Báo cáo Đảm bảo thông tin cho người khiếm thị tại Việt Nam - Pdf 28

1
ĐẢM BẢO THÔNG TIN
CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI VIỆT NAM

ThS. Trần Thị Thanh Vân
Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Khái niệm chung về người khiếm thị
Trong cộng đồng người dùng tin của xã hội, không phải ai cũng được may mắn có
đầy đủ các điều kiện cần và đủ (về sức khỏe, về kinh tế, về môi trường sống, môi trường làm
việc, môi trường nghề nghiệp, điều kiện tuổi tác, giới tính ) để tiếp cận tới nguồn tin/tài liệu
phong phú, đa dạng trong xã hội. Có một bộ phận không nhỏ người dùng tin không đủ điều
kiện về sức khỏe để tiếp cận nguồn thông tin đó là những người khuyết tật nói chung và
những người khuyết tật về thị giác - bộ phận vô cùng quan trọng trong việc tiếp nhận và trao
đổi thông tin nói riêng (có thể gọi chung là người khiếm thị). Những người khiếm thị bị hạn
chế khả năng tiếp nhận và trao đổi thông tin với thế giới bên ngoài.
* Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới cho rằng:
- Khiếm thị hay khiếm khuyết về chức năng thị giác là một giới hạn trầm trọng của
chức năng thị giác gây ra do mắc các bệnh mắc phải, di truyền, bẩm sinh hay do trấn thương
mà không thể điều trị khỏi bằng các phương pháp điều trị khúc xạ, nội khoa hay ngoại khoa.
- Khiếm thị được xác định khi thị lực ở mắt tốt giảm dưới 6/18 (20/60 hoặc 3/10) cho
đến 3/60 (20/400 hoặc 2,5/50) hoặc thị lực trên 6/18 nhưng thị trường (khoảng không gian
mắt bao quát được) thu hẹp dưới 10 độ.
- Như vậy, có thể hiểu người khiếm thị là những người có bệnh lý về thị lực bị giảm
một phần hoặc hoàn toàn không thể điều chỉnh được bằng kính thuốc hay phẫu thuật
* Theo Tiến sĩ Gillian Burrington – nguyên giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện
của Trường Đại học Bách Khoa Manchester, người đã viết và điều hành nhiều chương trình
tập huấn về công tác quản lý trong đó có cả vấn đề người khuyết tật quan niệm rằng: “Thuật
ngữ “khiếm thị” dùng để mô tả tình trạng thị lực không thể điều chỉnh bằng kính hay phẫu
thuật. Nó bao gồm những người mắc bệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù

trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng. Hàng năm cả thế giới phải
tiêu tốn hơn 42 tỷ đôla Mỹ cho việc chữa trị các bệnh về mắt. Khoảng 75% trong số các bệnh
gây mù có thể tránh được bằng các phương pháp điều trị hoặc phòng ngừa. Thống kê riêng ở
Anh về tuổi khởi phát bệnh mù lòa cho thấy 31% người trả lời nói rằng bắt đầu mắc bệnh khi
còn ở độ tuổi lao động (từ 17 đến 59 tuổi), nhưng 56% cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60
tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi mới dưới 16 tuổi”
Năm 2011 Tổ chức Y tế thế giới WHO đã công bố tỷ lệ người suy giảm thị lực trên thế
giới khoảng 285 triệu người trong số đó có 246 triệu người có thị lực kém ở mức độ vừa phải
đến mức độ nặng và 39 triệu người mù trong đó có 82 số người mù ở độ tuổi trên 50. 73% số
người bị suy giảm thị lực ở mức độ trung bình và nặng và 58% số người mù lòa sống ở khu
vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Trong tổng số 285 triệu người mù và khiếm thị
này có đến 90% người sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới. Việt Nam được xếp vào
trong nhóm các nước này.
Tại Việt Nam, chưa có một một công trình nghiên cứu điều tra nào có quy mô toàn
quốc và toàn diện về người khiếm thị để có những số liệu chính xác, mang tính tổng thể về
số lượng người khiếm thị, những dạng khiếm thị, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, tâm lý, nhu
cầu thông tin/tài liệu/các dạng dịch vụ & sản phẩm thông tin mà những người khiếm thị quen
sử dụng Vì vậy, các con số sau chỉ mang tính thống kê, cục bộ. Theo kết quả điều tra vào
năm 2002 của Viện mắt Trung ương có khoảng 900.000 người khiếm thị trong đó có khoảng
hơn 600.000 người thuộc đối tượng mù chiếm 1,2% dân số cả nước.
3
Nhân dịp hưởng ứng Ngày thị giác thế giới 2011 “Thị giác toàn cầu 2020: Quyền được
nhìn thấy!”. Lãnh đạo Bộ Y tế: Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên đã công bố: Việt Nam hiện
có khoảng 2 triệu người mù lòa, 1/3 trong số đó là người nghèo không có tiền điều trị mang
lại ánh sáng; 83% người mù Việt Nam có thể phòng chữa được bệnh: đục tinh thể là nguyên
nhân gây ra mù, chiếm tỷ lệ 66,1%, Tiếp theo là các bệnh như bán phần sau nhãn cầu, bệnh
glôcôm, sẹo giác mạc, teo nhãn cầu, tật khúc xạ và mắt hột Nếu tính cả những người bị các
tật về mắt như cận, viễn thì con số này còn lớn hơn rất nhiều
Theo tính toán của các nhà chuyên môn khác dự báo nếu không có biện pháp hữu hiệu
để phòng chống hiện tượng giảm thị lực đến năm 2020 cả thế giới số người khiếm thị sẽ tăng

tới đối tượng người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng. Điều này thể hiện rất
rõ hàng loạt các văn bản pháp quy đã được ra đời như: Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á
và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào
ngày 20/2/1990) - cam kết đảm bảo trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng được
4
“tiếp cận giáo dục và học hành và những cơ hội giải trí theo cách thức có lợi cho trẻ em để
hội nhập xã hội và phát triển cá nhân đầy đủ nhất”. Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001; “Luật bảo vệ sức
khỏe nhân dân” năm 1989; “Luật phổ cập giáo dục tiểu học” năm 1991; “Bộ Luật Lao động”
năm1994; “Pháp lệnh Người Khuyết tật” năm 1998; “Pháp lệnh Thư viện” năm 2000; “Luật
bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” năm 2004; “Luật Giáo dục” năm 2005; “Luật Đào tạo
nghề” năm 2006; “Luật công nghệ thông tin” năm 2006 và đặc biệt Nghị định số 72/NĐ-
CP ngày 6/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện và Luật
“Người Khuyết tật” năm 2010. Trong Pháp lệnh Thư viện năm 2000 đã quy định “người
khiếm thị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin
đặc biệt”. Cụ thể hơn, tại điều 2 khoản 3, 4, 6 của Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 6/8/2002
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện như sau: “ 4) Thư viện công
cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi
và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị 6) Trong thư viện hoạt
động bằng ngân sách nhà nước, Người cao tuổi quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày
28 tháng 4 năm 2000, Người tàn tật quy định tại Pháp lệnh Người tàn tật ngày 30 tháng 7
năm 1998. Chính phủ đã thành lập “Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người khuyết tật”
năm 2001. Xây dựng “Bộ Quy chuẩn và Tiêu chuẩn về tiếp cận đối với người khuyết tật”
năm 2002; Chính phủ thông qua Đề án “Trợ giúp Người Khuyết tật của Chính phủ giai đoạn
2006 - 2010”; Đề án “Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015” trong đó Chính phủ đặt
mục tiêu thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015. Gần đây
nhất, ngày 14/10/2010, Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 1179/QĐ-BNV về việc Thành lập
Liên hiệp hội Về người khuyết tật Việt Nam nhằm mục đích liên kết, tập hợp sức mạnh,
điều hòa, phối hợp các nguồn lực tạo điều kiện để cộng đồng hỗ trợ người khuyết tật nói
chung và người khiếm thị nói riêng trong học tập, làm việc và sinh hoạt nhằm xây dựng,

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
4. Các loại hình tài liệu và dịch vụ thông tin phục vụ người khiếm thị
* Các loại hình tài liệu phục vụ người khiếm thị.
Theo từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên “tài liệu là văn bản giúp cho việc
tìm hiểu một vấn đề gì” [23]. Theo quan điểm của một số nhà khoa học Thông tin - Thư viện
cho rằng “Tài liệu là một vật thể, hoặc phi vật thể lưu giữ các thông tin/tri thức của nhân loại
dưới nhiều dạng và hình thức khác nhau: âm thanh, hình ảnh, chính văn dùng để truyền đạt
qua thời gian và không gian nhằm mục đích bảo quản và sử dụng phục vụ cuộc sống của con
người” [17]. Với ý nghĩa như vậy, tài liệu dùng cho người khiếm thị hiện nay khá đa dạng.
Các loại tài liệu/ vật mang tin dành cho người khiếm thị bao gồm các hình thức: tài
liệu/sách chữ đại/chữ lớn/chữ phóng to; tài liệu/sách nói; Băng hình với thuyết minh mô tả
hình ảnh; tài liệu/sách in nổi; Các tài liệu/sách dạng điện tử; ngoài ra còn các tài liệu cho
những người khiếm thị là thiếu nhi, thiểu số
- Tài liệu/sách chữ đại/chữ lớn/chữ phóng to: là dạng tài liệu có kích cỡ lớn hơn các
cỡ chữ in ấn tài liệu thông dụng, được chú trọng trình bày sao cho độ dày của chữ, khoảng
cách và độ nét của các ký tự, khoảng cách giữa các dòng; độ tương phản giữa chữ và nền
đảm bảo rõ ràng và dễ đọc. Đây là dạng tài liệu/vật mang tin quan trọng cho người bị giảm
thị lực giúp họ kéo dài thời gian có thể đọc được trên tài liệu in ấn cho đến trước khi cần phải
đọc tài liệu chuyển dạng. Dạng tài liệu này có thể trên giấy truyền thống hoặc có thể đọc trên
phần mềm đọc màn hình.
- Tài liệu/sách nói bao gồm các sản phẩm mang tin như: băng cassette, Băng sách
nói, Đĩa CD; Đọc trực tiếp, Báo & Tạp chí nói, Thông tin khách hàng.
Băng cassette, là loại hình vật mang tin khá thông dụng để chuyển tải thông tin đến
người khiếm thị. Băng cassette có nhiều loại 2,4,6 rãnh và đĩa Compact. thường được thu từ
tác giả hay diễn viên đọc vào băng Analog. Tuy nhiên hiện nay sản phẩm này khó bảo quản
vì vậy, với công nghệ mới các tài liệu Analog đã được số hoá. Đây là vật mang tin thông
dụng và quan trọng nhất cho những người mù hoàn toàn hay chỉ còn một chút thị lực trong
việc tiếp nhận thông tin. Vì vậy, đối tượng sử dụng tài liệu này thường đông đảo nhất.
6
Băng sách nói hay băng thông tin vốn là tài liệu trọng yếu dùng cho người khiếm thị

- Vật mang tin dưới dạng điện tử: các tài liệu/sách dạng điện tử đang có tỷ lệ xuất bản
chiếm thị phần ngày càng lớn thông qua mạng toàn cầu hoặc các kênh truyền hình số. Thông
qua các phương tiện này, người khiếm thị có thể tiếp nhận thông tin mà không cần các tài
liệu dưới hình thức sản phẩm chuyển dạng thay thế. Chính vì vậy, thông tin đến với người
khiếm thị nhanh chóng, cập nhật. Để có thể tiếp nhận thông tin dưới dạng điện tử này cần
phải có phần mềm chuyên dụng (phần mềm nhận dạng ký tự).
* Các loại hình dịch vụ thông tin phục vụ người khiếm thị.
Theo từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên “Dịch vụ là công việc phục vụ
trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [23]. Với ý
7
nghĩa như vậy, dịch vụ thông tin có thể hiểu là: “công việc phục vụ thông tin/tài liệu cho một
người, một nhóm người nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu thông tin của họ và có thể được trả
tiền hoặc không được trả tiền” [17]. Hầu hết các dịch vụ thông tin cho người khiếm thị trên
thế giới và ở Việt Nam hiện nay không được nhận tiền. Với ý nghĩa là cơ quan văn hoá, có
chức năng thông tin, giáo dục và khoa học, thư viện có nhiệm vụ đặc biệt là kết nối nguồn
thông tin/tài liệu với người dùng tin nói chung và khiếm thị nói riêng nhằm thoả mãn tối đa
nhu cầu thông tin của họ về mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Để các vật thông tin/tài liệu đến được với người khiếm thị, hiện nay trên thế giới, các
dịch vụ thông tin đã được triển khai như: dịch vụ vận động người khiếm thị tham gia hệ
thống tiếp nhận thông tin, tổ chức các thư viện lưu động, dịch vụ giao tài liệu tận nhà, dịch
vụ gửi tài liệu qua bưu điện, dịch vụ cho mượn trang thiết bị, dịch vụ mượn liên thư viện,
dịch vụ đọc trực tiếp
- Dịch vụ vận động người khiếm thị tham gia hệ thống tiếp nhận thông tin: là dịch vụ trực
tiếp cán bộ thư viện động viên tiếp cận người khiếm thị, hoặc thông qua các hình thức như
triển lãm, tuyên truyền. Dịch vụ này cần sự hợp tác giữa các thư viện với các tổ chức xã hội,
tổ chức giáo dục, dịch vụ y tế, các cơ quan truyền thông, báo chí
- Tổ chức các thư viện lưu động, giao tài liệu tại nhà: do người khiếm thị có tâm lý ngại
tiếp xúc, khó khăn khi đi lại, không hiểu hết các sản phẩm và dịch vụ của xã hội dành cho
người khiếm thị, bởi vậy việc tổ chức dịch vụ thư viện lưu động để thủ thư đến tận nhà phục
vụ các tài liệu, sản phẩm thông tin và giới thiệu phương cách sử dụng công cụ thiết bị hỗ trợ

người khiếm thị dễ dàng trao đổi thông tin theo nhu cầu. Thủ thư có điều kiện tiếp nhận nhu
cầu và phản hồi từ đọc giả trực tiếp. Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong các thư viện hiện gặp
khó khăn với các hình thức phục vụ này. Mặc dù vậy, dịch vụ này được đánh giá là hiệu quả
nhất nhờ sự giao lưu trực tiếp giữa người phục vụ và người khiếm thị - người được phục vụ.
Thông qua dịch vụ này người khiếm thị được hiểu nội dung tài liệu một cách rõ ràng hơn. Có
thể đến nhà đọc trực tiếp, hoặc qua điện thoại, qua Internet.
5. Một số giải pháp đảm bảo tốt thông tin phục vụ người khiếm thị ở nước ta.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc đảm bảo quyền lợi cho người
cao tuổi, người khuyết tật trong đó có người khiếm thị “ có điều kiện sử dụng các tài liệu
thư viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác” [12] như nội dung tại
Điều 6, Khoản 4 của Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày 28/10/2000 đã quy định, Hệ thống
Thư viện Công cộng, Trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội, Trường Nguyễn Đình Chiểu Hồ
Chí Minh, Trung ương Hội người mù Việt Nam, Trung tâm đào tạo & phục hồi chức năng
cho người mù ở Hà Nội, Trung tâm Sao Mai thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nghiên
cứu, bổ sung vốn tài liệu, trang bị các máy móc thiết bị chuyên dụng dành cho người khiếm
thị. Đặc biệt, sau khi có một số dự án của các tổ chức quốc tế như Cơ quan Hợp tác Quốc tế
Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, tổ chức Enfant Du Vietnam, Hội cứu
trợ trẻ em tàn tật thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ FORCE Hà Lan tài trợ kinh phí, nhiều nội
dung hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ thông tin cho người khiếm thị đã được triển
khai và có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
việc tổ chức hoạt động phục vụ mới chỉ dừng ở bước đầu.
Hiện nguồn tài liệu chuyển dạng cũng như các thiết bị chuyên dụng của các cơ sở
phục vụ người khiếm thị ở Việt Nam còn rất nghèo nàn, hạn chế về số lượng, đơn điệu về
loại hình và dịch vụ chưa thực sự đáp ứng được nội dung nhu cầu thông tin của người sử
dụng. Vốn tài liệu chủ yếu là sách chữ nổi, Băng sách nói, Tin tức trên đài phát thanh, truyền
hình, Sách nói kỹ thuật số, Mục lục truy cập được và một số tài liệu dạng khác như Nhạc nổi,
Sách có hình nổi, Đồ hoạ nổi Ngoài ra người khiếm thị cũng có thể tìm tin và đọc tài liệu
điện tử thông qua các phần mềm chuyên dụng như “Vì người mù Việt Nam”, “Trang Web
cho người mù Việt Nam”
Do nhiều nguyên nhân, dịch vụ thông tin, thư viện cho người khiếm thị tại Việt Nam

vậy vừa giảm thiểu tối đa kinh phí đầu tư, nhưng lại đạt hiệu quả dịch vụ thông tin cao.
- Cần đầu tư kinh phí phát triển vốn tài liệu và trang thiết bị hỗ trợ.
Hiện nay vốn tài liệu dành cho người khiếm thị hiện có rất ít ỏi không chỉ về số lượng
bản mà cả tên tài liệu. Kinh phí để chuyển dạng số tài liệu hiện có chủ yếu dựa vào kinh phí
đầu tư, hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ của nước ngoài. Các khoản ngân sách Nhà nước
cấp hàng năm còn rất hạn chế, do đó các cơ quan thông tin, thư viện chưa chú trọng hoặc có
một số thư viện đã chú trọng nhưng vẫn còn rất khiêm tốn trong việc đầu tư kinh phí đảm
bảo cho hoạt động các dịch vụ phục vụ người khiếm thị.
- Cần mở rộng, đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ người khiếm
thị hơn nữa.
Bên cạnh việc hoàn thiện các loại hình tài liệu đã có cần mở rộng thêm loại tài liệu
khác như Băng hình với thuyết minh mô tả hình ảnh; tài liệu/sách in nổi; Các tài liệu/sách
dạng điện tử; Tài liệu cho những người khiếm thị là thiếu nhi, thiểu số Về dịch vụ, cần phát
triển thêm dịch vụ vận động người khiếm thị và marketing các sản phẩm, dịch vụ để họ tham
gia hệ thống tiếp nhận thông tin. Dịch vụ này là việc làm thường xuyên với người dùng tin
bình thường, vậy với người khiếm thị do hạn chế về tâm lý, về khả năng tiếp nhận thông tin
của họ, thì chúng ta lại càng cần động viên khuyến khích và gây hứng thú để họ có nhu cầu
10
đọc tài liệu. Các hình thức triển khai cụ thể như tiếp cận trực tiếp, thông qua các tổ chức xã
hội, các phương tiện truyền thông với các bảng tin, băng sách nói có phần điểm sách, nhóm
thảo luận sách. Ngoài ra còn mở rộng các dịch vụ như tổ chức các thư viện lưu động; Dịch
vụ giao tài liệu tận nhà; Dịch vụ gửi tài liệu qua bưu điện; Dịch vụ cho mượn trang thiết bị,
Dịch vụ mượn liên thư viện, Dịch vụ đọc trực tiếp
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thông tin cho người khiếm thị
Việc tin học hoá trong hoạt động thông tin cho người khiếm thị ở Việt Nam đã được
triển khai và biên soạn được hai sản phẩm “Phần mềm vì người mù Việt Nam” và “Trình
duyệt Web cho người mù Việt Nam” nhờ kinh phí của Ngân hàng thế giới và Hội của Hội
cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên các phần mềm này mới ứng dụng tại
Trung tâm Sao Mai, chưa được phổ cập tới các thư viện khác để phục vụ người khiếm thị và
do kinh nghiệm & hiểu biết về người khiếm thị cũng như các loại hình sản phẩm thông tin

lượng phục vụ bạn đọc người khiếm thị”, Văn hoá, số 1134 tr 8
8. Nguyễn Ngọc Nguyễn(2001) Thư viện dành cho người khiếm thị, tập san thư viện, số
4, tr 22-24
9. Nguyễn Thị Hồng Nhị (2004), Thư viện dành cho người mù: Hướng dẫn của IFLA về
dịch vụ thư viện cho người mù chũ nổi. Tập san Thư viện, số 2, tr 46-48
10. Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2003), Phòng đọc dành cho người khiếm thị, tạp chí Thông tin
và Thư viện phía Nam, số 16, tr 33-35
11. Nguyễn Việt Bắc (2003), Sản xuất sách cho người khiếm thị - bước đột phá mới, Tạp
chí Thông tin và thư viện phía Nam, số 18, tr 24-26.
12. Pháp lệnh thư viện, Số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 29/12/2000
13. Pháp lệnh về người tàn tật, số 06/1998/PL-UBTVQH ngày 30/07/1998
14. Thanh Vân (2000), Thư viện nói dành cho người khiếm thị”, Tập san thư viện, số 1, tr
45.
15. Trần Kim Thư (1999), Phòng đọc khiếm thị: một địa chỉ văn hoá cho người mù” , Tập
san Thư viện, số 4, tr 29-30
16. Trần Thị Quý, Trần Thị Thanh Vân (2011), Phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết
tật, những vấn đề lý luận và gợi ý cho hoạt động của hệ thông thư viện công cộng Việt
Nam, kỷ yếu Hội thảo khoa học: Tăng cường công tác phục vụ thiếu nhi của hệ thống
thư viện công cộng, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Trần Thị Quý. Thông tin học đại cương/Tập bài giảng, Trường Đại học Khoa học Xã
hôi & Nhân văn,Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, 157tr.
18. Trần Thị Thanh Vân (2009), Nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin cho
người khiếm thị ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 4
tr 241-248
19. Trần Thị Thanh Vân (2011), Tìm hiểu các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin phục
vụ người khiếm thị trên thế giới, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3, tr 29 – 33
20. Trần Thị Thanh Vân, Trần Dĩ Hoà (2011), Phát triển văn hoá đọc cho trẻ em khuyết tật,
Thực trạng và đề nghị, Tạp chí Thông tin – Tư liệu số 3, tr 9 - 17
21. Thư viện Hà Nội (2010) Báo cáo hiện trạng và tiềm năng sản xuất tài liệu thay thế cho
người khiếm thị của Thư viện Hà Nội

các giải pháp nhằm đảm bảo tốt thông tin cho họ gồm: cần thay đổi tư duy, nhận thức của
các cấp lãnh về việc đảm bảo đầy đủ thông tin cho người khiếm thị; Cần tiến hành điều tra
thực trạng về người khiếm thị mang tính quốc gia; Đầu tư kinh phí phát triển vốn tài liệu và
trang thiết bị hỗ trợ, Mở rộng, đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ người
khiếm thị; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thông tin cho người khiếm thị;
Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ và người dùng tin khiếm thị.
INFORMATION ASSURANCE FOR BLIND IN VIETNAM
Abstract
After providing concepts on blind and studying general situation of blind in Vietnam,
article focuses on: characters of information blind users and information demand of them;
current documents and information provided to blind; accordingly proposing solutions to
well provide them information in which shall: change leader’s opinion and acknowledge on
suficiently providing information to blind; conduct nationwide blind situation reasearch;
invest and finance for document and assistance facilities; Enlarge, diversify information
services and products provided to blind; Enhance to apply information technology in
providing information to blind; focus on training officer and information blind user.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status