sơ lược phân tích chi phí - lợi ích dự án bảo tồn thiên nhiên - Pdf 28


SƠ BỘ PHÂN TÍCH LỢI ÍCH - CHI PHÍ DỰ ÁN KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
ĐẤT NGẬP NƯỚC CỬA SÔNG Ô LÂU, TỈNH THỪA THIÊN- HUẾ
TS.Lê Thu Hoa, Nguyễn Diệu Hằng
ĐH Kinh tế Quốc dân

Dự án thí điểm khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước cửa sông Ô
Lâu của tỉnh Thừa Thiên Huế được hình thành trên cơ sở dự tính vùng
cửa sông này sẽ đem lại lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường lớn hơn hiện
tại nếu được khôi phục thành nơi sinh sản của cá, tôm và các loài sinh vật
thủy sinh khác. Nghiên cứu đánh giá và phân tích chi phí - lợi ích cung cấp
thêm những thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định thực hiện dự
án.
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN THÍ ĐIỂM KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC CỬA SÔNG Ô LÂU
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước cửa sông Ô Lâu (KBT) nằm ở
phía Tây Bắc phá Tam Giang, cách cửa biển Thuận An 22 km về phía Tây Bắc,
cách trung tâm thành phố Huế 40km về phía Bắc, thuộc địa phận 5 xã: Điền
Hoà, Điền Lộc, Phong Chương (huyện Phong Điền) và Quảng Thái, Quảng Lợi
(huyện Quảng Điền). Vùng cửa sông Ô Lâu là nơi có hệ động thực vật đất ngập
nước đa dạng. Nguồn gen ở vùng đầm phá Tam Giang- Cầu Hai rất phong phú.
Hiện tại ở đây có 661 loài động và thực vật, phân bố thành 8 nhóm.
Năm xã trong vùng dự án có 6.206 hộ dân với tổng dân số là 30.313
người. Tỷ lệ nghèo đói ở các xã còn khá cao, đặc biệt là các xã Quảng Thái,
Quảng Lợi, Phong Chương được xếp trong 45 xã nghèo của tỉnh. Một bộ phận
dân cư đang còn sống dưới ngưỡng nghèo, chưa đáp ứng cho mình những nhu
cầu tối thiểu như ăn, ở, học hành và các dịch vụ thiết yếu. Nghèo đói chính là
nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng khai thác bừa bãi tài nguyên vùng đầm
phá, sử dụng lãng phí và không hợp lý các nguồn tài nguyên.
Trong vùng dự án, tỷ trọng diện tích trồng lúa chiếm ưu thế, nhưng năng
suất lúa không ổn định, chênh lệch giữa hai vụ (đông xuân và hè thu) khá lớn do

Điền Hoà, Quảng Thái và Quảng Lợi. Ở vùng đệm có thể tiến hành các
hoạt động kinh tế dân sinh nhưng nghiêm cấm các hình thức khai thác
mang tính huỷ diệt, huỷ hoại sinh cảnh, gây ô nhiễm môi trường, ngăn cấm
việc săn bắn chim. Việc khai thác phải tuân theo quy định về loại hình, quy
cách và thời vụ.
- Khu hành chính, dịch vụ nằm trên địa bàn xã Quảng Thái, kề bên
vùng lõi.
Các hoạt động sẽ được tiến hành trong phạm vi dự án bao gồm: Chương
trình bảo tồn, Chương trình phục hồi hệ sinh thái (khoanh vùng và phục hồi
khu vực bốn cồn đảo và mặt nước vùng cửa sông Ô Lâu; chấm dứt và chuyển
toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp của 344 hộ ra khỏi 75,3 ha diện tích
bốn cồn đảo, trả lại vùng sinh sống của các loại chim và thuỷ sinh vật trên diện
tích 400 ha đất ngập nước, phục hồi các thảm cỏ nước…), etc. Chương trình
nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng. Với những chương trình
hoạt động như vậy, dự án sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế - xã hội và môi
trường cho cả khu vực thực hiện dự án và các khu vực lân cận.
II. PHÂN TÍCH LỢI ÍCH- CHI PHÍ
2.1. Dữ liệu và phương pháp đánh giá
Nghiên cứu này sử dụng các số liệu về môi trường và kinh tế - xã hội của
vùng dự án do các cơ quan quản lý nhà nước địa phương, chuyên gia địa
phương, văn phòng ICZM/ CCP Thừa Thiên Huế cung cấp cũng như số liệu từ
các nghiên cứu khác đã được thực hiện trước đây. Khi dự báo những thay đổi
do dự án tạo ra (ví dụ thay đổi chất lượng môi trường, thay đổi diện tích đất
nông nghiệp…), nhóm nghiên cứu sử dụng dữ liệu của các năm trước để dự báo
xu thế thay đổi trong tương lai. Việc thu thập dữ liệu và tính toán được sự hỗ trợ,
tư vấn của các chuyên gia địa phương. Nghiên cứu này quan tâm đến các lợi
ích/ chi phí thị trường và cả các lợi ích/ chi phí phi thị trường (nghĩa là không có
thị trường cho chúng), ví dụ: giá trị giải trí, giá trị đa dạng sinh học... Các lợi ích/
chi phí có giá thị trường, ví dụ như chi phí trực tiếp của dự án hay thu nhập tăng
do tăng sản xuất nông nghiệp… được đánh giá bằng phương pháp giá thị

9
9
9
9
9

9 Lợi ích
- Tăng thu nhập từ trồng trọt
- Tăng thu nhập từ thủy sản vùng đầm phá
- Giảm chi phí tưới tiêu
- Giảm thiệt hại do lũ lụt
- Giảm ô nhiễm môi trường
- Tăng giá trị giải trí
- Tăng giá trị phi sử dụng của đa dạng sinh
học
9
9
9
9
9

9
9
9

đập Cửa Lác sẽ bị cấm. Phần thu nhập mất đi từ hoạt động đánh bắt do đó là
135,5 triệu đồng/ năm tính từ năm 2008. Các lồng cá phía trên và dưới đập Cửa
Lác cũng sẽ phải di dời lần lượt vào năm 2006 và 2007. Hiện tại trên đập Cửa
Lác có 120 lồng cá, đem lại thu nhập 530 triệu một năm. Dưới đập có 330 lồng,
đem lại thu nhập 1.688,6 triệu đồng/ năm. Ngoài ra, dự án cũng gây ảnh hưởng
lên hồ cá ở xã Quảng Thái.
Tổng thiệt hại do giảm sản lượng thuỷ sản do đó là tổng của thiệt hại từ
hoạt động đánh bắt, lồng cá và hồ cá, được tính toán trong bảng sau:
Bảng 2: Thiệt hại của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Đơn vị: triệu đồng
Thiệt hại của các lồng cá
Năm
Trên đập Cửa Lác Dưới đập Cửa Lác
Thiệt hại của
hồ nuôi cá
Tổng
2006 530 0 140 670
2007 530 0 -120 410


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status