Luận văn tốt nghiệp ĐHTMLuận văn tốt nghiệp:
“Lợi nhuận và các giải pháp nâng cao lợi nhuận ở công ty xuất
nhập khẩu tạp phẩm TOCONTAP”
Đặng Thu Trang 1 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương Khái niệm chung về hoạt động xuất nhập khẩu
1. Khái niệm về hoạt động XNK uỷ thác
2. Nội dungvà đặc điểm của hoạt động XNK uỷ thác
3. Các văn bản của Nhà nước điều chỉnh XNK uỷ thác
4. Các nghiệp vụ của hoạt động XNK uỷ thác
5. Hợp đồng uỷ thác XNK
Hoạt động XNK uỷ thác ở Công ty TOCONTAP
A. Vài nét về Công ty TOCONTAP và tình hình XNK uỷ thác ở Công ty
trong mấy năm qua
1. Gới thiệu tóm tắt về Công ty TOCONTAP
2. Cơ cấu tổ chức ở Công ty TOCONTAP
3. Tình hình XNK nói chung va XNK uỷ thác ở Công ty trong mấy năm qua
B. Thực hiện hợp đồng XNK uỷ thác ở Công ty TOCONTAP
1. Giao dịch
2. Chào hàng, đặt hàng
3. Đàm phán
Đặng Thu Trang 2 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
4. Ký kết hợp đồng ngoại
5. Ký kết hợp đồng XNK uỷ thác
6. Kiểm tra chất lượng
nay các đơn vị này phải tự hạch toán kinh doanh lời ăn, lỗ chịu, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có nỗ lực rất lớn để tồn tại.
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh găy gắt
diễn ra giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau đã
đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng tích luỹ vốn phát triển và đầu tư mở
rộng kinh doanh. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao thu được nhiều lợi nhuận.
Lợi nhuận hiện nay được coi là một trong những đòn bảy kinh tế có hiệu lực
nhất kích thích mạnh mẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Lợi nhuận không những phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong điều kiện nền kinh tế thị trường mà nó còn là nguồn tài chính quan
trọng để thực hiện tái sản xuất mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và
nâng cao đời sống của người lao động trong doanh nghiệp.
Đặng Thu Trang 4 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh
doanh, trong quá trình thực tập tại công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội
(TOCONTAP) được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Phương
Liên và các cô chú phòng tài chính kế toán của công ty em đã hoàn thành
luận văn tốt nghiệp với đề tài “Lợi nhuận và các giải pháp nâng cao lợi
nhuận ở công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm TOCONTAP”.
Trong khuôn khổ thời gian thực tập cho phép, luận văn của em đã
hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những khuyết điểm, hạn chế đòi hỏi
phải nghiên cứu sâu hơn. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ dậy của
thầy cô giáo, cùng toàn thể các bạn đọc để giúp em hoàn thành luận văn tốt
hơn.
Trong quá trình hoàn thành bài luận văn này em đã được sự hướng
dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Phương Liên bộ môn Quản Trị Tài
Chính Quốc Tế và sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cô, chú, bác, anh chị
trong công ty XNK tạp phẩm Hà Nội (TOCONTAP )
hành các hoạt động sxkd ,cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm
các khoản nợ của công ty trong phần vốn góp của mình.
Đặng Thu Trang 6 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Việc phân loại này chỉ rõ mối quan hệ sở hữu vốn ,tài sản thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau ,là căn cứ để phân chia hiệu quả kinh tế theo
vốn góp và cũng là căn cứ để nhà nước quy định chế độ chính sách kinh tế
,định hướng phát triển phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp.
1.2Đặc trưng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường .
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp
khác nhau nên cũng tồn tại những đặc trưng khác nhau .Tuy nhiên doanh
nghiệp nói chung đều mang những đặc trưng sau:
Mọi doanh nghiệp đều không ngừng tìm cách nâng cao hiệu quả
SXKD.
Các DN là các đơn vị tự chủ trong SXKD và tự chủ về tài chính.
Hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị chi phối bởi các quy luật
của nền kinh tế thị trường như: Quy luật cạnh tranh ,quy luật cung
cầu, quy luật giá trị ...
Mọi lợi ích kinh tế của doanh nghiệp được phân phối một cách
công bằng .
2/Lợi nhuận của doanh nghiệp
2.1Khái niệm:
*Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các
doanh nghiệp trong hoạt động SXKD . Đó là kết quả tài chính cuối cùng sau
một quá trình tiến hành SXKD của doanh nghiệp .
*Theo thuật ngữ Thương Mại (The langugue of trade): Lợi nhuận
( profit) là thu nhập ròng có được do sản xuất hay bán các hàng hoá và dịch
vụ. Nghĩa là số tiền còn lại dành cho nhà doanh nghiệp sau khi đã thanh toán
tất cả các khoản vốn (lãi suất), đất đai (tô), lao động ( bao gồm chi phí quản
lý, lương, tiền công), nguyên liệu thô, thuế và khấu hao. Nếu như doanh
chính là “phần giá trị thừa” ngoài các chi phí trả cho công nhân và chính lợi
nhuận do công nhân tạo ra chứ không phải do toàn bộ tư bản đầu tư đẻ ra.
Vào thế kỷ 19, nguồn gốc của lợi nhuận mới được nhận thức một cách
đúng đắn qua sự phân tích của K.Marx. Bằng vào những lí luận khoa học và
phương pháp khoa học, K.Marx chỉ ra rằng tham gia vào quá trình tạo ra giá
trị hàng hoá có 3 bộ phận đó là : tư bản bất biến, tư bản khả biến và giá trị
thặng dư.
Tư bản bất biến là bộ phận giá trị tồn tại dưới hình thái tư liệu sản
xuất ( nhà xưởng, máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ...)
mà giá trị của nó được bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm,
không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất ( ký hiệu là c)
Tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động
của công nhân làm thuê tạo ra và không được trả công , nói cách khác
đó là bộ phận tư bản được dùng để mua sức lao động không tái hiện ra
giá trị nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê
mà tăng lên, tức là biến đổi về mặt lượng ( ký hiệu là v)
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao
động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không ( ký
hiệu là m)
Từ đó ta thấy rằng tham gia vào việc tạo ra giá trị thặng dư có 2 yếu tố
là : tư bản bất biến và tư bản khả biến. Nếu ký hiệu giá trị hàng hoá được sản
xuất trong xí nghiệp tư bản chủ nghĩa là Gt thì Gt =c+v+m (1)- hao phí lao
động thực tế của xã hội để sản xuất ra hàng hoá. Nhưng đối với các nhà tư
bản để che dấu sự bóc lột của mình họ cho rằng giá trị thặng dư không phải
do sức lao động của công nhân làm thuê tạo ra mà đó là do hao phí tư bản
tạo ra, tức là c và v, c+v tạo ra. Trên quan điểm đó các chủ tư bản cho rằng
Đặng Thu Trang 9 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra lợi nhuận chứ không phải do bộ
phận (v) tạo ra giá trị thặng dư.
Trên đây là sự phân tích nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận dưới
hình thái sản xuất tư bản chủ nghĩa còn dưới nền sản xuất xã hội chủ nghĩa
thì lợi nhuận còn giữ nguyên nguồn gốc và bản chất đó không? Câu trả lời sẽ
là : Lợi nhuận vẫn được tạo ra do bộ phận (v) tức là do người lao động tạo ra
nhưng khác ở chỗ: dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì tư liệu sản xuất là thuộc
về chủ nghĩa tư bản, do vậy mà lợi nhuận thu được thì chủ nghĩa tư bản bỏ
túi làm của riêng của mình , còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thì dựa trên
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất do vậy sau khi đã trả tiền lương cho
người lao động thì phần lợi nhuận đó sẽ được dùng để bổ xung vào nguồn
vốn kinh doanh của doanh nghiệp, phần còn lại thì phân phối vào các quĩ với
mục đích tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
cuối cùng là để phục vụ lợi ích của người lao động.
Kết luận: Qua phân tích trên ta có thể khẳng định bản chất của lợi
nhuận trong sản xuất kinh doanh là giá trị thặng dư , là hình thức biến tướng
của giá trị thặng dư - kết quả của lao động không được trả công, là quan hệ
bóc lột trong xã hội TBCN. Nguồn gốc lợi nhuận là do người lao động làm
thuê tạo ra, nó là phần giá trị dôi ra ngoài tiền công do người lao động làm
ra. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì lợi nhuận bị nhà tư bản chiếm đoạt mất
và biểu hiện quan hệ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa chủ tư bản và công
nhân làm thuê tạo lên mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản, còn dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa thì lợi nhuận chính là để phục vụ lợi ích của người lao
động, nhờ có nó mà người lao động sẽ được thoả mãn về lợi ích kinh tế và
góp phần vào việc phát triển kinh tế đất nước, xây dựng xã hội tiến bộ công
bằng văn minh vì cuộc sống ấm no của người lao động.
Đặng Thu Trang 11 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
2.2Kết cấu lợi nhuận .
Mỗi doanh nghiệp với mỗi ngành nghề ,mỗi lĩnh vực đầu tư lại đẻ ra
một loại lợi nhuận khác nhau . Nhưng nhìn chung lợi nhuận doanh nghiệp
bao gồm :
*Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh phụ
Là lợi nhuận thu được từ các hoạt động được tiến hành ngoài chức
năng nhiệm vụ chính của doanh nghiệp,hỗ trợ các hoạt động kinh doanh
chính của doanh nghiệp và tận dụng tối đa các nguồn lực của doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, sức lao động và các yếu tố vật tư kỹ thuật,
máy móc thiết bị.
Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh phụ là khoản chênh lệch
giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh phụ và chi phí phân bổ cho hoạt
động kinh doanh phụ đó.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh phụ tuy chiếm tỷ trọng không lớn
trong tổng mức lợi nhuận song nó có ảnh hưởng tới sự tăng giảm tổng mức
lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được và đồng thời cho thấy việc tận dụng
triệt để các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, đa dạng hóa các cơ hội tìm
kiếm lợi nhuận, giảm thiểu những rủi ro trước những biến đổi không thể
lường hết được từ phía môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
*Phương pháp xác định lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ta có công thức xác định lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh
như sau:
Đặng Thu Trang 13 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
-Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Là toàn bộ những khoản doanh thu từ việc tiêu thụ những sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ, lao vụ trong kỳ. Trong đó bao gồm:
+Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính: Là khoản tiền
thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp
được ghi trong giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp.
+Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ: Là khoản thu phụ
thêm ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp nhằm
khai thác và tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có trong doanh nghiệp.
chuyển, bốc dỡ, chi phí đóng gói... phân bổ cho hàng hoá
tiêu thụ trong kỳ.
2. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì trị giá vốn hàng bán
là giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, tiêu thụ trong kỳ
bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí quản lý phân xưởng
-Chi phí bán hàng
Là khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ... Bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên
bán hàng, chi phí về vật liệu đóng gói, vận chuyển bảo quản hàng hoá. Chi
phí khấu hao tài sản cố định, công cụ, dụng cụ, đồ dùng... phục vụ cho bán
hàng. Ngoài ra còn có các chi phí khác như chi phí quảng cáo, tiếp thị, điều
tra thị trường, bảo hành, hoa hồng...
-Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Đặng Thu Trang 15 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Là toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh
trong quá trình quản lý doanh nghiệp, quản lý hành chính và các chi phí
chung khác của toàn bộ doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý
doanh nghiệp, chi phí vật liệu dùng trong quản lý, chi phí đồ dùng văn
phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định. Ngoài ra còn có các khoản chi phí:
thuế và lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền
khác.
2.2.2Lợi nhuận hoạt động tài chính
Là lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính của doanh
nghiệp , đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh, liên
kết kinh doanh, góp vốn cổ phần, hoạt động mua bán tín phiếu, trái phiếu, cổ
đòi đã xử lý nay đòi được, tiền phạt bồi thường do phía đối tác vi
phạm hợp đồng, các khoản thu nhập bị bỏ sót...
Chi phí bất thường: là các khoản chi phí phát sinh ta mà doanh nghiệp
không lường trước được bao gồm: Các khoản chi phí thanh lý,
nhượng bán tài sản cố định đã hết thời hạn sử dụng, khoản tiền bị phạt
bồi thường hợp đồng và truy thu thuế, tài sản thiếu không xác định
được nguyên nhân, chi phí bị bỏ sót...
Từ các phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp ta có công
thức xác định tổng lợi nhuận của doanh nghiệp như sau:
Đặng Thu Trang 17 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Như vậy, có thể thấy do ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh khác nhau
mà có sự khác nhau về tỷ trọng lợi nhuận của mỗi bộ phận lợi nhuận trong
tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặt khác tuỳ thuộc vào từng doanh
nghiệp, từng giai đoạn và thời kỳ kinh doanh mà kết cấu lợi nhuận của
doanh nghiệp có thể gồm 3 hoặc 4 bộ phận lợi nhuận mà doanh nghiệp đã
đạt trong kỳ.
Nghiên cứu kết cấu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi
doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể có những biện pháp thích hợp nhằm
điều chỉnh và nâng cao lợi nhuận từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp
cho phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp, đồng thời khắc
phục những yếu kém, hạn chế còn tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, phát huy những tích cực để thu được lợi nhuận cao
nhất.
2.3Tỷ suất lợi nhuận .(TSLN)
Khái niệm:.TSLN của doanh nghiệp là những chỉ tiêu tương đối cho
phép so sánh hiệu quả SXKD giữa các thời kì khác nhau trong một doanh
nghiệp hay giữa các doanh nghiệp với nhau trong cùng một thời kì .
Dựa vào TSLN mà người ta đánh giá được hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp . TSLN càng cao thì hiệu quả SXKD càng lớn và ngược lại .
P : tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ
Vbq: Tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
được xác định bằng công thức:
Đặng Thu Trang 19 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Trong đó:
V1,V2,..., Vn: là vốn kinh doanh tại các thời điểm kiểm kê ( tháng, quý)
n là số thời điểm kiểm kê
Ý nghĩa: Chỉ tiêu kinh tế này phản ánh trình độ sử dụng tài sản vật tư
tiền vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác phản ánh mức sinh lời của vốn
kinh doanh, tức là cứ một đồng vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ sẽ thu được
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn càng cao thì chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp là tốt.
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định
hay vốn lưu động trên cơ sở đó xác định hiệu quả sử dụng của từng loại vốn
kinh doanh cuả doanh nghiệp.
2.3.3Tỷ suất lợi nhuận chi phí
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và
tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.
Công thức xác định
CFKD: là tổng mức chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hoá và dịch vụ đã
tiêu thụ trong kỳ.
P : Tổng lợi nhuận thu được trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ với một
mức chi phí thấp cũng cho phép mang lại lợi nhuận cao cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.4Vai trò của lợi nhuận
Trong điều kiện hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường, doanh
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
dành thắng lợi trong cạnh tranh. Chỉ hoạt động kinh doanh mang lại lợi
nhuận thì doanh nghiệp mới có tiền đề vật chất để bảo toàn và phát triển vốn
kinh doanh, mở rộng quy mô kinh doanh, hay nói cách khác để tồn tại và
phát triển.
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có tác động đến mọi mặt quá trình sản
xuất kinh doanh, là khoản chênh lệch giữa doanh thu mà doanh nghiệp thu
được với các khoản chi phí bỏ ra để thu được các khoản doanh thu đó.
Khi hiệu số giữa hai chỉ tiêu kinh tế này càng lớn thì có nghĩa là
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có lãi. Điều đó phản ánh rằng hoạt
động của doanh nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu tự hạch toán lấy thu nhập
trừ chi phí.
Ngược lại chỉ tiêu lợi nhuận càng nhỏ và có khuynh hướng âm thì
chứng tỏ doanh nghiệp đang trong tình trạng hoạt động không có hiệu quả,
thu không đủ bù chi, hàng hoá không tiêu thụ hết còn ứ đọng trong kho.Tình
trạng này cho thấy doanh nghiệp hiện nay không đáp ứng được nhu cầu đặt
ra của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ. Chính vì vậy khi xem xét lợi
nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp khi lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh phải có đề ra được những biện pháp nhằm đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tăng doanh thu và có những biện pháp
hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng giúp doanh nghiệp đầu tư
chiều sâu mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, là điều kiện để củng
cố thêm sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Đặng Thu Trang 22 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Khi người lao động được trả lương thoả đáng, họ sẽ yên tâm lao động, phát
huy được tinh thần lao động sáng tạo, có trách nhiệm và tinh thần hết lòng vì
công việc và như vậy sẽ tăng được năng suất lao động chung của người lao
động trong công ty đưa hoạt động của công ty ngày một tốt hơn.
*Đối với Nhà nước
Lợi nhuận góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho Nhà nước,
nâng cao phúc lợi xã hội.
Đối với nhà nước thì các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh
trong nền kinh tế sẽ có những đóng góp đáng kể vào nguồn thu Ngân sách
cho Nhà nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế vào
Ngân sách Nhà nước như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc
biệt.
Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Ngân sách Nhà
nước, Nhà nước có thể thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế
quốc dân, thực hiện công bằng xã hội. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng nền
kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc lợi
xã hội, thành lập, cải tạo, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo công an
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao dân trí, xây dựng xã
hội công bằng văn minh hiện đại.
Lợi nhuận là động lực phát triển nền kinh tế quốc dân
Nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều chủ thể hoạt động sản xuất kinh
doanh, trong đó chủ thể là các doanh nghiệp chiếm số đông và vì vậy sự phát
triển của hệ thống các doanh nghiệp tạo nên sự phát triển lợi nhuận là mục
tiêu, là động lực, là cơ sở tồn tại và phát triển thì đối với Nhà nước lợi nhuận
cũng là động lực để phát triển nền kinh tế quốc gia.
Đặng Thu Trang 24 K35-E1
Luận văn tốt nghiệp ĐHTM
Lợi nhuận là một trong những thước đo phản ánh tính hiệu quả của
các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động sản