Mại dâm với cái nhìn của sinh viên trường khoa học xã hội và nhân văn - Pdf 28

~ 1 ~
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa : Địa Lí.
Bộ môn: Du lịch, lớp: Du lịch k02.
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài:
 Nguyễn Thị Lợi , 1156180033.
 Nguyễn Đình Nhu , 1156180044 ( Nhóm trưởng ).
 Nguyễn Thanh Nhu , 1156180045.
 Nguyễn Thị Hồng Thủy , 1156180061.
 Nguyễn Thị Thủy , 1156180064.
 Hồ Văn Hoài , 1156180094.
TÊN ĐỀ TÀI:
MẠI DÂM VỚI CÁI NHÌN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Giảng viên hướng dẫn khoa học : Ts.Châu Văn Ninh
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2012
PHỤ LỤC 1
~ 2 ~
MỤC LỤC
Trang bìa………………………………………………………………................................. 1
Mục lục……………………………………………………………………………………… 2
Danh mục các chữ viết tắt :………………………………………………………………….2
I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………....3
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………4
III. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên
cứu………………………………….......................................................................6
IV. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực
tiễn………………………………………………………………………………...7
V. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………………………8
VI. Tổng quan nghiên cứu…………………………………………………………..................................8

hội ra sao. Cùng hàng loạt các luật cấm hoạt động mại dâm, được ban hành
và thực hiên… Nhưng tất cả đó cũng không làm cho tình trạng mại dâm giảm
mà ngày càng tăng lên.Việt Nam là một điển hình cho sự việc này, trong thực
tế, khi pháp luật ngăn cản, tình trạng mại dâm vẫn ngày càng tăng nhanh và
khó kiểm soát. Ngày 2/8/2012, tại trụ sở Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội, Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội đã tổ chức buổi gặp mặt báo chí về công
tác phòng chống tệ nạn mại dâm và cai nghiện phục hồi. Được biết, trong 6
tháng đầu năm 2012, lực lượng công an các cấp đã đấu tranh, triệt phá được
528 vụ hoạt động mại dâm, bắt giữ 1.897 đối tượng, cao hơn 49 vụ so với
cùng kỳ năm ngoái. Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 416 vụ , tăng 7% so với
cùng kỳ năm 2011 về số vụ đưa ra xét xử (Bộ LĐ – TB&XH). Và gần đây nhất
có hang loạt vụ ca sĩ, người mẫu, diễn viên, hoa hâu, người nổi tiếng tham gia
bán dâm, tổ chức các hoạt động mại dâm… Càng làm cho dư luận xưa nay đã
không chút thiện cảm với mại dâm nay lại càng căm phẩn trước những hành
động đó. Điều này thật đúng khi chuyên gia đầu ngành về nghiên cưu mại
dâm ở nước ta, Phó giao sư, tiến sĩ: Lê Thị Quý, khoa xã hội học, Giám đốc
trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN,
trong một lần trao đổi ngắn với phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam,
sau vụ việc hoa hậu Nam Mê Kong Võ Thị Mỹ Xuân bán và mô giới mại dâm bị
phát hiên ngày 25/5/2012, bà đã khẳng định rằng: “Mại dâm một cách đúng
nghĩa là dịch vụ dành cho một nhóm đối tượng khuyết tật về cơ thể, sự tự ty
lớn về mặt thể chất, nhằm giúp họ thỏa mãn và giải quyết nhu cầu sinh lý.” .
Theo bà thì những người tham gia hoạt động mại dâm là những ” đối tượng
khuyết tật về cơ thể, sự tự ty lớn về mặt thể chất”. Điều này càng chứng tỏ
rằng con người chẳng có chút cảm tình với mại dâm mà con kì thi mại dâm.
Sự kì thị đó có từ xưa đến nay, ngay cả lãnh tụ của xã hội chủ nghĩa,( chủ
nghĩa xã hội là xã hội công bằng, bình đẳng, bình quyền, mọi người đều có
quyền tự do…) là Lê Nin cũng đã ví von mại dâm là hành động chẳng khác gì
“uống nước cống”… Sự kì thị, suy nghĩ, nhìn nhận xấu về mại dâm có ở tất cả
các đất nước, mà càng đặc biêt hơn ở các nước Phương Đông. Ở các nước này

đáng suy nghĩ trong xã hội hiện nay. Mỗi người có một cách nhìn, cách nhận định khác
nhau về vấn đề mại dâm. Đề tài của chúng tôi không lặp lại những quan điểm trước đây,
mà đi sâu vào nghiên cứu về khía cạnh khác của mại dâm đó là có nên hay không nên
hợp thức hoá mại dâm ở Việt Nam. Đồng thời, thể hiện thái độ của sinh viên Nhân văn
đối với vấn đề này. Chúng tôi cũng đưa ra những số liệu thực tế chứng minh khía cạnh
nghiên cứu của chúng tôi không hoàn toàn vô căn cứ vì thực tế thì vẫn có một số sinh
viên đồng tình với ý kiến của chúng tôi và việc hợp pháp hoá mại dâm ở Việt Nam là
hoàn toàn có thể.
 Đề tài cung cấp cho chúng ta thấy thêm những quan niệm, những ý kiến
khác nhau về vấn đề mại dâm theo cách nhìn của sinh viên. Nhưng đề tài không chỉ
dừng ở những điểm như vậy. Đề tài còn mở rộng ra hơn đó là việc chấp nhận hay không
chấp nhận vấn đề mại dâm ở Việt Nam hay không. Những nguyên nhân để chấp nhận
hay không chấp nhận về mại dâm ở một nước phương Đông như Việt Nam. Một cách
nhìn thoáng hơn so với những đề tài cùng chung chủ đề về "mại dâm".


II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
• Mục đích nghiên cứu :

 Đề tài này hướng đến một vấn đề nhạy cảm của xã hội hiên nay, có nhiều vấn
đề nhức nhối của cả trong nước lẫn nước ngoài, là buôn bán phụ nữ trẻ em là
nguyên nhân đẩy những người đó thành nạn nhân chính của hiện tượng mại
dâm, hay là những vụ mua bán dâm tổ chức thành đường dây mại dâm mới
được phát hiên gần đây trong giới văn nghệ sỹ, hoa hậu diễn viên ở Việt
Nam... Hai hình thức đối lập giữa một bên là bị ép đến con đường mại dâm và
một bên vì ham lợi, muốn kiếm tiền nhanh chóng đi đến con đường bán dâm
và tổ chức bán dâm. Hay là sự đối lập giữa các nước, có nước hợp pháp hóa
mại dâm, có nước lại không.. Và có những cái nhìn khác nhau, đối lập trái
chiều về hiện tượng trên. Mà đề tài này được lập ra với các mục đích dưới
đây :

hội và nhân văn nhìn nhận vấn đề mại dâm như thế nào, bằng các lập
bảng hỏi với nhũng nội dung thích hợp, để tham do tình hình, suy nghĩ
của sinh viên, kết hợp với phỏng vấn tìm hiểu xem sinh viên có thái độ
nào đối với nhũng đối tượng tham gia hoạt động mai dâm, cũng như
sinh viên đánh giá thế nào về các nước ngoại mà ở đó chính phủ xem
mại dâm là một ngành nghề cũng như những ngành nghề khác, hơn
nưa đây còn là một ngành nghề được ví von là « ngành công nghiệp
siêu lợi nhuận »… Đồng thời kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đẻ
tổng hợp lại đưa ra cái nhìn, thái độ của sinh viên trường
ĐHKHXH&NV về mại dâm, từ đó rút ra điểm chung, điểm riêng , cái
điểm cũ cũng như mới của những cách nghĩ, cách nhìn sinh viên
trường ĐHKHXH&NVso với những quan điểm ,cách nhìn của từ trước
đến nay của mọi người về mại dâm.

o Nhiệm vụ thứ hai : Đưa ra những cách tiếp cận mại dâm dưới cách
đa chiều, cách tiếp cận mới và tích cực hơn về mại dâm. Xác định mại
dâm là một hiện tượng xấu, nhưng không phải mọi thứ thực mại dâm
là xấu, mọi người tham gia hoạt động mại dâm là xấu. Mọi hoạt đọng
đều thoa mãn những mục đích nào đó. Và mại dâm cũng thế, mại dâm
thõa mãn nhu cầu sinh lí của con người, xét trên bình diên sinh lí bản
năng thì mại dâm là một hoạt động bình thường của con người, nhưng
khi đưa nó vào chuẩn mực xã hội thì nó lại lệch đị so với chuẩn mực cho
phép, thì nó lại là xấu. Nhưng nếu chuẩn mực xã hội thay đổi thì ko
chắc rằng hoạt động mại dâm là xấu, vi như hoạt động mại dâm dược
cấp phép ở một số nước, đó trở thành một ngành nghề thu lại lợi
nhuận cao,.. Hay là một số người tham gia hoạt động mại dâm biến nó
thành xấu, lây truyền các căn bệnh, biến mại dâm thành một thứ tiêu
khiên mua vui, các hoạt đông buôn bán người, các ổ mại dâm hành hạ
con người thì đó là những con người xấu.. Còn nhưng con người bị ép
tham gia mại dâm, muốn thoát ra khỏi nhà chứa,.. thi không phải họ

không gian nghiên cứu đề tài này là trường ĐHKHXH&NV.

o Đối tượng tham gia trực tiếp bằng điều tra bảng hỏi là 100 sinh viên
được lựa chọn ngẫu nhiên, thuộc các khoa bộ môn thuộc ĐHKHXH&NV.

IV. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

 Với vấn đề nghiên cứu là mại dâm với cách nhìn nhận của sinh viên trường
khoa học xã hội và nhân văn, thì đề tài cũng có các ý nghĩ khoa học và thực
tiễn nhất định :

• Ý nghĩa khoa học :

 Nêu lên những cái nhìn, những đánh giá đa chiều, cách tiếp cận vấn đề mại
dâm trên quan điểm toàn diện cả những tốt lẫn mặt xấu, những mặt tiêu cực
cũng như tích cực của hoạt động mại dâm, những con người tham gia vào
hoạt động mại dâm…

• Ý nghĩa thực tiễn :

o Giúp nhóm nghiên cứu có điều kiện vận dụng các học thuyết đã học vào
thực hành nâng cao nhận thức, qua đó nắm vững kiến thức để áp dụng
vào thực tế cuộc sống.

o Tìm ra đâu là đánh giá đúng về hoạt động mại dâm, đâu là cách nhìn
nhận của sinh viên những người tiếp xúc khá nhiều đến vấn đề mại
dâm ( trong một cuôc nghiên cứu có đến 40% sinh viên và doanh nhân
tiếp xúc với mại dâm còn lại là 60% các thành phần khác trong tổng số
người nghiên cứu). Đặc biệt là tìm ra nhận định của sinh viên trường
ĐHKHXH&NV ngôi trường đào tại sinh viên về con người và xã hội có

trong đó chúng tôi sử dụng những câu hỏi mang tính chất định tính là
chủ yếu, có cả những câu hỏi đóng và mở để có thể tìm hiểu một cách
khách quan.

VI. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

 Đề tại mại dâm là một đề tài nghiên cứu mà không ít những nhà nghiên cứu
đã làm, có rất nhiều các bài báo chuyên đề, những bài báo cáo về tinh trạng
mại dâm, cũng như nhũng cuỗn sách của nhiều tác giả trong ngoài nước đề
cập đến vấn đề này. Có một số cuốn sách và đề tài báo cáo chuyên đề về mại
dâm như :

I. Giã từ ma túy - mại dâm, biên soạn: Viết Thực, nhà xuất bản Lao Động
2002.

 Trong quyển sách này, tác giả đề cập đến hai vấn đề là ma túy và mại dâm, hai
vấn đề bị coi là tệ nạn nghiêm trọng ở Việt Nam và cũng có liên hệ mật thiết
với nhau. Trong phần mại dâm, người biên soạn đã tổng hợp tình hình mại
dâm qua báo chí trong vòng một năm (2000-2001), trong đó có thống kê số
lượng người hành nghề, độ tuổi. Người viết còn đưa ra những số liệu cho thấy
rằng hiện tượng mại dâm không phải là cá biệt ở sinh viên đại học. Đối tượng
mua dâm chủ yếu là cán bộ nhà nước và nguồn tiền sử dụng chủ yếu là tiền
công quỹ và thu nhập bất chính cho thấy bộ máy nhà nước ta lúc này còn khá
lỏng lẻo. Trong này, tác giả còn đưa ra những nguyên nhân đưa các đối tượng
đến với con đường mại dâm đó là tình hình buôn bán phụ nữ, những kẽ hở
trong hệ thống pháp luật ở nước ta, tỉ lệ li hôn ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ
em. Tác giả còn nói đến tính phức tạp vì hiểu ứng bóng bay của tệ nạn này qua
các mục : chống bắt quả tang ảnh hưởng đế chu mại dâm di tản, gái mại dâm
đuổi theo để tiếp thị, mại dâm làm cho nhà nông quên đồng áng, mại dâm núp
bóng các dịch vụ văn hóa và sinh hoạt ẩm thực, mại dâm nam có nguy cơ phát

nhà xuất bản Công An Nhân Dân, năm 2005.

 Cuốn sách là sụ nhìn nhận, nghiên cứu của một người phương Tây về mại dâm
và buôn bán người của các nước Á Đông như Thái Lan, Nepal, Ân Độ, Nhật
Bản … cuốn sách được chia làm 9 chương viết về 9 mảng của đề mại dâm và
buông bán phụ nữ ở châu Ấ.
 Chương 1 : Thị trường. Ở chương này tác giả nhấn mạnh mại dâm không chỉ
là tệ nạn của chỉ những nước phương Tây mà mại dâm còn tồn tại ở các nước
phương Đông, là các nước xưa nay nổi tiếng là sống trong gia giáo lễ độ, xem
mại dâm như một hành động vô sĩ không thể chấp nhận được. Ở các nước
phương Tây có hình thức kinh doanh mại dâm một kiểu khác so với phương
Đông, cũng chính vì chỉ những người đàn ông phương Đông mới biêt mua
dâm ở đâu vì vậy mà chúng ta ít có thể biết là phụ nữ phương Đông bán dâm
chủ yếu cho đàn ông phương Đông. Và tác giả còn chỉ cho chúng ta biết hình
thức tồn tại của các nhà chứa điển hình ở phương Đông, cũng vì phương
Đông ngăn cấm mại dâm nên nhà chứa cả phương Đông phải ngụy trang
dưới nhiều hình thức khác nhau, làm chúng ta có thể nhầm tưởng không phải
đó là ổ mại dâm. Qua đó tác giả cũng cho chúng ta biết điều kiện
 sống của những cô gái hành nghề mại dâm ở các đất nước này, tùy theo mức
độ giàu nghèo của quốc gia nơi họ làm việc mà nhà chứa có thể là một nơi
lộng lẫy xa hoa hay là một địa ngục không lối thoát. Những người bị bán vào
những nhà chứa được ví như địa ngục chủ yếu đến từ các nước nghèo bán
sang các nước giàu…và cũng có dòng gái mại dâm di chuyển sang các nước
giàu để hành nghề. Gọi hiện tượng này đối với các nước nghèo la xuất khẩu
mại dâm, còn các nước giàu là nhập khẩu, ở Nhật Bản có đến 100 nghìn
người Thái Lan và Mianma hành nghề mại dâm, Philippin cũng tham gia vào
đại hội mại dâm khi đưa những phụ nữ sang Nhật.
 Chương 2 : Hàng hóa. Mại dâm là một nghề sinh lời. Nó mang lại lợi ích cho
nhiều người, nhưng không nhất thiêt là những cô gái bán mình. Giữa mại
dâm, buôn bán phụ nữ với nghèo đói có mối liên hệ rất phức tạp nhưng mại

của khách hàng. Còn ở châu Á, khách hàng thấy sợ khi đối mặt với những cô
gái quá hiểu biết về tình dục. Đàn ông châu Á không mua kinh nghiệm tình
dục mà họ mua những cô gái trinh trắng, thường ngây ngô và sợ hãi và đảm
bảo không nhiễm HIV/AIDS.. thường thì giá của những cô gái này rất cao.
 Chương 5 : Khách hàng . Để hiểu rõ về mại dâm, nô lệ tình dục và nạn nhân
buôn bán phụ nữ… Phải xem xét các câu hơi thường bị loại ra khỏi những
cuộc khảo sát cần đả động đến và tìm ra câu trả lời những câu trả lời thích
đáng cho chúng. Khách hàng là ai ? Ai đã bỏ tiền mua những cô gái bị chôn
chân làm nô lệ tình dục ? Chúng ta biết khá nhiều về gái mại dâm nhưng
chúng ta biết rất ít về các khách hàng mua dâm. Người ta thấy việc trả lời
những câu hỏi đó rất khó khăn, vì không có đủ thông tin cần thiết của các
khách hàng thương mại tình dục. Thông tin mại dâm chỉ tập trung về nạn
nhân của mại dâm và buôn bán người là phụ nữ và trẻ em. Ở châu Á, người ta
vẫn thường ngại ngùng khi băt tay vào nghiên cứu hay trao đổi về vấn đề tình
dục…
 Chương 6 : Quản lý. Mại dâm không phải là một lĩnh vực thứ yếu của xã hội.
Nó không chỉ đơn giản là một gốc tối đồi bại mà ở đó thói xấu của xã hội, sinh
lý và tâm sinh lý được phơi bày và chẳng bị ai chú ý đến. Mại dâm là một bộ
phận của cấu trúc xã hội của mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gi châu Á. Nó
là một phần của những nét trang trí, là bộ phận hữu cở của các mặt kinh tế,
chính trị, văn hóa. Trực tiếp hay gián tiếp thì mại dâm cũng ảnh hưởng, tác
đông đến mọi người. Mại dâm là một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận, một
ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ bằng việc cung cấp các cô gái trẻ đẹp.
Quy mô của mại dâm tình dục trong khu vực châu Á rất cao. Người ta ước tính
lợi nhuận hằng năm của Nhật Bản giữa nhưng năm 90 thế kỉ trước là 4,2 tỷ
yên, công nghiệp tình dục ở Indonesia chiếm từ 0.8% - 2.4% GDP trong cùng
thời gian, Thái Lan từ 1993 – 1995 lợi nhuận từ mại dâm gấp 3 lần lợi nhuận
từ buôn bán ma túy.. Các mạng lưới tội phạm có tổ chức quản lý khu vực lớn
của công nghiệp tình dục châu Á. Thông thường thì các tổ chức tội phạm
không điều hành các công việc hằng ngày của hoạt động kinh doanh, nhưng

 Chương 9 : Sự tủi nhục. Để trở thành gái mại dâm đã là một chuyện không
đơn giản nhưng để từ bỏ nó là cả một vấn đề, đặc biệt điều này thể hiện rõ
ràng ở các nước châu Á. Đó là bởi vì đa phần các phụ nữ trong khu vực này
còn bị đánh giá qua quan hệ với đàn ông. Dù là tự nguyện hay bị ép buột khi
tham gia mại dâm họ sẽ mang vết nhơ đến hết quãng đời còn lại. Thân xác họ
có thể thoát ra khỏi nhà chứa nhưng họ mãi mãi là gái điếm. Họ sẽ mãi mãi
phải hổ thện về việc làm của mình mà không thể chia sẽ nổi lòng cho ai, du
người đó sẵn lòng thông cảm và lắng nghe họ, Chính vấn đề tình dục đã khiến
họ phải im lặng trong sự hổ then vì dư luận cho rằng gái điếm là một tội phạm
thoái hóa biến chất chứ không phải là một nạn nhân của xã hội bất công hay
là những định luật tai ác về tình dục…

 Nhận xét chung : Những tài liệu nghiên cưu, báo cáo chuyên đề trên có cả
trong và người nước, các nghiên cứu cho thấy mại dâm là một hoạt động xấu,
là hoạt động gây ra nhiều vấn đề cho toàn xã hội, như nguyên nhân lây truyền
căn bệnh HIV/AIDS, mất thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc. Đáng quan
ngại hơn là hiện tượng mại dâm ngày càng phát triển, không những chỉ
những vùng đói nghèo, trình độ thấp, lạc hậu trước đây… Mà mại dâm ngày
nay còn xuất hiện và phát triển mạnh ở cả những nơi hiện đại, con người
trinh độ cao, những con người nổi tiếng. Trước đây vì nghèo khổ buột một bộ
phận người bán dâm từ nông thôn tìm ra đô thị sinh sống, rồi đi vào con
đường mại dâm, còn ngày nay con người ở trình độ cao, không thiếu thôn về
vật chất tinh thần lại là những người tham gia hoạt động mại dâm. Dường
như đã thành một trào lưu người nổi tiếng người trình độ cao tham gia mại
dâm. Vậy qua nghiên cứu này, tìm ra đâu là nhận định, ý kiến quan điểm của
sinh viên trường ĐHKHXH&NV ( là những con người trình độ cao, đại diên cho
lớp trẻ, … lại được đào tạo chuyên sâu về con người và xã hội ) như thế nào?
 PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH

I. MẠI DÂM VÀ TÌNH HÌNH MẠI DÂM.

• Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về mại dâm cho rằng: “mại dâm là
một dịch vụ kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa mãn tình dục cho cá
nhân trong những trường hợp nhất định, nó cung cấp tình dục mang
tính cách đồi trụy và tạo ra không khí vô đạo đức đáng ngờ và nguy
hiểm, tác dụng như thuốc kích thích đối với một số người nhất định, nó
cung cấp và đáp ứng như cầu tình dục cho những người không cần sự
gắn bó về tình cảm”.Vì vậy, một hành vi được coi là mại dâm khi có các
dấu hiệu đặc trưng cơ bản là có sự quan hệ trao đổi tình dục ngoài hôn
nhân và quan hệ đó có bên mua và bên bán. Mua dâm và bán dâm là
những hành vi được thực hiện ít nhất cũng là từ khi con người biết đến
lịch sử của mình và ở một chừng mực nào đó. Mua dâm là dùng vật
chất để đổi lấy sự thỏa mãn tình dục cho bản thân mình.[4]
• Tương tự chúng ta cũng có những khái niệm liên quan: gái mại
dâm, cave, gái đĩ, gái điếm hay gái đứng đường là những phụ nữ phục
vụ đàn ông thỏa mãn hành vi tình dục ngoài hôn nhân để được trả
tiền hoặc được hưởng các lợi ích vật chất khác.

• Các từ lóng: Tương tự chúng ta cũng có những khái niệm liên quan: gái
mại dâm, cave, gái đĩ, gái điếm hay gái đứng đường là những phụ nữ
phục vụ đàn ông thỏa mãn hành vi tình dục ngoài hôn nhân để được
trảtiền hoặc được hưởng các lợi ích vật chất khác.Do sự đa dạng về
hình thức hoạt động, nên đã xuất hiện những tên gọi khác nhau để chỉ
đến gái mại dâm. Trong tiếng Việt có nhiều tên gọi khác nhau để nói về
đối tượng này như: gái làng chơi, gái bán hoa, đĩ, gái bán dâm, gái lầu
xanh, gái điếm, gái giang hồ, gái bao, gái gọi, kỹ nữ, cave (từ tiếng
Pháp cavalière, nghĩa là "bạn nhảy nữ" hay "gái nhảy"), gái làm
tiền,"hàng", phò, phạch, bớp...Một số từ điển dùng cụm từ gái mãi
dâm thay cho gái mại dâm, tuy nhiên nếu cho rằng cụm từ mãi, mại có
nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc thì mãi là mua, mại là bán (thương mại
là buôn bán chẳng hạn) thì dùng cụm gái mại dâm chính xác hơn.[5]

nhiều giai đoạn gồm:

• Thời cổ đại

 + Từ thời thượng cổ trước đây hơn 4.000 năm, ví dụ như tại Babylon, đã tồn
tại cái gọi là mại dâm tôn giáo. Đổi lại quà tặng, những người phụ nữ ở đó
thực hiện những hành động tình dục. Nhưng điều này có liên quan đến việc
thờ cúng thần thánh (một dạng của hiến tế) nên bản chất của nó không giống
như mại dâm ngày nay. Nó được xem là một hành động tế lễ, hiến lễ chứ
không phải là hành động tình dục vì mục đích vật chất, mà ngày nay mai dâm
mang nghĩa. Ở nhiều đền thờ nhiều thiếu nữ thực hiện hành vi tình dục ngay
trong đền thờ, nhưng hành đồng đó được xem là hành động dân hiến, hành
động thần thánh. Mại dâm lúc này mang nghĩa là một hành vi tốt đẹp của
những con người tốt lành.

 + Phải tới thời Thượng cổ Hy Lạp (2.700 năm trước), phụ nữ mại dâm
(hetaera) dưới khái niệm ngày nay mới ra đời, tức là vì vật chất chứ không
phải tế lễ. Các cuộc hành quân của Alexander Đại Đế cũng đã được tháp tùng
bởi nhiều gái mại dâm. Trong Hy Lạp cổ đã phân biệt rõ những gái mại dâm
bình thường (porna) và phụ nữ mua vui hạng sang (hetaera):Ngược với gái
mại dâm thông thường, phụ nữ mua vui hạng sang có học thức, được đào tạo
về âm nhạc và khiêu vũ và được phép (ngược với người vợ) có mặt trong lúc
đàn ông họp mặt và cùng nói chuyện về chính trị. Người phụ nữ này có địa vị
rất cao trong xã hội, đến thăm viếng họ không có nghĩa là ngoại tình, và họ
mua vui cho đàn ông bằng nghệ thuật, thi ca chứ không bán dâm (xem
Geisha).Gái mại dâm bình thường (porna) phần nhiều là nữ nô lệ được trả tự
do phải lang thang kiếm sống trên đường phố.

 + Trong Đế chế La Mã làm việc này phần lớn là những nô lệ nam và nữ. Mại
dâm ở Roma thời Cổ đại đã có những chuyên môn hóa giống như ngày nay: có

bán, muốn trao đổi thì trao đôi, mang tính cá nhân nhiều hơn thời kì này. Một
trong những nhà chứa lâu đời nhất của Đức (vẫn còn hoạt động) ở tại
Minden. Một điều mỉa mai là dù giáo lý Thiên Chúa giáo lên án nghiêm khắc
mại dâm, dòng tu hay nhà thờ nhiều lúc lại là người điều hành các nhà chứa
này. Ngoài ra còn có người mại dâm đi khắp nước để kiếm tiền trong các chợ
phiên và dịp lễ nhà thờ. Hoạt động mại dâm ngày càng mở rộng phạm vi cũng
như số lượng người tham gia vào hoạt động này.

 + Việc tìm đến tình yêu có thể mua bán này được coi như là một điều xấu miễn
cưỡng nhưng cần thiết để thỏa mãn những đội lính đánh thuê mà các lãnh
chúa châu Âu phong kiến tuyển mộ. Đội lính đánh thuê thực sự là một nguyên
nhân để các lãnh chúa mở cho riêng lãnh địa của mình những nhà chứa, thõa
mãn những nhu cầu cơ bản của đọi lính đánh thuê vốn thiếu thốn và rất cần
tình dục, mại dâm đã đem lại điều đó. Mại dâm thời kì này các lãnh chúa xây
dựng các nhà chứa không chỉ phục vụ cho riêng binh sĩ mà là phục vụ đại
chúng. Trong thành phố thời Trung cổ các nhà chứa thường được đặt trước
hay ngay sau thành lũy để người qua đường đi qua đó trước khi vào thành
phố.Tuy nhiên mại dâm thời kì này chưa thực sự phổ biến.

• Thời bắt đầu công nghiệp hóa

 + Tại châu Âu con số người bán dâm tăng nhanh đặc biệt là trong thế kỷ 19.
Việc di dân vào thành phố ngày càng tăng dẫn đến một phần ngày càng đông
của dân cư thành phố không có thu nhập đủ cho cuộc sống, đặc biệt là phụ nữ,
là những người thông thường chỉ có trình độ thấp và chỉ nhận được những
nghề mà tiền lương thấp. Điều này khiến cho lượng phụ nữ mới di dân vào
này tiếp cận đến một nghề mang lại lợi nhuận cao, và dễ dàng là mại dâm.
Con đường đến với mại dâm có thể khác nhau về hình thức giữa các phụ nữ
này, nhưng chung quy cũng là vấn đề tiền bạc. Việc bán dâm phụ vụ nhu cầu
của các đấng mày râu đã mang lại cho những người phụ nữ này những nguồn

vụ binh lính.Hàng ngàn phụ nữ được đưa đến các nhà chứa này với cung viec
chủ yếu là thõa mãn nhu câu của đám quân lính. Những người phụ nữ nào
nhiễm bệnh hoa liễu trong hình thức lao động cưỡng bức này thường chết
trong trại thủ tiêu hay bị giết chết. Một ví dụ khác: Nhật Bản, trong thế chiến
cũng đưa đến trại lính hang loạt những người phụ nữ, để thõa mãn thú tính
của họ. Những người được gọi trại đi là "đàn bà an ủi", phần nhiều là phụ nữ
Trung Quốc hay Triều Tiên, cũng bị đe dọa tương tự. Chính phủ Trung Quốc và
Triều Tiên luôn coi đây là nỗi nhục to lớn với dân tộc mình, và luôn yêu cầu
Nhật Bản phải chính thức xin lỗi và bồi thường cho những nạn nhân này.

 + Ngoài hai loại lính nhà nghè mại dâm trên là Đức quốc xã và lính Nhât, thì
lính Mỹ là loại lính đi đâu, đánh đâu cũng gắn với mại dâm. Trong suốt cuộc
chiến Việt Nam, Mỹ đã ký một hiệp định với Thái Lan năm 1967 để cung cấp
mại dâm cho binh sĩ. Hiệp định này mở cửa cho luồng đôla đổ vào nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status