Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động liên doanh tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)” - Pdf 90

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thực trạng và giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả hoạt động liên doanh
tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)

Sinh viên: Trần Thị Hà Tuyết

Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
1
LỜI NÓI ĐẦU 2
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp liên doanh theo Luật
đầu tư nước ngoài tại Việt nam
Chương II: Thực trạng liên doanh với nước ngoài tại Công ty Dầu khí Đài
Hải (DHP)
Chương III: Định hướng phát triển và các giải pháp nhằm tăng cường liên
doanh có hiệu quả với nước ngoài tại Công ty Dầu khí Đài Hải (DHP)
Qua bài viết này tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tớ
i
Cô giáo- Tiến sĩ Vũ Thị Kim Oanh – Khoa kinh tế Ngoại thương, Trường Đại
học Ngoại thương, Văn phòng Công ty Dầu khí Đài Hải Hà nội đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này. Tôi hy vọng bài viết sẽ nhận được
nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong trường và của Công ty Dầu
khí Đài Hải (DHP).


ước ngoài đầu tư
vào Việt nam.
Hiện nay, do sự phát triển đa dạng, sâu rộng mang tính toàn cầu của nền
kinh tế thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đó mà cũng hình thành những
hình thức đầu tư đa dạng để phù hợp với điều kiện đầu tư của từng nhà đầu tư,
của từng quốc gia trong từng điều kiện c
ụ thể.
2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu
2.1 Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng (gọi là
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
4
các bên hợp doanh) ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động
sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội
dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
các bên tham gia mà không thành lập một pháp nhân.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp
doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả
thuận và được
cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y.
Các bên hợp doanh vẫn giữ nguyên sở hữu riêng đối với tài sản góp vào
hợp doanh.
Kết quả hoạt động phụ thuộc vào sự tồn tại và việc thực hiện nghĩa vụ của
mỗi bên hợp doanh.
2.2 Doanh nghiệp liên doanh

của nướ
c chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn này nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng (Build) - chuyển giao (Transfer)- kinh doanh
(Operation) (BTO) là văn bản được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền của nước chủ nhà với nhà đầu tư nước ngoài để xây dự
ng công trình kết
cấu hạ tầng, sau khi xây xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình
đó cho nhà nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước
ngoài quyền kinh doanh khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định
để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng xây dựng (Build) - chuyển giao (Transfer) (BT) là văn bản
được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà vớ
i nhà
đầu tư nước ngoaì để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây xong
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước chủ nhà,
Chính phủ nước chủ nhà cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác
để kinh doanh, khai thác nhằm thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Vốn để thực hiện dự án theo hợp đồng BOT, BTO, BT là vốn riêng của
nhà đầu tư nước ngoài, song cũng có thể là v
ốn của nhà đầu tư nước ngoài
cộng với vốn của Chính phủ nước chủ nhà.
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
6


Trần Thị Hà Tuyết
7
Trong cuốn “Từ điển tiếng Anh kinh doanh”, J.H Adam đã định nghĩa:
“Doanh nghiệp liên doanh là một quan hệ bạn hàng tạm thời nhưng đôi khi có
tính chất lâu dài được thành lập từ hai hoặc nhiều cá nhân hoặc công ty hoạt
động trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định trong đó rủi ro về thua lỗ nhưng
vẫn có thể mong đợi một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Các bên liên doanh cùng chia
sẻ các khoản chi phí và lợi nhuận theo các t
ỷ lệ được thoả thuận.” Định nghĩa
này chỉ ra một doanh nghiệp liên doanh thực chất là một quan hệ bạn hàng
tạm thời hoặc lâu dài của hai bên hoặc nhiều cá nhân hoặc công ty cùng hoạt
động trong một lĩnh vực kinh doanh. Lợi nhuận là độnglực để thành lập các
doanh nghiệp liên doanh. Các khoản chi phí và lợi nhuận được phân chia giữa
các bên theo tỷ lệ đã được thoả thuận.
Luật kinh doanh (Business Law) của Hoa Kỳ
định nghĩa: “Liên doanh là
một quan hệ bạn hàng trong đó hai hay nhiều chủ thể cùng đóng góp lao động
hoặc tài sản để thực hiện mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận
và rủi ro ngang nhau hoặc do các bên thoả thuận”. Giống với định nghĩa trên
đây, định nghĩa này cũng nêu rõ được liên doanh là một quan hệ bạn hàng của
hai hay nhiều chủ thể cùng tham gia nhằm thực hiện những mục tiêu nhất đị
nh
và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro. Tuy vậy định nghĩa này còn cho
thấy tài sản và lao động là những yếu tố cơ bản do các bên liên doanh đóng
góp để thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra khái niệm về liên

nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc
hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam và
chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầ
u tư
nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp doanh nghiệp Việt nam, hoặc do doanh
nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên
doanh.
Qui định này của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam tập trung chủ yếu
vào khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp liên doanh là hợp đồng liên doanh ký
kết giữa bên hoặc các bên Việt nam với bên hoặc các bên nước ngoài. Số bên
tham gia vào doanh nghiệp liên doanh có thể là một hoặc nhiều bên nh
ằm tiến
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
9
hành hoạt động kinh doanh. Cũng có thể các doanh nghiệp liên doanh được
thành lập là một bên của một doanh nghiệp liên doanh mới. Tuy nhiên, trong
điều kiện của Việt nam, có một ngoại lệ do hoàn cảnh lịch sử để lại là cơ sở
pháp lý của doanh nghiệp liên doanh có thể là một Hiệp định Quốc tế ký giữa
hai Chính phủ: Chính phủ Việt nam và Chính phủ nước ngoài (doanh nghiệp
liên doanh dầu khí Việt Xô-Vietsopetro là một ví dụ minh hoạ cho ngoại l

này).
Như vậy, nếu căn cứ theo một số định nghĩa trên đây, có thể thấy rằng
trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với doanh nghiệp liên doanh
nước ngoài, mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh đến một khía cạnh đặc thù nhất định

quốc gia, các chi nhánh của công ty đa quốc gia với các cơ quan của Chính
phủ hoặc giữa chi nhánh của công ty đa quốc gia với tư nhân. Điều này có
nghĩa là đối tác tham gia thành lập liên doanh r
ất đa dạng.
- Thứ ba, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài bao gồm nhiều yếu tố
nước ngoài khác nhau: quốc tịch khác nhau, công nghệ quản lý khác nhau,
khác nhau về hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá. Sự khác nhau
này làm tăng tính phức tạp của việc tổ chức liên doanh cũng như làm tăng rủi
ro của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh.
- Thứ tư, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài hoạt độ
ng trên cơ sở
đóng góp của các bên về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cùng chịu
trách nhiệm về lợi nhuận và chia sẻ các rủi ro. Điều này phản ánh thuộc tính
“cộng đồng” về trách nhiệm của các bên đối với những hoạt động của liên
doanh. Bản chất của lợi thế này của liên doanh không phải là phép cộng đơn
giản các lợi thế sẵn có của các bên mà chính là việc tạo ra những l
ợi thế mới
lớn hơn khả năng nội tại của các bên.
- Thứ năm, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp liên doanh với nước
ngoài có thể bao gồm các hoạt động chế tạo, chế biến, buôn bán hoặc các hoạt
động dịch vụ như dịch vụ tài chính ngân hàng, du lịch, vận tải, bảo hiểm, tư
vấn, hoạt động nghiên cứu cơ bả
n và nghiên cứu triển khai...Đối tượng hoạt
động kinh doanh đa dạng của doanh nghiệp liên doanh làm tăng tính đặc thù
trong hoạt động của các liên doanh trong các lĩnh vực khác nhau.
- Thứ sáu, cơ sở pháp lý của sự tồn tại và hoạt động của các doanh
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết


a/ Đặc trưng về mặt kinh doanh
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được thành lập trên cơ sở các
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
12
bên cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng phân chia lợi nhuận dựa theo
tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định của liên doanh. Tuy vậy, cơ chế phân chia
lợi nhuận này còn phụ thuộc vào hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Các bên cùng chia sẻ rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp liên doanh.
Các loại rủi ro rất đa dạng, chẳng hạn: rủi ro về chính trị - đó là sự thay đổi
của thể chế chính trị, sự thay đổi củ
a Chính phủ hay Nhà nước; rủi ro về pháp
lý – sự thay đổi của hệ thống luật pháp và sự thay đổi của các chính sách và
qui định áp dụng đối với liên doanh; rủi ro về kinh tế – sự thay đổi về giá cả,
quan hệ cung cầu, mặt hàng liên quan đến liên doanh hoặc do tình trạng kinh
tế của đất nước đang ở tình trạng suy thoái; rủi ro trong kinh doanh – sự thay
đổi của khối khách hàng, tình trạng cạnh tranh trên thị trường hoặc rủi ro do
thiếu hiểu biết về môi trường văn hoá, phong tục, tập quán của người tiêu
dùng tại nước sở tại. Những rủi ro này sẽ càng lớn nếu thị trường hoạt động
của liên doanh hoàn toàn xa lạ với công ty có chiến lược đầu tư ra nước ngoài
trong dài hạn. Rủi ro, mạo hiểm càng cao thì khả năng thu lợi nhuận càng lớn
nhưng đồng thời xác suất đổ vỡ của doanh nghiệp liên doanh càng cao.
Đối
với các công ty đầu tư một khối lượng vốn lớn vào một lĩnh vực kinh doanh
nhất định thì hình thức liên doanh sẽ tạo điều kiện giảm bớt tổn thất xảy ra
trong kinh doanh, đối với các công ty này, rủi ro, mạo hiểm được chia sẻ cùng

của doanh nghiệp liên doanh trong việc tạo ra những lợi ích cho các bên. Đặc
trưng pháp lý quy định tính độc lập của doanh nghiệp liên doanh và phản ánh
tính hợp pháp của sự tồn tại của doanh nghiệp liên doanh theo điều kiện của
nước sở tại (nước có doanh nghiệp liên doanh thành lập). Cả hai
đặc trưng này
cùng phản ánh một thực thể độc lập – doanh nghiệp liên doanh, cho nên có thể
gọi doanh nghiệp liên doanh là một thực thể kinh doanh – pháp lý quốc tế
độc lập.
Doanh nghiệp liên doanh hoạt động trong một môi trường kinh doanh đa
dạng của nước sở tại. Môi trường này bao gồm cả môi trường chính trị, môi
trường kinh tế, môi trường luật pháp, môi trường văn hoá xã hội và môi
trường cạnh tranh. Các loại môi trường này đều tác
động đến doanh nghiệp
liên doanh kể từ khi công ty bắt đầu thành lập và môi trường kinh doanh có sự
thay đổi trong từng giai đoạn nhất định. Đồng thời doanh nghiệp liên doanh
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
14
cũng có mối quan hệ hữu cơ với thị trường nước ngoài.
Những đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài
được thể hiện qua mô hình dưới đây:
Môi trường kinh doanh: chính trị, kinh tế, pháp luật,
văn hoá - xã hội, cạnh tranh quốc tế…

vốn

Cùng

tham

gia
quản lý

Cùng
phân
chia
lợi
nhuận
Cùng
chia
sẻ rủi
ro
DNLD hoạt
động theo hợp
đồng liên doanh,
đIều lệ và luật
pháp của nước
sở tại

DNL
D có

cách
pháp

+ Mục tiêu và phạm vi kinh doanh,
+ Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ
góp vốn pháp định của các bên,
phương thức và tiến độ góp vốn pháp định,
+ Số lượng thành viên, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm kỳ
của Hội đồng quản trị, quyền hạn của Tổng giám đốc và các phó tổng giám
đốc,
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
16
+ Đại diện của doanh nghiệp liên doanh trước toà án, trọng tài và cơ
quan Nhà nước Việt nam,
+ Các vấn đề tài chính của doanh nghiệp,
+ Tỷ lệ phân chia lãi và lỗ cho các bên liên doanh,
+ Quan hệ lao động trong doanh nghiệp liên doanh, kế hoạch đào tạo
cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân,
+ Thời hạn hoạt động, kết thúc và giải thể doanh nghiệp liên doanh,
+ Thủ tục sửa đổi điều lệ doanh nghiệp liên doanh.
Trong suố
t quá trình hoạt động của doanh nghiệp liên doanh, nếu các
bên liên doanh thoả thuận thống nhất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp
đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp liên doanh thì những sửa đổi bổ sung
đó chỉ có hiệu lực khi đã được chuẩn y của cơ quan cấp giấy phép đầu tư.
Kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư doanh nghiệp liên doanh chính
thức đượ
c thành lập và tiến hành hoạt động kinh doanh.

+ Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công
nghệ và dịch vụ kỹ thuật.
Bên Việt nam góp vốn pháp định bằng:
+ Tiền Việt nam, tiền nước ngoài,
+ Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác,
+ Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công
nghệ và dị
ch vụ kỹ thuật.
+ Giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt nam về đất
đai,
+ Các nguồn tài nguyên, giá trị quyền sử dụng mặt nước, mặt biển theo
quy định của pháp luật Việt nam.
Các bên liên doanh có thể góp vốn bằng các hình thức khác nữa nhưng
phải được Chính phủ Việt nam chấp thuận.
Giá trị phần vốn của mỗi bên liên doanh được xác định trên c
ơ sở giá thị
trường tại thời điểm góp vốn và do các bên thoả thuận thống nhất. Nhưng giá
trị máy móc thiết bị dùng để góp vốn pháp định phải được một tổ chức giám
định độc lập cấp chứng chỉ giám định. Trong trường hợp cần thiết cơ quan
quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài có quyền chỉ định tổ chức giám định
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
18
để giám định lại giá trị các khoản vốn góp của mỗi bên.
Tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên liên doanh do chính các bên thoả
thuận, nhưng phần vốn góp của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài

19
hoạt động có ít nhất một thành viên là công dân Việt nam đại diện cho bên
Việt nam trong liên doanh.
Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị do các bên liên doanh thoả thuận
nhưng không được quá năm năm.
Hội đồng quản trị họp mỗi năm ít nhất một lần. Ngoài ra có thể có cuộc
họp bất thường do 2/3 thành viên Hội đồng quản trị, hoặc do một trong các
bên liên doanh, hoặc do Tổng giám đốc hay Phó tổng giám đốc th
ứ nhất yêu
cầu.
Các cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu
tập và chỉ được tiến hành khi có 2/3 thành viên tham dự.
Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí của tất cả các
thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp đối với các vấn đề quan
trọng như: bổ
nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc thứ
nhất, kế toán trưởng, sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp, duyệt quyết toán
thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình, vay vốn đầu tư. Đối với
các vấn đề khác quyết định của Hội đồng quản trị có giá trị khi được quá bán
số thành viên có mặt biểu quyết.
b. Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc là c
ơ quan quản lý điều hành
hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp liên doanh. Tổng giám đốc hoặc Phó
Tổng giám đốc thứ nhất phải là người đại diện cho bên Việt nam và là công
dân Việt nam thường trú tại Việt nam. Nếu doanh nghiệp liên doanh chỉ có
một Phó Tổng giám đốc thì đó là Phó Tổng giám đốc thứ nhất.
Hội đồng quản trị phân định quyền hạn và nhiệm vụ giữa Tổng giám

đồng thuê quản lý. Tổ chức quản lý phải thực hiện nghĩa vụ về thuế và các
nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Việt nam. Doanh nghiệp liên doanh
có nghĩa vụ thay mặt tổ chức quản lý nộp các khoản thuế này cho Nhà nước
Việt nam.
Ban giám đốc doanh nghiệp liên doanh có nghĩa vụ hỗ trợ và giám sát
hoạt động của tổ chức qu
ản lý. Doanh nghiệp liên doanh là người chịu trách
nhiệm trước pháp luật mọi hoạt động của tổ chức quản lý trong việc thực hiện
hợp đồng thuê quản lý.
1.6 Thời hạn hoạt động, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp liên doanh
Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp liên doanh do các bên liên doanh
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
21
thoả thuận, được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chuẩn y và ghi trong Giấy phép
đầu tư, nhưng không quá 50 năm. Trong trường hợp đặc biệt, căn cứ vào quy
định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn
nhưng không quá 70 năm.
Doanh nghiệp liên doanh có quyền đề nghị kéo dài thời hạn hoạt động đã
ghi trong Giấy phép đầu tư. Muốn vậ
y chậm nhất là 6 tháng trước khi kết thúc
thời hạn hoạt động doanh nghiệp phải làm đơn gửi đến cơ quan cấp giấy phép
đầu tư xem xét quyết định. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn xin gia
hạn cơ quan cấp giấy phép đầu tư thông báo quyết định của mình.
Doanh nghiệp liên doanh chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:
- Hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép đầu tư;

nghiệp, thay
đổi bộ mặt nông thôn cũng như tạo điều kiện phát triển các ngành
kinh tế khác. Trong điều kiện nước ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài
sẽ là những “đầu tàu” dịch chuyển vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm
quản lý và là phương thức kết hợp nhuần nhuyễn các loại quy mô, trình độ
công nghệ vào hình thành và phát triển công nghệ mũi nhọn, đẩy mạnh việc
phân công lao động xã hội theo ngành, theo vùng lãnh thổ, gắn v
ới lợi thế
trong từng vùng và gắn Việt nam với các nước trong khu vực và các nước trên
thế giới. Đồng thời với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế với mục tiêu công
nghiệp và dịch vụ chiếm 90% trong toàn bộ nền kinh tế vào năm 2020 là việc
hình thành lớp người có kiến thức, có năng lực điều hành và quản lý kinh tế
với tác phong công nghiệp, nhạy bén và năng động để
đưa đất nước ra khỏi
tình trạng tụt hậu, phát triển đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra yêu cầu gắn việc khai thác
triệt để các nguồn nhân lực bên trong với việc thu hút các nguồn lực bên
ngoài. Quá trình thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp liên doanh phải
gắn với việc đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nhanh tỷ trọng hàng xuất kh
ẩu đã qua
chế biến, từng bước thay thế nhập khẩu những mặt hàng sản xuất trong nước
có hiệu quả.
Thành lập các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là phương tiện
có hiệu quả để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công cuộc công
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết

n kinh tế đất nước, tuy nhiên
tiềm lực và quy mô còn quá nhỏ bé so với vị trí, vai trò của nó trong nền kinh
Khoá luận tốt nghiệp

Trần Thị Hà Tuyết
24
tế.
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã
đánh giá nền kinh tế Việt nam như sau: “Đến nay nước ta vẫn còn là một trong
những nước nghèo nhất thế giới; trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao
động, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu,
nợ nầ
n rất nhiều…nhu cầu vốn đầu tư phát triển rất lớn và cấp bách”. Theo số
liệu thống kê, trình độ công nghệ của thiết bị, máy móc và công nghệ của các
doanh nghiệp quá thấp so với mức tiên tiến của thế giới. Trình độ công nghệ
máy móc thiết bị của Việt nam chỉ đạt 0,7%, một số khâu đạt từ 0,15% đến
0,20%, giá trị hiện tại của hầu hết thiết b
ị còn 30% sơ với nguyên giá ban đầu.
Hệ số sử dụng của thiết bị, máy móc quá thấp, mức tiêu hao nhiên liệu cao
hơn 1,5 đến 2,0 lần so với mức tiên tiến của thế giới, trang bị kỹ thuật của các
doanh nghiệp nhìn chung lạc hậu 2-3 thế hệ so với các nước trong khu vực
Đông Nam Á. Do vậy, các doanh nghiệp đang tìm cách thu hút vốn đầu tư
nước ngoài để mở rộng khả năng sả
n xuất và tăng cường khả năng kinh doanh.
Mặt khác, do yêu cầu của việc mở rộng thị trường ra nước ngoài của các
doanh nghiệp công nghiệp và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về
xuất khẩu gắn với thay thế hàng nhập khẩu, việc thành lập và phát triển hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status