Đề án môn học 4
ii. những thuận lợi và khó khăn của ngành dệt
may Việt Nam
1. Những thuận lợi và triển vọng
Trong hơn 10 năm qua, nhờ thực hiện đờng lối đổi mới và mở
cửa của Đảng nhà nớc, ngành công nghiệp dệt may đã không ngừng
phát triển cả về qui mô, năng lực sản xuất, trình độ trang thiết bị, không
ngừng đổi mới đầu t công nghệ theo hớng gắn với thị trờng xuất
khẩu nh thị trờng EU, Nhật, Canada đây là những thị trờng mà
ngành dệt may Việt Nam có đợc bớc phát triển đáng khích lệ, sản
xuất đợc những sản phẩm chất lợng cao, mẫu mã đa dạng đáp ứng
đợc yêu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nớc, đạt mức tăng trởng
bình quân hàng năm trên 14% cho thấy ngành công nghiệp dệt may đã
trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn.
Hiện nay cả nớc có khoảng 758 đơn vị tham gia sản xuất và xuất
khẩu hàng dệt may, trong đó tổng công ty dệt may Việt Nam - đơn vị
chủ đạo của ngành dệt may, hiện nay có 39 đơn vị doanh nghiệp thành
viên, chiếm trên 30% tổng giá trị xuất khẩu cả nớc.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng liên tục qua các năm
mức tăng trởng trung bình đạt trên 40%/ năm. Kim ngạch xuất khẩu từ
chỗ vài trăm triệu rúp chuyển nhợng và USD đã vợt lên trên 1 tỷ USD
từ năm 1997 đứng vị trí thứ hai về kim ngạch xuất khẩu sau dầu thô và
là ngành xuất khẩu có tốc độ tăng trởng ổn định trong một thời gian
dài.
Với thị trờng Mỹ mặc dầu là 1 thị trờng mới nhng giá trị xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Mỹ vẫn tăng.
Biểu 5: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ
Đơn vị: Triệu USD
Mặt hàng 1994 1995 1996
1997 1998 1999 2000
Hàng dệt 0,11 1,78 3,59 5,326 5,053 8,147 10,436
Hàng may
2,45 15,09 20,01
20,602
21,347
26,57 36,036
Cộng 2,56 16,87 23,6 25,928
26,40 34,717
46,466
Nguồn: Phát triển kinh tế số 98-1999.
Với kết quả xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trờng Mỹ
nh trên tuy còn nhỏ bé nhng là một nỗ lực đáng khen của các doanh
Đề án môn học
nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam có lợi
thế vì giá nhân công rẻ có thể cạnh tranh với một số nớc khác xuất
khẩu hàng dệt may vào Mỹ.
2. Những khó khăn
Triển vọng về quan hệ thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ sau khi kí
hiệp thơng mại Việt Mỹ là rất lớn. Tuy nhiên, hiện nay một trong
những khó khăn để hàng dệt may thâm nhập vào thị trờng Mỹ là do
Đề án môn học 5
nớc ta cha đợc hởng quy chế tối huệ quốc nên quan hệ thơng mại
Việt Nam Hoa Kỳ cha phát triển đúng tiềm năng và nhu cầu của cả
hai nớc. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trờng
này còn khá khiêm tốn chỉ đạt 26,4 triệuUSD, trong kho đó kim xuất
khẩu hàng dệt may, của Trung Quốc sang Mỹ là 4,5 tỷ USD, Mexico là
6 tỷ USD. Trên thị trờng Mỹ, hàng hoá của Việt Nam kém sức cạnh
tranh do thuế nhập khẩu của Mỹ phân biệt rõ thuế suất tối huệ quốc và
thuê suất đánh vào những nớc không đợc hởng quy chế tối huệ quốc.
Thuế suất không có MFN thờng cao hơn, rất nhiều so với thuế suất
MNF nhất là so với hàng dệt may Việt Nam. Thuế nhập khẩu rất cao 45-
50%. Mức thuế cao nhất đối với hàng của Việt Nam là 76% trong khi
mức thấp nhất của các nớc là 20,6% (xem biểu 6)
Ngay cả khi hiệp định thơng mại đợc ký kết các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam cần phải nỗ lực chuẩn bị rất nhiều mới có thể thâm
nhập đợc thị trờng này. Bởi lẽ thị trờng Mỹ có nhu cầu tiêu dùng lớn
quốc qui định các nớc thành viên có GATT ( nay là WTO- World
Trade Organization) dành cho nhau chế độ đối xử u đãi nhất trong
quan hệ kinh tế thơng mại đặc biệt là lĩnh vực thuế quan. Trên thực tế,
Mỹ đã dành NTR cho tất cả các nớc bạn hàng của mình kể cả các nớc
XHCN. Ưu tiên lớn nhất của quy chế MFN( NTR) là giảm và miễn thuế
các sản phẩm xuất khẩu của những nớc cha đợc hởng quy chế
MFN( NTR) vào Mỹ chịu thuế xuất nhập khẩu gấp sáu lần sản phẩm
xuất khẩu của các nớc hởng quy chế MFN( NTR). Bên cạnh đó, còn
có cả hệ thống u đãi phổ cập (Generalized system of Preerences
GDP) cũng tác động rất lớn tới các sản phẩm xuất khẩu. Theo hình thức
này các nớc đang phát triển đợc hởng u đãi thuế quan bằng không
đối với một số sản phẩm bán từ nớc đó vào Mỹ. Nhng mặt hàng chỉ
đợc miễn thuế nếu đáp ứng đợc các yêu cầu nh sản phẩm đợc xuất
khẩu trực tiếp từ nớc đang hởng GSP sang Mỹ và sản phẩm đợc chế
biến hoặc sản xuất toàn bộ hoặc hơn 35% giá trị gia tăng tại nớc đang
hởng GSP. Và theo luật pháp Mỹ, Việt Nam chỉ đợc hởng u đãi
GSP sau khi đã đạt đợc quy chế tối huệ quốc (MFN) và phải là thành
viên của WTO và IMF. Do đó ngay cả khi Việt Nam đã có quy chế tối
huệ quốc thì vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa Việt Nam và các
nớc châu á khác đang hởng quy chế GSP trong vấn đề đề xuất hàng
qua Mỹ.
Hệ thống quản lý hạn ngạch dệt may ở Mỹ. Mỹ là một nớc thành
viên của hiệp định đa sợi (Muil-Fibex arangement MFA) là hiệp định
hạn chế bằng Quota các hàng dệt may và nhập khẩu vào các nớc công
nghiệp phát triển, nhằm bảo vệ công nghiệp dệt may và đảm bảo công
Đề án môn học 7
phải khắc phục dần dần.
Khâu yếu của ngành may Việt Nam là thiết kế mẫu mã nên phải
tập trung đầu t nghiên cứu để có thể sản xuất ra những sản phẩm với tỉ