Những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU-2003(1) - Pdf 28

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Thương mại và Kinh tế Quốc tế
Đề tài:
NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG HÓA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG
EU
Danh sách thành viên: Đàm Thị Thanh Huyền
Đỗ Thị Thùy
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Đỗ Nhật Trang
Đào Thị Thu
Lê Ánh Dương
Hà Nội - 2011
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG EU
Vài nét về thị trường EU
Đây là một thị trường lớn gồm 27 thành viên dân số trên 500 triệu người
(2010) sản phẩm quốc nội lớn hơn Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản. EU là khu vực
thương mại lớn nhất thế giới chiếm gần 50% khối lượng HHXNK thế giới. Đặc
điểm nổi bật của thị trường này là:
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
a. Một thị trường đa dạng khó tính, đòi hỏi nhiều cách tiếp cận.
b. Có sự cạnh tranh gay gắt nên hàng hoá phải có chất lượng sản phẩm
cao, mẫu mã bao bì phải đổi mới bắt mắt.
c. Phải quan tâm đến sức khoẻ, an toàn và môi trường.
d. Hàng hoá nếu đã vào được 1 thành viên thì sẽ được luân chuyển toàn
EU bằng đồng EURO.
e. Các mặt hàng rau quả chủ lực mà EU nhập vào là: Chuối, Táo, Nho,
quả có múi và rau tươi. Các mặt hàng này thường nhập khẩu trực tiếp vào Hà
Lan - Pháp - Bỉ sau đó được bảo quản và vận chuyển đi các nước EU khác qua
các công ty phân phối của EU.
Cách tính thuế nhập khẩu còn dựa trên biểu giá tham chiếu: Giá hàng

Qui đinh về sản phẩm thân thiện với môi trường như: bao bì phải có khả
năng phân hủy hoặc có khả năng tái chế lại; hóa chất bảo quan không ảnh hưởng
dến sức khỏe người sử dụng và môi trường; trong quá trình sử dụng sản phẩm
không ảnh hưởng đến môi trường. Qui định này áp dụng đối với các sản phẩm
oto, đồ gỗ…
h. Một số qui định khác như tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội – qui định
này nhằm bảo vệ người lao động ở nước xuất khẩu. Qui định này hiệu tại EU áp
dụng đối với 22 ngành nghề và thường là những ngành sử dụng nhiều lao động
như: dệt may, hàng thủ công, gốm sứ… EU áp dụng đối với 30 nước xuất khẩu
trong đó có Việt Nam.
i. Hiện nay EU áp dụng hạn ngạch đối với một số mặt hàng như dệt may,
cà phê, một số mặt hàng thủy sản việc áp dụng hạn ngạch này được áp dụng
một phân nhằm bảo về nên sản xuất của các quốc gia trong nội khối EU.
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 3
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Nhưng hạn ngạch về hàng dẹt may đã được xóa bỏ vào năm 2005 khi
Hiệp định Đa sợi được áp dụng. Nhưng mặt hàng cà phê hiện này vẫn được áp
dụng.
Quan hệ thương mại Việt Nam - EU
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên của Liên minh
Châu Âu phát triển mạnh từ những năm đầu thập kỷ 90 sau khi Việt Nam ký
một loạt hiệp định song phương với EU như Hiệp định khung về hợp tác kinh tế,
khoa học và kỹ thuật (năm 1990), Hiệp định dệt may (năm 1994, 1996, 1997,
2000, 2003); Hiệp định giày dép (năm 2000)… EU đã và đang trở thành một đối
tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sản
phẩm của Việt Nam. Hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU chủ yếu
là hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, khoáng sản (than đá) và hàng tiêu
dùng sử dụng nhiều lao động như: đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ… với chất
lượng, mẫu mã và tiêu chuẩn phù hợp với người tiêu dùng châu Âu.

vào EU lớn nhất của Việt nam vì mặt hàng này được hưởng thuế ưu đãi GSP và
Việt Nam và EU đã ký tắt biên bản ghi nhớ về chống gian lận trong buôn bán
các sản phẩm giày dép tháng 8/1999, áp dụng từ 1/1/2000.
Từ năm 2001 đến 2005, kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang
EU tiếp tục tăng lên không ngừng qua từng năm. Năm 2006, dưới tác động của
vụ kiện bán phá giá giày mũ da, thị phần xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào
thị trường EU đã bị giảm mạnh. Sau hơn 4 năm phải chịu mức thuế chống bán
phá giá ở mức 10%, ngành da giày nước ta đã bị thiệt thòi khá lớn về tài chính.
Theo thống kê của Bộ Công thương, trước năm 2005, khi Ủy ban châu Âu (EC)
chưa áp thuế chống bán phá giá , tỷ trọng giày dép xuất khẩu vào EU của hầu
hết các DN đều ở mức 60-80%, còn tại thời điểm này chỉ còn là 45-55%.
Năm 2009, khi quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập cho mặt hàng giày da
xuất khẩu vào EU bị bãi bỏ, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vào EU có phần
sút giảm khi sản phẩm giày da VN sẽ phải gánh chịu mức thuế cao hơn khi tiêu
thụ tại thị trường này. Tỷ trọng xuất khẩu sang EU đã giảm xuống còn 50%,
thay vì 60-70% như những năm trước đây, các đơn hàng dần chuyển sang phục
vụ thị trường Mỹ. Tuy nhiên, EU vẫn là thị trường nhập khẩu giày dép chính của
Việt Nam với 2 tỉ USD trong năm 2010, vượt Hoa Kỳ (1,3 tỉ USD), vượt xa
Nhật Bản (115 triệu USD).
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 5
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Đến tháng 4 năm 2011, thuế chống bán phá gia không còn hiệu lực, giày
mũ da không còn phải chịu thuế 10% khi xuất khẩu vào EU. Đây được coi là
một dấu hiệu tốt nhưng đồng thời cũng là một áp lực không nhỏ cho ngành giày
dép Việt Nam khi cạnh tranh với đối thủ lớn Trung Quốc (trước đó, Trung Quốc
phải chịu mức thuế lớn hơn là 16,5 % và cũng được bãi bỏ cùng thời điểm).
Theo số liệu của Tổng cục hải quan, trong tám tháng đầu năm 2011, kim ngạch
xuất khẩu giày dép của Việt Nam đạt trên 4,2 tỉ đô la Mỹ, trong đó sang các
nước EU là 1,89 tỉ đô la Mỹ, chiếm 45% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

nhưng cũng đầy thách thức đối với ngành da giày của Việt Nam.
1.2. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU
Dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ hai của Việt Nam sang EU. Đây
là ngành hàng tạo ra rất nhiều công ăn việc làm, giải quyết được nhiều lao động
trong nước và thực sự ngành dệt may Việt Nam đã có những tiến triển vượt bậc
trong những năm qua. Sau 18 năm thực hiện Hiệp định Dệt may Việt Nam - EU,
EU đã trở thành thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai của Việt Nam,
chỉ xếp sau Hoa Kỳ.
a. Kim ngạch xuất khẩu
EU là thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam. Kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này vẫn tăng
trưởng ấn tượng và liên tục trong những năm qua.
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 7
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU qua các năm
(Đơn vị: triệu USD)
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009 là nguyên nhân làm sụt giảm
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU. Sang đến năm 2010, con số này đã
tăng 12% (đạt 1981,2 triệu USD). EU vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn
thứ hai khi chiếm 17% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam. Hiện
Việt Nam đang là nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 8 vào thị trường EU sau
Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ấn Độ, Tunisia, Morocco và Pakistan
(trong 5 tháng/2011 thị phần chiếm 2,2%). Đơn giá xuất khẩu nhiều chủng loại
hàng như áo ghile, áo jacket, áo thun vào khu vực thị trường này cũng đạt được
mức tăng trưởng đáng kể.
Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm 2011 xuất khẩu hàng dệt may sang hầu hết
các thị trường vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao.
+ Trong tháng 7/2011, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ

thuộc về người đặt hàng và các công ty trung gian cung cấp nguyên phụ liệu và
mẫu mã cộng thêm việc chúng ta bị phụ thuộc về nguyên vật liệu, mất quyền
chủ động trong kinh doanh. Tuy nhiên, đây vẫn là phương thức quan trọng để
hàng dệt may Việt Nam tham gia vào thị trường EU với độ rủi ro ít, không đòi
hỏi vốn đầu tư lớn và giải quyết một phần đáng kể công ăn việc làm cho người
lao động Việt Nam.
Hình thức xuất khẩu trực tiếp đem lại giá trị gia tăng cao hơn, bao gồm
chi phí nhân công và chi phí nguyên phụ liệu. Tăng lượng xuất khẩu theo giá
FOB là mục tiêu của ngành bởi bán hàng theo hình thức này đem lại lợi nhuận
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 9
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
cao. Bên cạnh đó xuất khẩu theo hình thức này giúp cho các nhà sản xuất có thể
tiếp cận trực tiếp với thị trường, nắm được nhu cầu thị hiếu và các xu hướng,
tránh được tính mùa vụ và những bị động mà hình thức gia công gặp phải. Đây
cũng là cơ hội để các doanh nghiệp và người tiêu dùng bắt đầu biết được hàng
dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, số hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu theo
phương thức này còn ít, chỉ chiếm khoảng 20 - 30% tổng lượng hàng dệt may
xuất khẩu sang EU.
c. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu
Mặt hàng xuất khẩu truyền thống của ngành dệt may Việt Nam chủ yếu là
những sản phẩm đơn giản, dễ làm như áo jacket, áo váy, sơ mi, áo thun… Đến
năm 2011, áo thun vẫn là chủng loại sản phẩm xuất khẩu lớn nhất, chiếm 20%
tổng kim ngạch xuất khẩu, giá áo thun xuất khẩu tăng bình quân trên 15% so với
cùng kỳ năm ngoái, đạt trung bình 3,58 USD/cái theo giá FOB. Những mặt hàng
xuất khẩu đòi hỏi kĩ thuật, đem lại giá trị gia tăng cao như quần âu, áo veston…
chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ vì không nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới
công nghệ để có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất. Đến nay, chỉ có một số
ít doanh nghiệp tham gia sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cao cấp còn hạn
ngạch, đòi hỏi công nhân lành nghề, máy móc hiện đại. Trong thời gian tới, nếu

tốc độ tăng trưởng cao. Cafe Việt Nam là mặt hàng được ưa thích đối với người
tiêu dùng thế giới, trong đó người dân EU. Trên thực tế, Đức, Bỉ, Pháp, Italia,
Anh là các quốc gia EU nhập khẩu nhiều cafe từ Việt Nam. Xu hướng tiêu dùng
cafe của người dân EU hiện nay là những sản phẩm như cà phê hoà tan được
chia thành những gói nhỏ tiện dụng, các sản phẩm cà phê nguyên chất. Tiêu
chuẩn về nhãn mác, môi trường, hóa chất được đặc biệt coi trọng. Thị trường
EU đang hướng về những sản phẩm được chứng nhận về mức độ lành mạnh, do
đó, các loại cà phê có lợi cho sức khoẻ đang được tiêu thụ ngày càng nhiều. Một
trong những chứng nhận quan trọng về cà phê tại EU là chứng nhận Impatto
Zero của Italia. Trên toàn EU có sự đồng nhất và nhiều nét chung trong sự tiêu
thụ và sử dụng cà phê, nhìn chung không có sự phân biệt giữa các vùng về sử
dụng các loại cà phê.
Tương tự cà phê, chè cũng là một loại thức uống mà người dân châu Âu
ưa thích các sản phầm nhập khẩu từ Việt Nam. Trong nhóm các sản phẩm chè
thì trà đen được người châu Âu ưa chuộng và dùng phổ biến hơn và đây cũng là
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 11
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
chủng loại chè xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU. Hiện nay, người tiêu
dùng EU có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn các sản phẩm chè có lợi cho sức
khoẻ và thân thiện với môi trường với kích thước nhỏ, gọn, sử dụng ngay và
dùng một lần. Không khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu cafe và chè của Việt
Nam để nắm bắt được xu hướng tiêu dùng này, tuy nhiên trên thực tế các sản
phảm cafe, chè của Việt Nam xuất sang EU chỉ ở dạng sơ chế sau đó được các
doanh nghiệp bên EU tinh chế và đóng gói, dán nhãn mác. Số lượng thương hiệu
cafe và chè Việt Nam xuất khẩu được người tiêu dùng EU biết đến còn rất
khiêm tốn.
Rau quả Việt Nam mới thâm nhập vào thị trường EU vài năm gần đây,
nhưng kim ngạch xuất khẩu đã tăng tương đối nhanh. Tuy nhiên, thị trường rau
quả tươi của EU lại đang có dấu hiệu bão hòa, hàng năm nhập khẩu khoảng 26 -

nhập khẩu lớn khác là Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Australia và Đài
Loan.
Đặc điểm nổi bật trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường
EU đó là sự tăng trưởng mạnh của mặt hàng cá tra, basa cả về khối lượng cũng
như giá trị. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm
cho đồng euro giảm giá, đồng nghĩa với việc hàng xuất khẩu vào EU trở nên đắt
đỏ hơn dù giá bán bằng đôla không đổi, vì vậy xuất khẩu vào EU giảm sút cộng
thêm chiến dịch bôi xấu chất lượng sản phẩm thủy sản Việt Nam ở một số nước
như Italia, Tây Ban Nha, Ai Cập… khiến cho lượng cá có xuất xứ Việt Nam
nhập khẩu vào thị trường EU đang có xu hướng giảm sút cả về số lượng lẫn giá
thành. Mức giá giảm từ 2,28USD/kg (2009) xuống còn 2,13 USD/kg (2010). EU
là thị trường nhập khẩu lớn nhất cá tra giá xuất khẩu cũng giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm giảm 4,3% kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam, trong đó xuất khẩu vào EU giảm 4,6% so với trước đó
(đạt giá trị gần 1,11 tỉ USD). Tuy nhiên, mức giảm của thị trường EU vẫn không
mạnh nếu như so sánh với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản với mức
giảm lên tới 7,2% (sang Mỹ) và 12% (sang Nhật Bản). Sở dĩ, năm 2009 xuất
khẩu thủy sản sang EU không sụt giảm nhiều như xuất khẩu sang Mỹ và Nhật
Bản là do những nguyên nhân: , kinh tế EU tuy đã rơi vào tình trạng suy thoái
nhưng nhìn chung vẫn còn sang sủa hơn so với Nhật Bản và Mỹ; các doanh
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 13
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
nghiệp Việt Nam đã chú trọng tới các hoạt động xúc tiến thương mại và mở
rộng thị trường tại châu Âu, tham gia nhiều hoạt động quảng bá, hội chợ triển
lãm thủy sản. Nhờ vậy số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang EU đã tăng lên
tới 330 doanh nghiệp.
Hàng thủy sản Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới 27 quốc gia EU, gồm các
mặt hàng sản phẩm cá, tôm, mực, bạch tuộc…
Đây là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị xuất

chứng minh được nguồn gốc thủy sản), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam vẫn không ngừng tăng, đưa thủy sản lên vị trí dẫn đầu trong số các sản
phẩm thực phẩm xuất khẩu vào EU, đem lại cho đất nước một nguồn ngoại tệ
lớn. Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU đã đạt được kết quả đáng khích lệ.
Chất lượng hàng thủy sản của Việt Nam không ngừng được nâng cao, hoạt động
đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản luôn được
đổi mới, công nghệ chế biến thủy sản (theo tiêu chuẩn HACCP- là loại giấy
chứng nhận được phép xuất khẩu thủy sản vào EU) luôn được cải tiến. Các
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản đều có đủ tiêu chuẩn về vệ sinh an
toàn thực phẩm và được EU chấp nhận. Những thành tựu và đổi mới đó đã tạo
được uy tín trên thị trường EU. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được
vẫn còn tồn tại không ít khó khăn làm cản trở cho việc thúc đẩy xuất khẩu vào
thị trường EU, đó là:
thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu vẫn là hàng thô, sơ chế,
những mặt hàng chế biến sâu và hàng giá trị gia tăng còn ít, cho nên chưa vận
dụng tốt những ưu đãi về thuế mà Hiệp định khung đem lại. Cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu chưa đa dạng, chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng: Tôm, cá tra, cá ba
sa, mực, cá ngừ. Mẫu mã kiểu dáng còn đơn điệu chưa hấp dẫn khách hàng.
Chất lượng hàng thủy sản chưa cao nên trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe
về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ có các doanh nghiệp áp dụng có
hiệu quả tiêu chuẩn HACCP mới được phép xuất khẩu vào thị trường EU, số
còn lại không đủ tiêu chuẩn bị tái xuất.
EU là thị trường rộng lớn có số lượng đơn đặt hàng nhiều, trong khi các
doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ bé hạn chế về tài chính, năng suất lao
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 15
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
động thấp, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất không ổn định. Chính điều
đó làm lỡ nhiều đơn đặt hàng từ phía EU.
Hoạt động thâm nhập thị trường của doanh nghiệp Việt Nam còn thụ động

hoặc những nước được EU cho hưởng mức thuế thấp.
Thứ hai, trong thời kì EU đang rơi vào suy thoái kinh tế trầm trọng như
hiện nay, người dân châu Âu có xu hướng thắt chặt chi tiêu, chuyển sang ưa
chuộng những hàng hóa có giá rẻ hơn mà vẫn có chất lượng tương đối tốt. Do
đó, hàng hóa Việt Nam có cơ hội cạnh tranh hơn. Tuy nhiên đây cũng là lợi thế
cạnh tranh của nhiều nước xuất khẩu hàng hóa sang EU, do đó Việt Nam vẫn
phải tích cực hoàn thiện hơn về chất lượng của sản phẩm xuất khẩu cũng như
đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật mà thị trường EU đặt ra.
2.2. Khó khăn và thách thức
Thứ nhất, doanh nghiệp (DN) sản xuất của Việt Nam đang gặp khó khăn
về tín dụng do chính sách thắt chặt tín dụng. Đây là thách thức chung cho các
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 17
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
doanh nghiệp xuất khẩu, khiến cho tình trạng thiếu vốn và quay vòng vốn gặp
rất nhiều khó khăn. Đặc biệt là với một thị trường khó tính như EU, các sản
phẩm xuất khẩu đòi hỏi phải được đầu tư nhiều hơn về chất lượng, mẫu mã, …
Thứ hai, khó khăn đối với DN xuất khẩu vào EU nói chung, trước tiên là
do thị hiếu, phong cách tiêu dùng, ngôn ngữ, văn hoá kinh doanh của mỗi nước,
mỗi vùng khác nhau, trong khi đó hàng hoá vào thị trường EU lại được lưu
thông trên toàn bộ 27 nước. Như vậy, việc tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm
vào được một nước và phải thích ứng với 26 nước còn lại là một thách thức
không nhỏ đối với các DN Việt Nam.
Thứ ba, khi doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm vào EU phải
đối mặt với các rào cản thuế quan và các rào cản phi thuế quan. Các yêu cầu
TBT của EU quy định đối với từng ngành nhập khẩu cụ thể bao gồm ngành dệt
may, da giầy, nhựa, gỗ, điện tử và tin học, thực phẩm và nông nghiệp.
Cụ thể hơn, đối với nhà xuất khẩu lương thực và nông sản Việt Nam, thông
tin đầy đủ về các quy định của Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch
động thực vật (SPS) của nước nhập khẩu là một trong những yếu tố quyết định

của EU có thể sẽ xem xét việc tái áp loại thuế này mà không cần điều tra khi có
đủ bằng chứng cho thấy có hiện tượng “tiếp tục hoặc tái diễn hành vi bán phá
giá” từ nhà xuất khẩu Việt Nam.
Hơn nữa, sau khi thuế CBPG được dỡ bỏ, chênh lệch thuế CBPG Trung
Quốc - Việt Nam là khá cao (16,5%). Điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng
chuyển tải bất hợp pháp sản phẩm từ Trung Quốc vào Việt Nam, đóng mác Việt
Nam, rồi lại xuất vào EU nhằm trốn thuế. Nếu DN không cảnh giác thì sẽ rất
nguy hiểm cho ngành da giày Việt Nam nếu EU phát hiện ra.
Vì vậy, DN phải giám sát lẫn nhau, khi phát hiện vi phạm, phải báo cho
Cục Quản lý cạnh tranh, Hiệp hội Da Giầy Việt Nam để báo cáo và xử lý lên
EU. Tránh tình trạng để EU phát hiện ra có hiện tượng này, nhưng vì không nắm
được chính xác và cụ thể doanh nghiệp vi phạm, sẽ áp dụng trừng phạt đối với
toàn bộ ngành và thường mức phạt sẽ cao hơn mức thuế CBPG rất nhiều.
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 19
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Thêm vào đó, trong chương trình giám sát một năm của EU, đối tượng
chịu giám sát là sản phẩm giày mũ da Việt Nam dựa trên 3 tiêu chí: giá và lượng
xuất khẩu; nguồn gốc xuất xứ sản phẩm (hàm ý chống chuyển tải bất hợp pháp).
Tuy nhiên EU không hề có con số cụ thể về giá và lượng làm mốc. Điều này sẽ
khiến Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc phòng chống tái áp thuế
CBPG.
Đối với thị trường dệt may, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn do các quy định của thị trường EU với mục đích bảo vệ sức
khoẻ con người, bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như quy định sử dụng hoá chất
(Reach) đã có hiệu lực từ năm 2009. Dệt may thuộc số các ngành công nghiệp
sử dụng nhiều hoá chất. Các loại sợi, vải, quần áo và các phụ kiện dệt may đều
có chứa nhiều loại hoá chất khác nhau như thuốc nhuộm, thuốc tẩy Vì vậy, các
nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và kinh doanh hàng dệt may có hàng bán tại
EU đều phải xem xét và tuân thủ quy định Reach. Ngoài ra còn phải kể đến sự

luật minh bạch, đồng bộ vầ đây là chỗ dựa pháp lý cho các doanh nghiệp Việt
Nam tham gia vào các vụ kiện chống bán phá giá.
Xây dựng hệ thống kiểm kê, hạch toán chi phí cho đầy đủ và theo qui định
của EU để tránh việc hạch toán thiếu chi phí khiến người sản xuất nông nghiệp
lại bị thiệt vị bán giá rẻ mặt khác còn dẫn đến bị kiện chống phá giá mà.
Khắc phục triệt để những bất hợp lý trong chính sách bảo hộ, cân đối lại
đối tượng bảo hộ theo hướng chú trọng bảo hộ nông sản để tránh việc vi phạm
qui định trong chính sách chống trợ cấp của EU.
EU là thị trường rất khó tính, yêu cầu về mẫu mã, đảm bảo sở hữu trí tuệ
rất cao đòi hỏi DN phải tìm hiểu rõ luật trước khi tiến hành đàm phán, đảm bảo
đúng luật của EU để tránh bị kiện tụng. Tuy nhiên, các DN VN nên sử dụng
tham vấn về pháp luật ngay từ khâu chuẩn bị đàm phán, trong đàm phán, thực
hiện hợp đồng và nhất là khi có tranh chấp thương mại xảy ra để tránh bị thiệt
thòi.
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 21
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Chính phủ Việt Nam cần ban hành qui định quản lý hải quan chặt chẽ hơn
hay hoàn thiện luật về hải quan nhằm tránh hiện tượng hàng Trung Quốc chuyển
vào Việt Nam rồi đóng mác VN và xuất sang thi trường EU hiện tương này khá
phổ biến với hàng dày mũ da của Việt Nam.
1.2. Năng cao nhận thức của doanh nghiệp về tiêu chuẩn kĩ thuật của EU
Chính phủ VN và EU cần nhanh chóng ký kết Hiệp định thương mại tự do
(FTA) với sự công nhận nền kinh tế thị trường như là một điều kiện tiên quyết.
Cần phải tăng cường năng lực cho văn phòng TBT VN để hỗ trợ các ngành
xuất khẩu, đồng thời vai trò của các hiệp hội ngành cần được nâng cao hơn nữa
để hỗ trợ các hội viên, tư vấn cho các thành viên và là đại diện trước EU về các
quy định được đề xuất. Cần thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin
đại chúng để các doanh nghiệp có thể nắm bắt được thông tin về thị trường và
qui định về thủ tực, các qui định về sản xuất của EU.

mục đích tăng khối lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu những mặt hàng này
sang EU.
Nhà nước cần có chính sách để duy trì, bảo vệ, mở rộng qui mô và phát
triển các làng nghề theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường xung quanh làng
nghề. Những điều này nhằm đáp ứng qui định về bảo vệ sức khỏe và an toàn mã
EU để hàng thu công mỹ nghệ của Việt Nam gia tăng lượng hàng xuất khẩu vào
thị trường này.
Nhà nước cần ban hành các tiêu chuẩn kiểm dịch, qui trình kiểm tra các tồn
dư chất hóa học cho phù hợp với hệ thống HACCP , ISO 14000 của thị trường
EU.
- Đối với một số mặt hàng nông sản có khả năng xuất khẩu sang thị trường
EU như cà phê, chè, hạt tiêu, điều, cao su, rau quả…
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 23
Chính sách Kinh tế đối ngoại – II
Nhà nước cần xây dựng quy hoạch tạo ra vùng sản xuất chuyên canh đảm
bảo sản lượng cung ứng ổn định và đạt tiêu chuẩn về sản xuất của EU: như
HACCP, SA8000, EUREGAP… và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sau
thu hoạch để đảm bảo sản phẩm làm ra có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng
đều, giá thành hạ và khối lượng lớn. Đầu tư để cải tiến công nghệ chế biến, nâng
cao tỷ lệ sản phẩm đã qua chế biến nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Khuyến khích người dân mở rộng diện tích canh tác, tạo điều kiện và hỗ
trợ người nông dân sử dụng máy móc, các kĩ thuật sản xuất mới thông qua các
lớp tập huẫn về sản xuất sạch, các trương trình khuyến nông, (kĩ sư nông nghiệp
về tận làng xã, dạy cách sử lý rơm rạ, cây khô bằng chế phẩm sinh học sau khi
thu hoạch để trở thành phân bón), để tăng cường sử dụng công nghệ sinh học
giảm lượng thuốc trừ sâu trong sản xuất.
1.4. Gắn nhập khẩu công nghệ nguồn với xuất khẩu
Hiện nay trong buôn bán với EU Việt Nam xuất siêu khá lớn 6 tháng đầu
năm 2011 kim ngạch xuất khẩu là 7,41 tỷ USD trong khi đó nhập khẩu là 3.498

- Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất vùng núi
vùng khó khăn hoặc các ngành sử dụng nhiều lao động trong thời kì khửng
hoảng kinh tế và tình trạng thất nghiệp ở mức cao, kinh doanh xuất khẩu sang
EU có hiệu quả, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học
công nghệ mới.
1.6. Hỗ trợ của Nhà nước trong công tác xúc tiến xuất khẩu sang EU.
Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam thâm nhập dễ dàng
và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU, Nhà nước nên thực hiện một số
hoạt động trợ giúp sau đây.
Những giải pháp thúc đẩy XK hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU
Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status