ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƢU THU HÀ
GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
CỦA HÀNH VI GÓP VỐN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tác giả Lƣu Thu Hà
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 6
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 8
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Bố cục của Luận văn 10
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU
QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 11
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi
góp vốn thành lập công ty 11
1.1.1. Khái quát chung về công ty 11
1.1.2. Khái niệm về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn 14
1.1.3. Các hình thức góp vốn 20
1.1.4. Định giá tài sản góp vốn 38
1.1.5. Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn 41
1.2. Hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 45
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN VÀ
HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY50
2.1. Thực trạng các qui định của pháp luật Việt Nam về góp vốn và hậu quả
pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 50
lượng các công ty được thành lập ngày càng nhiều đáp ứng các nhu cầu của
xã hội, tạo ra nhiều việc làm và tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Đứng trước tình hình đó, hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp đang được đặt
ra, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Doanh nghiệp 2005.
Trong việc thành lập công ty, vốn góp là một vấn đề pháp lý then chốt.
Thực tế cho thấy kinh doanh bao giờ cũng gắn với vốn. Vốn là yếu tố đầu
tiên, có vai trò quyết định, có nghĩa là không có vốn thì không thể tiến hành
sản xuất kinh doanh. Một công ty chỉ có thể được thành lập và đi vào hoạt
động khi có sự đóng góp tài sản của thành viên hoặc các thành viên của nó để
tạo thành vốn của công ty. Việc góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp, các
mô hình khác nhau tạo nên qui chế pháp lý khác nhau đối với người góp vốn.
Trong một chừng mực nào đó, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những thành
công nhất định trong việc tạo sự đa dạng các hình thức kinh doanh nhằm huy
động các nguồn vốn. Tuy nhiên, đứng trước các cơ hội và thách thức mới,
Luật Doanh nghiệp 2005 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu sót cần chỉnh
sửa để một mặt tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc góp vốn thành lập
công ty, mặt khác tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý
Nhà nước về các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp.
7
Góp vốn còn là một vấn đề pháp lý cơ bản để xác định quyền lợi của
các thành viên công ty. Nó không những đáp ứng các quyền lợi tương ứng của
họ, mà còn tạo ra sự tin tưởng và an toàn liên quan tới đầu tư và kinh doanh.
Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của góp vốn và các hậu quả của nó
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong các vấn đề pháp lý, tác giả lựa
chọn “Góp vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn theo pháp luật
Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Góp vốn là một vấn đề kinh tế và pháp lý gắn liền với hoạt động sản
chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ), Tìm hiểu về Luật Doanh nghiệp 2005; (5)
Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Giáo trình luật kinh tế Việt Nam, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 1997; (6) Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình luật kinh tế- Tập 1:
Luật doanh nghiệp, Tình huống- Phân tích- Bình luận, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội, 2006; (7) Dự án VIE/94/003, Báo cáo chuyên đề về các lĩnh
vực khung pháp luật kinh tế tại Việt Nam; (8) Bùi Ngọc Cường, Xây dựng và
hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh ở nước
ta, Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; (9) Nguyễn
Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty- vốn, quản lý và tranh chấp theo
Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb Tri Thức, TP. Hồ Chí Minh, 2009: (10)
Nguyễn Mạnh Bách, Các công ty thương mại, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Biên
Hòa, 2006.
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu này, tác
giả đi sâu vào nghiên cứu vấn đề pháp lý phát sinh liên quan tới hành vi góp vốn.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn có mục tiêu chủ yếu là làm rõ về mặt lý luận những vấn đề
pháp lý phát sinh từ hành vi góp vốn thành lập công ty và kiến nghị hoàn
thiện chế định pháp luật này.
Luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
9
+ Nghiên cứu lý luận về góp vốn và các hậu quả pháp lý phát sinh từ
hành vi góp vốn;
+ Đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về góp vốn và hậu quả pháp
lý của nó;
+ Kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan.
Vì góp vốn và hậu quả của hành vi góp vốn là một lĩnh vực pháp lý
rộng. Do đó Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty, tức là các giao dịch về
góp vốn thành lập công ty mà không nghiên cứu góp vốn vào các lĩnh vực
5. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội
dung chủ yếu của Luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về góp vốn và hệ quả pháp lý của hành vi
góp vốn thành lập công ty.
Chương 2: Thực trạng pháp luật việt nam về góp vốn và hậu quả pháp lý của
hành vi góp vốn thành lập công ty.
Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp
vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công
11
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ
PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn và bản chất pháp lý của
hành vi góp vốn thành lập công ty
1.1.1. Khái quát chung về công ty
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty
Công ty là loại một loại thương nhân xuất hiện trong nền kinh tế thị
trường. Theo quan niệm truyền thống, công ty được hiểu là sự liên kết của hai
hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành
một hoặc một số hành vi thương mại nhất định theo mục tiêu chung đã được
lựa chọn. Như vậy công ty là một loại thương nhân chuyên tiến hành một
hoặc một số hành vi thương mại nhất định và coi các hành vi đó là nghề
nghiệp của mình. Lưu ý rằng hành vi hoặc các hành vi này được xác định
trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà pháp luật Việt Nam hiện nay
gọi là ngành nghề kinh doanh. Theo PGS. TS. Ngô Huy Cương, thương nhân
là chủ thể thông thường của luật thương mại và được chia thành thương nhân
thể quan trọng của pháp luật.
Đặc điểm thứ hai: Công ty là thương nhân.
Công ty là chủ thể thông thường của luật thương mại bởi như trên đã
phân tích công ty chuyên tiến hành các hành vi thương mại và lấy hành vi
thương mại là nghề nghiệp thường xuyên của mình. Công ty có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh, có nghĩa là đăng ký việc làm nghề thương mại của mình. Ở
đây cần lưu ý hành vi thương mại có điểm khác với hành vi dân sự. Hành vi
thương mại nói đơn giản là hành vi do thương nhân thực hiện nhằm mục đích
sinh lời. Còn hành vi dân sự là hành vi do các chủ thể của pháp luật thực hiện
nhằm mục đích tiêu dùng. Tuy nhiên sự phân biệt này là một vấn đề khoa học
phức tạp mà khó có thể lý giải trong phạm vi của Luận văn này.
13
Đặc điểm thứ ba: Việc góp vốn và sở hữu vốn của công ty bị giới hạn
bởi pháp luật.
Các hình thức góp vốn thành lập công ty và việc sở hữu vốn của công
ty luôn luôn được pháp luật quan tâm và điều tiết. Vốn ban đầu hình thành từ
sự đóng góp của thành viên hoặc các thành viên. Thông qua việc góp vốn,
thành viên đổi lại quyền lợi trong công ty và quyền chi phối công ty. Hơn nữa
công ty luôn có sự tác động lớn tới cộng đồng bởi khả năng cung cấp hàng
hóa hoặc dịch vụ, và khả năng huy động vốn từ bên ngoài. Pháp luật xen vào
điều tiết việc góp vốn và sở hữu vốn của công ty bởi các lý do như vậy.
1.1.1.2. Phân loại công ty
Ở các nước theo truyền thống Civil Law, người ta thường chia công ty
thành hai loại: công ty dân sự và công ty thương mại. Nguồn gốc của sự phân
chia này là việc có sự phân loại giữa luật dân sự và luật thương mại. Cách
thức phân loại này không được thể hiện rõ ở Việt Nam hiện nay. Luận văn
không đề cập tới công ty dân sự do đó không xuất phát nghiên cứu từ cách
phân loại này.
độ pháp lý đối với vốn của công ty, nhất là hậu quả pháp lý của hành vi góp
vốn. Trong mỗi phân loại lớn đó lại có những phân loại nhỏ hơn (hình thức
công ty) có sự khác biệt ít nhiều về chế độ góp vốn và hậu quả pháp lý của
hành vi góp vốn. Tuy nhiên tựu trung lại vấn đề góp vốn và hậu quả pháp lý
của nó có những điểm chung nhất định.
1.1.2. Khái niệm về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn
1.1.2.1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty
Góp vốn thường được người Việt Nam hiểu là việc một người đưa hay
hùn tiền bạc hay tài sản vào một công cuộc kinh doanh nhất định và mong
nhận được lợi ích từ đó. Xét về mặt pháp lý, người góp vốn chuyển giao
quyền sở hữu tài sản của mình cho người kinh doanh (thương nhân) để đổi lại
những lợi ích từ việc góp vốn đó. Góp vốn thành lập công ty là việc một
người chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty do tự mình
15
hoặc cùng với người khác thành lập nhằm mục tiêu kiếm lời. Tài sản góp vốn
về nguyên tắc là tất cả các loại tài sản mà theo quan niệm của pháp luật Việt
Nam hiện nay bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (Điều 163,
Bộ luật Dân sự 2005). Tuy nhiên pháp luật có thể qui định cụ thể về tài sản
góp vốn đối với từng trường hợp cụ thể. Theo khoản 4, Điều 4 Luật Doanh
nghiệp, tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,
vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí
quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để
tạo thành vốn của công ty.
Việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản cụ thể lấy quyền lợi trong công ty
thường được qui đổi theo tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là tỉ lệ vốn góp mà
chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ.
Lợi ích mà người góp vốn nhận được là phần vốn góp hoặc cổ phần.
Các phần vốn góp và cổ phần này không phải được hình thành từ thế giới vật
chất như các tài sản hữu hình (vật), cũng không phải là sản phẩm được hình
công ty nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích đã
đăng ký của công ty và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ trong trường hợp
công ty bị phá sản. Khi tài sản được một thành viên, một cổ đông góp vào
công ty, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu từ thành viên đó, cổ đông
đó sang công ty. Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hiện
thông qua giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên
góp vốn. Bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cổ đông sáng lập đã tạo ra
sản nghiệp ban đầu cho công ty để đổi lại quyền lợi của mình trong công ty.
Quyền lợi này được xác định theo các quy định của pháp luật và điều lệ của
công ty. Ở khía cạnh kinh tế, việc góp vốn hay hùn vốn cũng là việc nhiều
người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn
nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh. Đó chính là ý nghĩa kinh tế quan trọng
xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của công ty trong lịch sử. Cùng
với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, việc góp vốn thành lập công ty có
khi chỉ đơn giản là để nhà đầu tư kiếm lời từ vốn góp của mình chứ không
17
thực sự chú trọng vào mục đích thực hiện một hoạt động kinh doanh nào cụ
thể. Góp vốn vào công ty cũng dễ dàng chuyển nhượng lại phần vốn góp đó
cho người khác để hưởng chênh lệch hoặc thu lại một phần vốn. Số lượng
người góp vốn được mở rộng, khả năng bán lại phần vốn dễ dàng, người góp
vốn có thể thay đổi nhanh chóng song công ty vẫn tồn tại, đó là sự khác biệt
lớn của công ty đối vốn so với công ty đối nhân. Một vấn đề kinh tế khác khi
các thành viên, các cổ đông góp vốn vào công ty là việc thực hiện quyền quản
lý công ty để đảm bảo việc sử dụng đồng vốn của mình sẽ đem đến hiệu quả
kinh tế cao nhất. Do là công ty đối vốn điển hình nên quyền quản lý trong công
ty tương ứng với tỷ lệ số vốn góp vào công ty thông qua tỷ lệ vốn góp của từng
thành viên và số lượng cổ phần nắm giữ của từng cổ đông. [14, tr. 25 - 27].
Nếu xét trên phương diện pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao tài
sản để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Nói tóm lại góp vốn về bản chất
những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Với nguyên tắc hiến
định này, có thể hiểu mọi người đều có quyền góp vốn thành lập công ty. Vì
vậy việc hạn chế góp vốn thành lập công ty chỉ có thể được thực hiện theo
những điều kiện nhất định. Hiến pháp 2013 qui định: “Quyền con người,
quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo qui định của luật trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo
đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14, khoản 2). Quyền tự do kinh
doanh được xếp vào các quyền con người và quyền cơ bản của công dân. Do
vậy việc hạn chế nó phải tuân thủ các điều kiện hiến định. Luật Doanh nghiệp
2014 khẳng định: “Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài
có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của
Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” (Điều 18, khoản 1).
Điều này đã cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về tự do kinh doanh. Tuy nhiên
để bảo vệ cộng đồng trước những tác động tiêu cực của hành vi góp vốn thành
lập công ty và bảo vệ chính các công ty trước sự lạm dụng, Luật Doanh
nghiệp 2014 có những qui định hạn chế góp vốn thành lập công ty như sau:
19
“2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng
tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ
quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức, viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong
các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam,
trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp;
đích sau đây:
a) Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả cán bộ, nhân viên của cơ
quan, đơn vị;
b) Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước;
c) Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị”
(Điều 18).
Các qui định hạn chế này làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh tại Việt
Nam hiện nay bao gồm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; chống tham nhũng,
chụp giật; và chống làm suy yếu hiệu lực của quản lý nhà nước.
1.1.3. Các hình thức góp vốn
Góp vốn thành lập công ty có nhiều hình thức khác nhau. Việc phân
loại các hình thức này chủ yếu dựa vào đối tượng của hành vi góp vốn – đó
chính là tài sản, công sức, và tri thức. Điều đáng lưu ý nhất là mỗi hình thức
góp vốn dường như phụ thuộc vào một qui chế pháp lý khác nhau xuất phát từ
đối tượng của hành vi góp vốn.
Khác với Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam, các Bộ luật Dân sự của
các nước trên thế giới không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về tài sản.
21
Song theo quan niệm chung, người ta có thể hiểu được rằng tài sản bao gồm
hai loại là vật và quyền. Tài sản là một khái niệm trừu tượng khó xác định về
mặt phạm vi. Hiện rất hiếm thấy các định nghĩa về tài sản trong pháp luật của
các quốc gia. Thế nhưng tài sản là đối tượng quan trọng nhất của hành vi góp
vốn. Vì vậy có thể thấy việc liệt kê các tài sản góp vốn như Luật Doanh nghiệp
2005 của Việt Nam có ý nghĩa thực tế và nhưng không thể không có các thiếu
sót. Có lẽ các qui định này không dám đi quá xa ra khỏi khuôn khổ của các qui
định về tài sản trong Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam nơi đã đặt ra tiền đề
cho những thiếu sót như vậy. Chẳng hạn: theo pháp luật Việt Nam “vật chất
liệu” đó là cơ sở quan trọng của quan niệm về tài sản. Tuy có nhắc tới quyền tài
phiếu, trái phiếu của mình) để hình thành vốn của công ty, và đổi lại phần
vốn góp hay cổ phần từ công ty. Hành vi chuyển dịch chỉ được thực hiện
xong khi nào thành viên góp vốn hoàn thành nghĩa vụ góp vốn mà có hình
thức như: chuyển tiền vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng hoặc một tài
khoản trung gian
Góp vốn bằng tiền có tính chất giống với việc bỏ tiền ra mua quyền lợi
trong công ty. Do tính chất thanh khoản của tiền như vật ngang giá chung của
cả nền kinh tế. Khi cam kết góp mà không góp hoặc góp không đúng hạn
khoản tiền cam kết góp được coi là người cam kết nợ khoản cam kết đó với
công ty. Việc góp vốn hay trả nợ vốn có thể thực hiện bằng các phương thức
thanh toán theo qui định của pháp luật hay sự thỏa thuận của các bên.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh phương
thức góp vốn bằng tiền mặt đòi hỏi phải đóng đủ rồi mới được thành lập công
ty bởi các hình thức công ty này không được phát hành cổ phiếu. Với công ty
cổ phần, phương thức góp vốn bằng tiền mặt không đòi hỏi những người tham
gia đăng ký góp vốn phải đóng đủ ngay phần của mình trước khi công ty phải
đăng ký kinh doanh mà chỉ cần đóng góp trước một phần bởi hình thức công
ty này có phát hành cổ phần. Số cổ phần còn lại sẽ được mua nốt trong một
khoảng thời gian nhất định sau khi công ty chính thức đi vào hoạt động. Về
phương cách kiểm soát, pháp luật của nhiều nước, sau khi tiến hành góp vốn
23
theo phương thức này, các sáng lập viên phải có trách nhiệm gửi toàn bộ số
tiền đó thu được vào một tài khoản ngân hàng phong tỏa hoặc gửi tại nơi ký
thác. Luật Công ty 1990 cũng đã từng có quy định góp vốn phải gửi vào tài
khoản phong tỏa. Hiện tại, việc chuyển tiền vào tài khoản phong tỏa chỉ áp
dụng đối với công ty cổ phần khi phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ
chứ không áp dụng cho trường hợp góp vốn thành lập công ty, vấn đề này phụ
thuộc vào thỏa thuận của các cổ đông khi sáng lập công ty cổ phần.
1.1.3.2. Góp vốn bằng hiện vật
dân sự, vì theo quan điểm pháp lý dân sự thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản
thường gắn liền với thời điểm chuyển quyền sở hữu. Về nguyên tắc, chủ sở
hữu phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản của mình. Từ thời điểm thành viên
cam kết góp vốn mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của thành viên
với công ty. Trong đó, nếu công ty chưa đăng ký kinh doanh thì quyền yêu
cầu là quyền của các thành viên khác đối với thành viên cam kết góp vốn thực
hiện nghĩa vụ của họ. Thời điểm này chưa làm phát sinh quyền sở hữu tài sản
của công ty vì công ty chưa ra đời. Việc chuyển dịch quyển sở hữu tài sản từ
thành viên sang công ty chỉ có thể tính từ thời điểm công ty được chính thức
thừa nhận về mặt pháp lý tức là thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Tức là, việc công ty trở thành chủ sở hữu của vật góp vốn buộc công
ty phải có tư cách pháp nhân, nghĩa là công ty phải có khả năng hưởng quyền
và gánh vác nghĩa vụ. Điều này cho thấy việc góp vốn bằng hiện vật không
thể thực hiện được với công ty không có tư cách pháp nhân.
Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng loại tài sản và ghi nhận của pháp
luật, của hợp đồng hoặc điều lệ công ty mà việc chuyển quyền sở hữu tài sản
hiện vật từ thành viên sang công ty được thực hiện theo những thủ tục khác
nhau. Vật được giao theo phương thức thỏa thuận về việc góp vốn; nếu không
có thỏa thuận về phương thức giao vật thì vật do thành viên góp vốn giao một
lần, giao trực tiếp công ty. Thành viên góp vốn phải chịu chi phí vận chuyển
đến địa điểm giao vật và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu đối
với vật.
25
1.1.3.3. Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Hiến pháp 2013 tại Điều 53 qui định:
“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển,
vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư,
quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý”.