TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGHỊ VIỆN CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 26

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
THƯ VIỆN QUỐC HỘI
o0o TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGHỊ VIỆN
CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
(Phục vụ hoạt động của Tổ biên tập, Ban soạn thảo
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân)

sát trong những trường hợp riêng biệt có thể lan rộng ra nguyên thủ quốc gia, tư
pháp, chính quyền địa phương, quân đội Sự giám sát đối với hành pháp thường
mang tính chất chính trị, có nghĩa là tập trung vào hoạt động chính trị của Chính
phủ và các thành viên, mặc dù đôi khi được thực hiện bằng các hình thức pháp lý.
Trong khi đó, đối với các đối tượng khác, giám sát hoàn toàn mang tính chất pháp
lý: nếu không tìm thấy sự vi phạm các quy phạm pháp luật thì không làm phát
sinh hậu quả pháp lý tiêu cực đối với các cơ quan, tổ chức, các nhà chức trách.
Trong những trường hợp riêng biệt, đối tượng giám sát của Nghị viện có thể là
hoạt động của các tập đoàn nhà nước hoặc tư nhân nếu chúng thực hiện những
chức năng công quyền.
1.1.3 Trách nhiệm chính trị và trách nhiệm giải trình
Các nội dung lớn của hoạt động giám sát gồm có trách nhiệm chính trị
(responsibility) và trách nhiệm giải trình (accountability) của Chính phủ. 1
. John K. Johnson, Robert T. Nakamura, (2011).
2

Trách nhiệm chính trị: Trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị
viện chỉ có ở các nước thuộc chính thể đại nghị và hỗn hợp; hàm ý trách nhiệm
về các chính sách của Chính phủ (có những trường hợp đó là trách nhiệm về hành
vi đạo đức của các thành viên Chính phủ).
Trách nhiệm chính trị của Chính
phủ trước Nghị viện ở nhiều nước tạo cơ
sở cho hệ thống giám sát của Nghị viện.
Ví dụ điển hình ở đây là nước Anh. Hệ
thống trách nhiệm chính trị của Chính
phủ trước Nghị viện Anh bao hàm việc
Chính phủ được thành lập từ các thành

2
. Hironori Yamamoto (2007), Tools for Parliamentary Oversight – A Comparative Study of 88 National
Parliaments, IPU.
Trách nhiệm chính trị của Chính
phủ là những gì phải làm theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật,
theo ủy quyền của nhân dân, của
Nghị viện. Trách nhiệm giải trình
hàm ý phải báo cáo, giải thích về
những gì đã làm hoặc không làm
theo trách nhiệm chính trị.
3

phổ biến nhất là chất vấn, các phiên hỏi đáp, thành lập các cơ quan điều tra, điều
trần tại ủy ban, điều trần tại các phiên họp toàn thể của Nghị viện, thanh tra Quốc
hội và bỏ phiếu bất tín nhiệm.
Một nghiên cứu khảo sát 82 Nghị viện vào năm 2001 cho thấy có những
biến đổi đáng chú ý về mức độ phổ biến của các công cụ trong hoạt động giám sát
của Nghị viện. Ví dụ, các nghị sĩ có thể đặt câu hỏi miệng hoặc câu hỏi bằng văn
bản đối với Chính phủ ở 79 trên tổng số 82 nước, chiếm đến 96,3% số nước có số
liệu. Thành lập ủy ban điều tra và điều trần ở ủy ban cũng là những công cụ phổ
biến trong hoạt động giám sát của các Nghị viện với tỷ lệ sử dụng trên 95%.
Ngược lại, chất vấn và thanh tra Quốc hội ít phổ biến hơn một cách rõ rệt theo đó
thủ tục chất vấn Chính phủ được sử dụng ở 75% số nước và văn phòng thanh tra
Quốc hội chỉ xuất hiện ở 73%.
Bảng 1: Mức độ phổ biến của các công cụ giám sát
3

Điều trần
tại Ủy ban

76
95,9
73
96,3
82
84
75
75,4
65
72,7
77
Số liệu của IPU và WBI còn cho thấy sự liên hệ giữa công cụ và kiểu giám
sát với một yếu tố thể chế khác là hình thức chính thể. Điều trần tại Ủy ban, điều
trần tại phiên họp toàn thể, phiên hỏi - đáp và chất vấn thường được sử dụng phổ
biến hơn ở các nước theo mô hình chính thể đại nghị so với các nước theo chính
thể tổng thống và bán tổng thống. Chính vì vậy, cơ quan lập pháp ở hệ thống chính
thể đại nghị có nhiều công cụ giám sát hơn để lựa chọn so với các cơ quan lập
pháp ở mô hình tổng thống lẫn mô hình bán tổng thống.
2 QUY TRÌNH GIÁM SÁT
Thủ tục giám sát ở các nước khác nhau có những điểm khác nhau tuỳ thuộc
vào chính thể của nhà nước đó và những đặc điểm riêng trong hệ thống chính trị
của từng quốc gia. Xét về tổng thể thì hầu hết mọi hoạt động của Nghị viện, dù ở
chính thể nào cũng có ý nghĩa giám sát hoạt động của Chính phủ, từ hoạt động
lập pháp, thông qua ngân sách cho đến việc đàn hạch, luận tội Chính phủ.
Tuy nhiên, nếu xét về mặt thủ tục, thì hoạt động giám sát của Nghị viện các
nước tập trung ở một số thủ tục sau: 3
. Riccardo Pelizzo và Rick Stapenhurst (chủ biên) (2006), Cơ quan lập pháp và hoạt động giám sát, Viện Ngân

Theo một cuộc khảo sát, trong số 88 Nghị viện, có 67 Nghị viện dành một
thời gian nhất định cho phiên hỏi – đáp với Chính phủ. Trong số 67 nước nói
trên, hiến pháp của 8 nước quy định tần suất các phiên hỏi – đáp trong tuần; ở
25 nước hiến pháp không quy định rõ tần suất.
Tại 12 nước, có từ 3 phiên hỏi – đáp trở lên mỗi tuần, ví dụ ở Hạ viện Úc
hàng ngày từ thứ Hai đến thứ Năm phiên hỏi – đáp diễn ra từ 14h – 15h30; tại
35 nước có 1 hoặc 2 phiên; ở 10 nước ít hơn một phiên hỏi đáp/tuần, ví dụ 1
lần một tháng ở Magadascar và Tunisia; còn ở 10 nước các phiên hỏi – đáp
không theo một lịch trình định kỳ thường xuyên.
Tần suất xuất hiện của người đứng đầu hành pháp khác nhau ở các nước,
từ 2 lần/tuần ở Ai Len, hoặc một lần trong một giai đoạn nhất định ở Estonia.
Ở một số Nghị viện, nhân vậy này phải có mặt ở tất cả các phiên hỏi – đáp như
Thủ tướng Bulgaria.
Thủ tục hỏi – đáp được thực hiện theo hai hình thức: Câu hỏi miệng và câu
hỏi viết.
- Câu hỏi miệng do nghị sỹ đặt ra để yêu cầu các thành viên của Chính phủ
trả lời mình trực tiếp bằng miệng trong một khoảng thời gian nhất định đã được 4
. Xem thêm về khái niệm và mức độ phổ biến của hình thức hỏi – đáp tại mục 3.2.3, Chương II.
5
. Xem thêm Mục 4.2, Chương IV về thủ tục tiến hành hỏi – đáp.
6
. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn.
5

đưa vào lịch làm việc định kỳ của Nghị viện gọi là “Thời gian dành cho các câu
hỏi” (Question Time). Ở Viện dân biểu Vương quốc Anh, thời gian dành cho các
câu hỏi thường được tổ chức trong khoảng thời gian từ 2 giờ 20 đến 3 giờ 30 chiều

.
2.2

Thủ tục chất vấn
Với ít nhiều điểm khác nhau ở các nước, chất vấn (interpellation) được định
nghĩa là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng, hay các thành viên của Chính phủ
ra trước phiên họp toàn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia, hay một
vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia. Khác với hỏi – đáp, chất vấn thường đề cập
đến các vấn đề có tầm quan trọng quốc gia, ví dụ ở Hạ viện Bỉ không được chất 7
. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn.
8
. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn.
9
. Xem Tài liệu của cơ quan thông tin Nghị viện Anh, Factsheet 46: Parliamentary question, ở website:
http://www.parliament.uk
6

vấn về các vấn đề địa phương, hoặc các vấn đề lợi ích riêng tư. Trong nhiều trường
hợp, có thể diễn ra biểu quyết sau khi chất vấn, thậm chí dẫn đến kiến nghị về bất
tín nhiệm Chính phủ.
Hình 1: Thủ tục tiến hành chất vấn

Các nhóm đảng trong Nghị viện thường đóng vai trò quan trọng trong chất
vấn. Không chỉ một số Nghị viện cho phép các nhóm đảng nêu chất vấn, mà ở
nhiều nước, các nhóm đảng còn kiểm soát việc khởi xướng chất vấn của nghị sỹ
thuộc nhóm mình, ví dụ ở Hạ viện Bỉ, các nghị sỹ phải nhận được sự đồng ý của
nhóm đảng mới được đưa chất vấn ra nghị trường. Thông thường, các nhóm đảng

7

hộ của một số lượng nghị sỹ nào đó hoặc thậm chí của đa số nghị sỹ. Không chỉ
thế, theo kiến nghị của nghị sỹ, toàn thể Nghị viện có thể tranh luận về vấn đề nêu
trong chất vấn. Chẳng hạn ở Nghị viện Estonia, chất vấn được khởi xướng bởi
yêu cầu bằng văn bản của cá nhân các nghị sỹ. Sau khi bộ trưởng trả lời, người
nêu chất vấn bắt đầu cuộc tranh luận. Tiếp đó, đại diện các nhóm đảng và các ủy
ban phát biểu về vấn đề được nêu. Nghị viện một số nước quy định chất vấn diễn
ra định kỳ, ví dụ một lần một tuần như ở Thụy Điển
10
.
Yêu cầu chất vấn thường được gửi đến Chủ tịch Nghị viện, và người này
có trách nhiệm chuyển yêu cầu chất vấn tới Thủ tướng, hoặc thành viên của Chính
phủ có trách nhiệm trả lời chất vấn.
b) Xác định ngày chất vấn
Việc xác định thời gian tiến hành phiên họp toàn thể để thực hiện thủ tục
chất vấn có ý nghĩa rất quan trọng bởi bản thân câu hỏi chất vấn có mục đích xem
xét trách nhiệm của Thủ tướng và thành viên của Chính phủ nên câu chất vấn phải
nêu ra đúng thời điểm, theo ý của người yêu cầu.
Để xác định thời gian tiến hành chất vấn, rất nhiều nước đi theo hướng quy
định Văn phòng Nghị viện và Chính phủ sẽ thảo luận để đi đến một thoả thuận.
Thời điểm này thường được xác định làm sao cho nghị viên vẫn có thời gian chất
vấn, còn các thành viên của Chính phủ cũng có đủ thời gian chuẩn bị câu trả lời.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ
không muốn trả lời câu hỏi chất vấn thì sao. Pháp luật của một số nước như Thụy
Điển giải quyết vấn đề này bằng cách chấp nhận việc không trả lời này, nhưng đi
kèm với nó là uy tín chính trị của Thủ tướng, hoặc các thành viên Chính phủ sẽ bị
giảm sút. Một số nước khác lại quy định, nếu Chính phủ không trả lời chất vấn
trong một thời gian nhất định thì với yêu cầu của một lượng nghị sỹ nhất định,
Nghị viện đơn phương xác định thời gian chất vấn và thông báo cho Chính phủ.

đạt được mục đích vốn có của nó và Nghị viện lúc này chỉ còn mang ý nghĩa hình
thức trước hành pháp.
Truyền thống Nghị viện nhiều nước ghi nhận có ba hình thức biểu quyết để
xác định ý kiến của Nghị viện.
Thứ nhất, Nghị viện biểu quyết thoả mãn về sự trả lời của Thủ tướng hoặc
các thành viên của Chính phủ. Theo cách thức này, vấn đề tín nhiệm đối với Thủ
tướng hoặc các thành viên của Chính phủ không phải đặt ra.
Thứ hai, Nghị viện biểu quyết không thoả mãn. Với kết quả này, Nghị viện
sẽ có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với Chính phủ theo chế độ trách nhiệm tập
thể hoặc có thể đưa ra các khuyến nghị từ chức đối với các thành viên của Chính
phủ (thông thường các thành viên này sẽ buộc phải từ chức để tránh sự sụp đổ tập
thể của Chính phủ). Tuy nhiên, ở một số nước có thể chế hỗn hợp như Pháp, Italia,
thì cho dù Nghị viện biểu quyết không thoả mãn thì Chính phủ cũng không bị
buộc phải giải tán nhưng uy tín của họ sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và cũng thường
dẫn đến việc từ chức.
Thứ ba, Nghị viện biểu quyết một cách trung dung, không bao hàm ý nghĩa
tán thành hay không tán thành với câu trả lời. Trong trường hợp này, Nghị viện
không thảo luận gì thêm và tiếp tục nghị trình.
Như vậy, nếu theo cách hiểu truyền thống như trên, thủ tục chất vấn ở Việt
Nam gần với thủ tục đặt câu hỏi được đề cập ở mục dưới đây nhiều hơn. Đặc biệt,
sau khi kết thúc quá trình chất vấn, Quốc hội Việt Nam cũng thường ra nghị quyết
về chất vấn nhưng thường chỉ nêu các khuyến nghị liên quan đến các vấn đề chất
9

vấn mà ít khi đặt vấn đề về thoả mãn hay không thoả mãn đối với kết quả trả lời
chất vấn.
2.3

Thủ tục điều tra của Uỷ ban điều tra
Việc thành lập Uỷ ban điều tra xuất hiện

viện tự ý tiến hành miễn là đối tượng của các cuộc điều tra thuộc thẩm quyền của
Uỷ ban. Thông thường, hoạt động điều tra của các uỷ ban thường trực trong Nghị
viện Mỹ do các tiểu ban tiến hành, bởi vì các uỷ ban không muốn công việc của 11
. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn; Wilhelm Lehmann (2010), Parliamentary committees of inquiry in
national systems: a comparative survey of EU Member States, European Parliament.
Quyền thành lập các uỷ
ban điều tra là một quyền
rất tự nhiên của Nghị
viện, xuất phát từ nguyên
tắc Nghị viện có quyền
được thông tin đầy đủ
10

mình bị ngưng trệ, nhất là trong điều kiện khối lượng công việc thường xuyên của
các uỷ ban trong Nghị viện Hoa Kỳ là rất lớn.
Uỷ ban điều tra cũng có thể được Nghị viện thành lập theo phương thức
đặc biệt. Mỗi Viện của Nghị viện Hoa Kỳ có thể thành lập trong Viện mình các
uỷ ban điều tra, hoặc cũng có khi cả hai Viện cùng nhau thành lập Uỷ ban điều tra
chung. Uỷ ban điều tra được thành lập theo dạng này không phải chỉ có các thành
viên là nghị sỹ mà cũng có thể có thành viên là các nhân vật ngoài Nghị viện, có
tiếng là vô tư, công bằng và có uy tín về chuyên môn.
Thủ tục thành lập Uỷ ban điều tra thường cũng rất đơn giản. theo yêu cầu
của các nghị sỹ, Nghị viện chỉ cần biểu quyết việc thành lập uỷ ban, chỉ định các
thành viên, bầu chủ tịch uỷ ban (thông thường là người của đảng đa số trong Nghị
viện) và xác định kinh phí cho hoạt động của Uỷ ban.
b) Đối tượng điều tra của Uỷ ban điều tra
Đối tượng điều tra của các uỷ ban thường rất lớn, bao hàm rất nhiều vấn đề.

Thứ nhất, không thoả mãn với việc thực hiện chính sách của hành pháp;
Thứ hai, đồng ý với việc thực hiện chính sách của hành pháp;
Thứ ba, không thể hiện ý kiến gì.
Khi Nghị viện thể hiện ý kiến không đồng ý, nếu đó là ý kiến xác đáng thì
hành pháp sẽ phải tự động thực hiện theo các khuyến nghị do Uỷ ban điều tra đưa
ra trước khi để vấn đề đó làm quan hệ giữa hành pháp và lập pháp trở nên quá
căng thẳng.
2.4

Điều trần tại ủy ban của Nghị viện
Điều trần ở Ủy ban của Nghị viện trở thành một phần không thể thiếu trong
hoạt động lập pháp, giám sát của Nghị viện các nước. Theo Viện Ngân hàng thế
giới, vào năm 2001, trong số trên 80 Nghị viện được khảo sát, có trên 70 Nghị
viện áp dụng điều trần trong hoạt động của Ủy ban
12
.
Khái niệm: Nghĩa gốc tiếng Anh của điều trần là nghe (hearings) - ủy ban
nghe thông tin từ tất cả các bên liên quan về vấn đề mà ủy ban đang quan tâm.
Như vậy, điều trần là một quá trình bao gồm một hoặc nhiều phiên họp chính thức
để Ủy ban nghe tất cả các bên liên quan cung cấp thông tin, quan điểm, chứng cứ
về những nội dung quan trọng trong một dự luật, hoặc một vấn đề, vụ việc đang
thu hút sự chú ý của công chúng cần giám sát. Từ đó, Ủy ban sẽ ra báo cáo điều
trần kiến nghị về dự luật hoặc có kiến nghị giám sát buộc Chính phủ phải có phản
hồi về những khuyến nghị đưa ra trong báo cáo, thường là với những biện pháp
cải thiện tình hình
13
.
Bảng 1: Sự khác nhau giữa điều trần và chất vấn
ĐIỀU TRẦN
CHẤT VẤN

nghe; không nói với nhau.
Hỏi – đáp trực tiếp
Thành viên Ủy ban chỉ nghe và hỏi,
không tỏ thái độ
Nghị sỹ chất vấn có thể tỏ thái độ, ý kiến
Chuyên sâu, kỹ lưỡng, kéo dài nhiều
phiên
Chỉ diễn ra trong một phiên họp toàn thể
Là cơ sở để Ủy ban ra báo cáo kiến
nghị tiếp
Quốc hội có thể ra Nghị quyết đánh giá
Báo cáo điều trần là cơ sở để Nghị viện
quyết định về dự luật hoặc vấn đề giám
sát
Là một nguồn cho cá nhân nghị sỹ khác
cân nhắc
Khuôn khổ pháp lý: Điều trần của Ủy ban thường được quy định trong
nội quy của Nghị viện; hoặc ở một số nước, đạo luật về tổ chức và hoạt động của
Nghị viện như ở Nhật Bản, Hàn Quốc có đề cập đến hoạt động điều trần của Ủy
ban. Theo một khảo sát của Liên minh Nghị viện thế giới, có 71 trên 88 nước có
quy định về điều trần tại Ủy ban của Nghị viện
14
. Tuy nhiên, mức độ đề cập đến
hoạt động điều trần ở văn bản của các nước tương đối khác nhau. Trong khi ở
Malaysia, Nội quy của Hạ viện chỉ có một vài điều quy định một cách chưa rõ
ràng về hoạt động điều trần thì Nội quy của Thượng Nghị viện Nhật Bản lại dành
riêng một mục để quy định về hoạt động này.
Các chủ thể tham gia điều trần: Điều trần là một quá trình với sự tham
gia của nhiều người - các thành viên Ủy ban, đại diện của các cơ quan Chính phủ,
các nhân chứng, cán bộ phục vụ ủy ban, báo chí và công chúng. Mỗi người đều

2.5

Thủ tục xem xét tín nhiệm của Chính phủ
Thủ tục này hầu như chỉ tồn tại ở những nước có Chính phủ do Nghị viện
thành lập. Việc giải tán Chính phủ xuất phát từ việc Chính phủ phải chịu trách
nhiệm về hoạt động của mình trước Nghị viện.
Thường thì thủ tục xem xét tín nhiệm của Chính phủ được bắt đầu bằng hai
cách:
Thứ nhất, Chính phủ tự đặt vấn đề tín nhiệm ra trước Nghị viện để kiểm tra
mức độ tín nhiệm của Nghị viện đối với mình hoặc để gây sức ép với Nghị viện
trong việc xem xét, thông qua một vấn đề nào đó (có thể là một chính sách, đường
lối, dự luật). Thủ tục này còn được gọi là thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu không
đạt được kết quả mong muốn, Chính phủ sẽ tự từ chức tập thể. Đây là một phương
thức khá hiệu quả để gây sức ép đối với Nghị viện, nhưng thông thường Chính
phủ các nước chỉ sử dụng biện pháp này khi tin chắc vào lợi thế tương quan lực
lượng của mình vào thời điểm bỏ phiếu.
Thứ hai, Nghị viện đưa vấn đề bất tín nhiệm ra biểu quyết. Thủ tục này còn
được gọi là bỏ phiếu bất tín nhiệm, thường được tiếp nối sau khi có kết quả của
các thủ tục chất vấn, kết quả điều tra của Uỷ ban điều tra hoặc thủ tục đặt câu hỏi
mà qua đó Nghị viện thấy rằng Chính phủ không còn đủ tín nhiệm để tiếp tục thực
hiện nhiệm vụ. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm còn thể hiện thái độ không đồng tình
của Nghị viện đối với đường lối, chính sách, những động thái cụ thể nào đó hoặc
dự luật của Chính phủ. Bỏ phiếu bất tín nhiệm nếu được thông qua có thể kéo theo
14

sự từ chức của Chính phủ và có thể có sự giải tán Nghị viện (nếu có quy định). Ở
nhiều nước, cuộc bỏ phiếu chỉ được công nhận nếu Nghị viện không chỉ thông
qua nghị quyết bất tín nhiệm mà còn xác định được người đứng đầu Chính phủ
mới.
Ngoài ra, cũng có những trường hợp Nghị viện không cần phải đưa ra vấn

được Nghị viện bỏ phiếu khẳng định lại hoặc Chính phủ phải từ chức.
Trên thực tế bỏ phiếu bất tín nhiệm ít được sử dụng vì điều kiện khắt khe
nói trên, cộng với hệ quả của nó. Trong khảo sát của IPU, đại diện của 30 Nghị
viện trong số 64 nước có quy định về bỏ phiếu bất tín nhiệm cho biết họ chưa bao 15
. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn.
15

giờ sử dụng hình thức giám sát này. Trong số những nước đã từng áp dụng, tỷ lệ
thành công không được cao.
Hộp 2: Vài con số thống kê về bỏ phiếu bất tín nhiệm
16

Trong số 88 nước được khảo sát, 64 Nghị viện có quyền bỏ phiếu bất tín
nhiệm Chính phủ, trong đó 36 nước theo chế độ đại nghị, 10 nước theo chế độ
tổng thống, 18 nước theo chế độ hỗn hợp; các nước còn lại đại đa số với chế
độ tổng thống không thừa nhận hình thức bỏ phiếu này.
Trong số 88 nước, Nghị viện 14 nước không có quy định cụ thể về số
lượng nghị sỹ đủ để kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm; ở 14 nước con số này ít
hơn 1/5 tổng số nghị sỹ; ở 14 nước phải có từ 1/5 cho đến 1/3 tổng số nghị sỹ
cùng ký, kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm mới được đưa ra thảo luận; 13 nước
yêu cầu phải hơn 1/3 tổng số nghị sỹ, ví dụ ở Madagascar tỷ lệ này là hơn 50%.
Các nước còn lại không có thông tin về vấn đề này.
Để kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm được thông qua, 16 nước đòi hỏi chỉ
cần trên 50% số nghị sỹ có mặt đồng ý; 33 nước cần phải có trên 50% tổng số
nghị sỹ; còn ở 8 nước, phải có đa số nhất định như 3/5 hoặc 2/3 tổng số nghị sỹ
của viện.
Ở 35 nước trên 88 nước, Nghị viện chỉ được bỏ phiếu bất tín nhiệm đối

. Hironori Yamamoto (2007), đã dẫn.
18
. Dẫn trên.
16

tổ quốc hoặc “tội phạm hình sự nghiêm trọng”, ví dụ như tham nhũng, nhận
hối lộ. Ở 47 nước người đứng đầu hành pháp không bị luận tội vì mắc phải các
tội hình sự thông thường; nhưng ở 15 nước khác Nghị viện có thể luận tội chức
danh này vì phạm các tội hình sự thông thường. Ở những nước mà các bộ trưởng
cũng bị luận tội, lý do luận tội họ rộng hơn so với người đứng đầu hành pháp,
ví dụ ở 5 nước bộ trưởng sẽ bị luận tội nếu phạm bất kỳ tội nào theo quy định
của luật hình sự.
Chỉ có ở 2 trên 88 nước luận tội được tiến hành theo thủ tục thông thường,
còn ở các nước còn lại phải có một số lượng nghị sỹ cùng ký kiến nghị. Ở 7 nước,
kiến nghị luận tội tổng thống phải có chữ kỹ của hơn 50% tổng số nghị sỹ. Để
thông qua kiến nghị luận tội, 56 nước đòi hỏi phải có đa số trên tổng số nghị sỹ,
trong đó 39 nước yêu cầu phải có sự đồng ý của 2/3 tổng số nghị sỹ đồng ý hoặc
hơn.
Ở 54 nước, Nghị viện chỉ có quyền luận tội, còn ở 12 nước, Nghị viện vừa
luận tội, vừa ra phán quyết. Ở các nước lưỡng viện, việc luận tội các quan chức
nhà nước thường được bắt đầu ở Hạ viện, và sau đó là Thượng Nghị viện tiến
hành luận tội ra phán quyết, và đòi hỏi phải đạt được đa số của mỗi viện. Ví dụ, ở
Kazakhstan, đa số đơn giản (quá 50%) ở Hạ viện là đủ để buộc tội Tổng thống,
nhưng ở Thượng viện lại phải đạt 2/3 tổng số thượng nghị sỹ. Phán quyết cuối
cùng chỉ được thông qua nếu 3/4 tổng số nghị sỹ mỗi viện đồng ý tại phiên họp
chung của hai viện. Còn ở Mỹ, khi tiến hành luận tội, các thượng nghị sỹ phải
tuyên thệ và Chánh án của Tòa án Tối cao sẽ làm chủ tọa. Quyết định luận tội chỉ
được đưa ra khi có được sự đồng ý của hai phần ba số thượng nghị sỹ có mặt
19
.

hành năm 1967.
Chức năng của Thanh tra Quốc hội là điều tra các khiếu nại, tố cáo của công
luận về việc quản lý không tốt công việc của các công sở. Hoặc các nhân viên này
cũng có thể hoạt động theo yêu cầu của các nghị sỹ và trong trường hợp này phải
báo cáo kết quả điều tra cho các nghị sỹ đó. Ngoài ra, Thanh tra Quốc hội còn có
thể trình Nghị viện báo cáo thường niên về các hoạt động thuộc chức năng của
mình. Thanh tra Quốc hội không có quyền đưa ra các quyết định cuối cùng về
trách nhiệm của hành pháp, nhưng đây là một công cụ hữu hiệu nhằm cung cấp
thông tin đầy đủ cho Nghị viện trong việc thực hiện hoạt động giám sát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status