ tín dụng là đầu mối tiếp nhận, kiểm tra tín đầy đủ của của bộ
hồ sơ
Doanh nghiệp khi vay vốn tại ngân hàng phải nộp bộ hồ sơ gồm:
 Hồ sơ pháp lý: bao gồm các thông tin về tình trạng pháp lý của khách
hàng: Giấy đăng kí kinh doanh, giấy phép hành nghề (đối với nghề cần giấy
phép); Sổ hộ khẩu thường trú hoặc giấy tờ chứng minh cư trú thường xuyên,
chứng minh thư (đối với khách hàng vay Việt Nam); hộ chiếu (đối với khách
hàng vay nước ngoài)(Bản sao)
 Hồ sơ về kế hoạch, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương
lai.
 Dự án hoặc phương án vay: đi kèm với dự án hoặc phương án vay, khách
hàng phải gửi cho ngân hàng kế hoạch sử dụng tiền vay và kế hoạch trả nợ.
 Một số giấy tờ khác theo quy định của pháp luật
 Khách hàng vay vốn từ lần thứ hai trở đi không phải gửi các tài liệu trên
trừ trường hợp có sự thay đổi, bổ sung vốn, địa chỉ… phải sao gửi ngân hàng
để kịp thời bổ sung hồ sơ.
Sau khi kiểm tra, nếu hồ sơ của khách hàng đầy đủ, cán bộ tín dụng báo cáo
trưởng phòng tín dụng và tiếp tục các bước tiếp theo trong quy trình.
Bước 2:Thu thập, kiểm tra xác minh thông tin:
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 17
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp thu thập thông tin tại NHCT Hai Bà Trưng là phân tích và
tổng hợp các thông tin đã có, bên cạnh đó là trao đổi thông tin với các cơ quan
chức năng và trong hệ thống ngân hàng. Một phương pháp được coi là tin cậy,

Sau khi hoàn tất việc đánh giá, phân tích doanh nghiệp cán bộ tín dụng lập
tờ trình thẩm định ghi rõ ý kiến của mình về khách hàng đề nghị Giám đốc
ngân hàng phê duyệt. Giám đốc (hoặc người được uỷ quyền) sẽ ra quyết định
phê duyệt khoản vay dự trên kiểm tra hồ sơ khách hàng và tờ trình thẩm định
của cán bộ tín dụng.
Nếu từ chối khoản vay thì ghi rõ quyết định và lý do từ chối của mình và
tờ trình thẩm định, sau đó gửi phòng tín dụng để soạn thảo văn bản gửi cho
khách hàng.
Bước 5: Gửi thông báo tới khách hàng về việc đồng ý hay từ chối khoản vay
Bước 6: nếu khoản vay của khách hàng được chấp thuận thì sẽ diễn ra kí kết
hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và giám đốc ngân hàng.
3. Nội dung thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp tại NHCT KVII
Hai Bà Trưng.
Khi phân tích một yêu cầu vay tiền, cán bộ tín dụng thường phân tích các yếu
tố sau liên quan đến khách hàng: :
3.1. Năng lực vay nợ
Việc đầu tiên mà ngân hàng quan tâm là năng lực pháp lý của người đi
vay. Khi cho một doanh nghiệp vay, ngân hàng xem xét điều lệ và luật liên
quan để khẳng định rằng người đại diện cho doanh nghiệp ký kết hợp đồng
phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty. Trong nhiều trường hợp
ngân hàng đòi hỏi một bản nghị quyết tập thể, được các thành viên của Hội
đồng quản trị ký ủy quyền vay vốn và chỉ định người có thẩm quyền để
thương lượng vay hoặc thực hiện các phương tiện đi vay. Hợp đồng tín dụng
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 19
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
do một người không được ủy quyền kí kết có thể dẫn đến một khoản cho vay
không thể thu hồi và bởi vậy sẽ tạo ra một tổn thất lớn đối với ngân hàng. Do
vậy khi xem xét năng lực vay nợ của khách hàng, NHCT Hai Bà Trưng
thường xem xét các nội dung:

trải trong việc vay mượn và có ý định lừa đảo ngân hàng. Vì vậy khi xem xét
tư cách của người đi vay cần phải xem xét cả lịch sử tín dụng và quan hệ tín
dụng. Cán bộ thẩm định cần xem xét quá trình thanh toán của doanh nghiệp
trước đây, có thể tham khảo ý kiến của chủ nợ khác về doanh nghiệp xem
trong quá trình cấp tín dụng có thực hiện tốt các hợp đồng tín dụng trước đây
hay không, hay là số dư tiền gửi tại các ngân hàng khác có đáp ứng được quy
định của ngân hàng không?
Một nội dung tiếp theo được xem xét khi đánh giá tính cách của khách
hàng là phải xem xét mục đích vay vốn. Cán bộ thẩm định phải kiểm tra xem
mục đích vay vốn có rõ ràng, có hợp lý không; những gì khách hàng đưa ra có
nhất quán với những gì đã được trình bày trong giấy đề nghị vay, trong
phương án kinh doanh và phương án trả nợ không? Liệu khách hàng có cường
điệu trong việc đưa ra các lý lẽ để vay mượn không? Nếu là khách hàng mới
thì tại sao lại tìm đến ngân hàng này? Khi mục đích vay đã rõ ràng cán bộ
thẩm định phải xem mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng hiện tại
của ngân hàng không, khoản tín dụng cho mục đích đã được trình bày có vì
lợi ích thiết thực nhất của khách hàng không?
Ngân hàng kiên quyết từ chối cấp tín dụng cho các mục đích sau:
- Mục đích vay là để đầu cơ: các hoạt động đầu cơ thường chứa đựng rủi
ro cao. Khi ngân hàng cho vay với mục đích đầu cơ nếu hoạt động này gặp rủi
ro thì ngân hàng cũng sẽ rất khó lòng thu hồi được.
- Mục đích vay không hợp pháp: nếu cho vay các mục đích không hợp
pháp, ngân hàng phải đối đầu với hai nguy cơ tiềm ẩn hoặc là Ngân hàng có
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 21
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
thể bị truy tố vì tội đồng phạm hoặc là khả năng không thu hồi được nợ của
ngân hàng cao.
Tư cách người đi vay có thể được xác minh và phán đoán bằng cách xem xét
những thông tin lịch sử về quan hệ của khách hàng với ngân hàng; giữa khách

rộng hay thu hẹp; tỉ lệ xuất khẩu trong tổng doanh thu; môi trường kinh
doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi về xuất khẩu; những ưu thế
của các nước khác có cùng sản phẩm xuất khẩu và lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm…
3.3.2.Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
* Phân tích tình hình chung: xem xét sự thay đổi về tổng tài sản và nguồn
vốn qua các chu kỳ kinh doanh. Sự thay đổi về quy mô tài chính của doanh
nghiệp. Đánh giá tổng tài sản tăng lên chủ yếu ở hạng mục nào (tài sản cố
định/ tài sản lưu động) và được hình thành từ nguồn nào (tăng lên của khoản
nợ hay vốn chủ sở hữu tăng)
* Phân tích các chỉ tiêu tài chính
A. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng lớn càng đảm bảo khả năng trả
nợ vay của doanh nghiệp
a) Khả năng thanh toán tổng quát (A1)
Tổng tài sản
A1 =
Nợ phải trả
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bên ngoài của doanh
nghiệp. Hệ số này càng lớn khẳng định khả năng thanh toán của doanh
nghiệp càng tốt.
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 23
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A
Luận văn tốt nghiệp
b) Khả năng thanh toán ngắn hạn (A2)
Tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
A2 =
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tài sản lưu động và các khoản đầu tư ngắn

năng thanh toán các khoản nợ vay dài hạn thấp và không có khả năng trả
nợ ngay các khoản nợ vay dài hạn.
B. Hệ số nợ
a) Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn chủ sở hữu (A5)

Nợ phải trả
A5 =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Xác định hệ số này nhằm đánh giá mức độ đảm bảo nợ vay bằng nguồn
vốn chủ sở hữu
Hệ số này cho biết khả năng của khách hàng có thể thanh toán các khoản
nợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu của mình. Hệ số này càng thấp thì khả năng
thanh toán các khoản nợ vay của khách hàng bằng chính nguồn vốn của
mình càng tốt và ngược lại.
b) Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ vay (A6)
Nợ quá hạn
A6 =
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ này phản ánh khả năng trả nợ đúng hạn của các khoản vay và cảnh
báo khả năng có thể khó khăn trong thu hồi nợ vay. Giá trị nợ quá hạn
Sinh viên thực hiện: An Mai Hương 25
Lớp: Kinh tế đầu tư 44A

Trích đoạn Một số giải pháp khác Kiến nghị đối với nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status