ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HUẾ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Huế
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 5
1.1. Khái niệm chung 5
1.1.1. Thừa kế và quyền thừa kế 5
3.3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về diện và hàng
thừa kế 96
Tiều kết chƣơng 3 102
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.
BLDS
:
Bộ luật dân sự
2.
HN&GĐ
:
Hôn nhân và gia đình
3.
PLTK
:
Pháp lệnh thừa kế
4.
PLVTK
:
Số hiệu biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1:
Các tranh chấp thừa kế giải quyết tại Tòa án từ
năm 2007 - 2011
83
Biểu đồ 3.2:
Thống kê thụ lý, giải quyết tranh chấp về thừa kế
từ năm 2006 - 2013
84 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền thừa kế ra đời là một trong những phương thức pháp lý để bảo
toàn và gia tăng tích lũy của cải trong xã hội. Nhà nước đã công nhận quyền
thừa kế của cá nhân đối với tài sản, coi thừa kế là một trong những căn cứ xác
lập quyền sở hữu. Điều này không chỉ có tác dụng kích thích tính tiết kiệm
trong sản xuất và tiêu dùng mà còn tạo động lực đẩy mạnh niềm say mê, kích
thích sự quản lý năng động của mỗi con người tạo ra khối tài sản của mình.
Khi họ chết, các tài sản của họ để lại sẽ trở thành di sản và được phân chia
cho các thế hệ con cháu, sự chuyển dịch di sản theo chế định thừa kế chính là
sự nối tiếp về quyền sở hữu. Pháp luật công nhận quyền thừa kế đã đáp ứng
phần nào mong mỏi của con người là tồn tại mãi mãi. Chính vì thế, pháp luật
thừa kế trên thế giới nói chung và pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói riêng đã
không ngừng phát triển và hoàn thiện chế định này.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng của vấn đề thừa kế nên nội dung này đã được rất
nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, nghiên cứu.Tiến sĩ Phùng Trung Tập đã
giới thiệu với bạn đọc tác phẩm "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam
từ năm 1945 từ trước đến nay"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện là tác giả của cuốn
"Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam"; Phó giáo sư,
Tiến sĩ Đinh Văn Thanh - Trần Hữu Biền có tác phẩm "Hỏi đáp về pháp luật
thừa kế". Ngoài ra, còn có nhiều bài viết về đề tài này được đăng tải trên sách,
báo, tạp chí. Bên cạnh đó còn có nhiều cử nhân, học viên chọn nội dung thừa kế
làm đề tài cho các bài tập cá nhân, bài tập lớn hay luận văn tốt nghiệp của mình.
Có công trình nghiên cứu trên phạm vi rộng mang tính toàn diện, bao quát toàn
bộ chế định thừa kế, cũng có công trình chỉ một phần nhỏ của chế định thừa kế.
3
Riêng với đề tài "Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam", tác giả tập
trung nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của diện và hàng thừa kế dọc
theo chiều dài lịch sử pháp luật Việt Nam qua đó đi sâu vào quy định pháp luật
hiện hành về Diện và hàng thừa kế, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị mang
tính giải pháp hoàn thiện các quy định về nội dung và hình thức trong luật.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, nội dung, bản chất quy
định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế. Khi nghiên cứu đề tài,
tác giả sẽ tham khảo toàn bộ các quy định pháp luật của nước ta về diện và
hàng thừa kế gắn với từng giai đoạn trong lịch sử theo sự phát triển của đất
nước, trong các sách chuyên khảo, đặc biệt là các quy định trong Bộ luật dân
sự 2005, so sánh với các quy định của một số nước trên thế giới về diện và
hàng thừa kế qua đó có cái nhìn về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện
hành một cách tổng quát hơn, cụ thể hơn.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các biện pháp
quy định của một số nước quy định về diện và hàng thừa kế qua đó làm sáng
tỏ những quy định của pháp luật hiện hành và tìm ra những vướng mắc còn
tồn tại trên thực tế và đề xuất kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về diện và hàng thừa kế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế.
Chương 2: Diện và hàng thừa kế trong các quy định của pháp luật
Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện
những quy định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng
thừa kế.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ
1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Thừa kế và quyền thừa kế
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được
pháp luật bảo vệ. Điều 32, Hiến pháp 2013 quy định “Quyền sở hữu tư nhân
và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” [27].
Từ điển tiếng Việt thừa kế là hưởng của người khác để lại cho.
Theo các tác giả của Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội,
thừa kế được hiểu là: Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho
những người còn sống. Khái niệm này đã phản ánh chính xác bản chất cũng
như nội dung thừa kế.
Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là
công dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ
Xét thừa kế dưới góc độ là phạm trù kinh tế tồn tại khách quan thì
quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ phát sinh khi có nhà nước và pháp
luật. Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả khi xã hội chưa
phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật, thì quyền thừa kế lại là
một quan hệ pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội đã phân chia giai cấp
và dẫn tới sự ra đời của nhà nước.
Xét thừa kế dưới góc độ pháp luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết
sang cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất
định do pháp luật quy định. Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng
7
như các phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể
trong quan hệ thừa kế.
Xét thừa kế dưới góc độ là quyền năng dân sự, quyền thừa kế là
những quyền năng cụ thể của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế và nhận
di sản thừa kế. Đó là những cách thức mà các chủ thể được phép xử sự theo
quy định của pháp luật: Được để lại di sản thừa kế như thế nào, phân định
phần di sản cho từng người thừa kế ra sao, việc lập di chúc phải tuân thủ
những yêu cầu gì, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc trong điều kiện
nào, ai là người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì bị tước quyền hưởng di
sản thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế như thế nào, Trong các quan
hệ về thừa kế, các chủ thể chủ động hiện thực hóa những quyền năng đó để
biến nó thành những quyền dân sự cụ thể qua đó đáp ứng được nhu cầu và
thực hiện được lợi ích cho bản thân mình.
Tóm lại, quyền thừa kế là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh
việc chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc
hoặc theo pháp luật, cũng như quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phương
của pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách
đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt
toàn bộ tài sản của mình.
Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt được ghi nhận
khá đầy đủ trong BLDS 2005.Trước hết đối với cá nhân người để lại tài sản
với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân
có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi
chết. Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe
doạ người lập di chúc. Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định
9
đoạt thông qua hình thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người
làm chứng cho việc lập di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở
của mình để lập di chúc.
Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có
quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong
khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định
người giữ di chúc; người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý
nguyện" cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung,
thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào.
Quyền định đoạt của cá nhân để lại di sản được thể hiện không những
trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hiện ngay trong
việc họ không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết. Đây
cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để
định đoạt tài sản của họ, mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại di sản của họ
cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật.
Như vậy pháp luật ghi nhận quyền định đoạt tài sản của người chết
thông qua việc lập di chúc để chỉ định thừa kế, truất quyền hưởng di sản của
năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:
Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết
cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử. Nếu cha, mẹ không
đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch tự xác định nội
dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử. Trong
cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi
rõ Trẻ chết sơ sinh [11].
11
Do vậy, có thể coi trường hợp này nhà nước chưa quản lý về hộ
tịch của đứa trẻ dưới một ngày. Như vậy có thể hiểu rằng, đứa trẻ sinh ra
sau một ngày thì coi như là còn sống.
Có quan điểm cho rằng, một đứa trẻ sinh ra phải có những căn cứ
pháp lý, đó là giấy khai sinh mới được coi là một cá nhân trong xã hội. Thực
tế, ở nhiều gia đình do không có điều kiện nên chưa làm giấy khai sinh được
thì đứa trẻ sinh ra được coi là một cá nhân trong xã hội hay chưa? Có được
thừa kế hay không? Thông thường một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời đã là
một con người trong xã hội. Vì vậy, không có lý do gì mà không thừa nhận sự
tồn tại của chúng trong xã hội. Vấn đề này cũng cần được quy định cụ thể để
tránh hiểu lầm và có căn cứ áp dụng pháp luật thống nhất.
Hiện nay pháp luật đã thừa nhận sinh con bằng phương pháp khoa
học kéo theo vấn đề phải xác định người thừa kế. Theo quy định tại khoản 1,
Điều 21, Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 quy định về
sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo, việc gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi được thực hiện
trong các trường hợp sau đây:
- Người chồng hoặc người vợ trong những cặp vợ chồng đang điều
trị vô sinh;
- Người có nguyện vọng muốn lưu giữ cá nhân;
- Người tình nguyện hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi;
được coi là con chung trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, nếu muốn xác định cha
cho con thì phải làm thủ tục xác nhận cha cho con (khoản 3, Điều 102, Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014). Sau khi làm thủ tục xác nhận cha, người chồng
mới được pháp luật thừa nhận là cha của đứa trẻ sinh ra.
13
Người hưởng thừa kế theo di chúc còn có thể là các cơ quan, tổ chức
phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì mới được hưởng di sản.
Nếu như pháp luật quy định người thừa kế có quyền hưởng di sản thì
cũng thừa nhận việc người thừa kế có quyền từ chối hưởng di sản. Quyền từ
chối này không được nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với
người khác. Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thì họ phải thể hiện ý chí
từ chối đó bằng hình thức văn bản trong thời gian luật định và phải báo cho
những người thừa kế khác cũng như cơ quan có thẩm quyền mà pháp luật quy
định về việc họ từ chối nhận di sản. Người thừa kế có quyền từ chối toàn bộ
quyền hưởng di sản thừa kế cũng có thể từ chối quyền thừa kế theo di chúc là
không từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật và ngược lại. Như vậy tất
cả những người được hưởng di sản thừa kế hay chỉ một số ngời đủ điều kiện
mới có quyền từ chối nhận di sản? Trường hợp người thừa kế chưa đủ 18 tuổi
thì sẽ xử lý như thế nào? Đây là trường hợp cần quan tâm và quy định cụ thể
hơn theo hướng muốn từ chối nhận di sản thì phải được sự đồng ý của cha,
mẹ, hoặc người giám hộ.
1.2. Diện và hàng thừa kế
1.2.1. Khái quát chung về diện và hàng thừa kế
* Diện thừa kế
Diện thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của chế định
thừa kế, tuy nhiên vấn đề này lại chưa được các nhà làm luật quy định cụ
thể, chi tiết trong luật. Khái niệm diện thừa kế chỉ được quan tâm nghiên
cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Còn luật thực định từ trước đến nay
chưa có văn bản nào quy định cụ thể về vấn đề này. BLDS năm 1995 cũng
Ngược lại với bản chất pháp luật thời kỳ phong kiến, pháp luật thừa
kế dưới chế độ mới ở nước ta đã được thể hiện rõ bản chất. Ngay trong bản
15
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Điều 9, Hiến pháp
1946 quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [20],
trong đó người vợ có quyền thừa kế như những người con khác khi chồng
chết trước. Đặc biệt, khi sắc lệnh số 97-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 được
ban hành, diện thừa kế theo pháp luật theo tinh thần của Điều 10 và Điều 11
bao gồm: con cháu, vợ hay chồng của người để lại di sản.
Như vậy, diện thừa kế theo pháp luật dưới chế độ mới ở nước ta
kể từ năm 1945 đến nay luôn được xác định trên ba mối quan hệ với
người để lại di sản.
- Những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản;
- Những người có quan hệ hôn nhân với người để lại di sản;
- Những người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản.
Một người có thể trở thành người thừa kế theo pháp luật đối với di
sản của người chết thì giữa họ phải có mối quan hệ nhất định khi người để lại
di sản còn sống. Mối quan hệ này là sợi dây ràng buộc họ bởi quyền của
người này và nghĩa vụ của người kia hoặc là bổn phận và trách nhiệm giữa họ
khi người để lại di sản còn sống. Những mối quan hệ được bắt nguồn từ sâu
xa của giá trị đạo đức truyền thống cùng sự phù hợp với pháp luật của một
chế độ xã hội nhất định.
Theo BLDS hiện hành thì những người thuộc diện thừa kế gồm: Vợ,
chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột của người chết; cháu
ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cụ
nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt
ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy, diện thừa kế bao gồm các cá nhân còn sống có quan hệ hôn
17
nhiều bậc trên dưới khác nhau theo quan hệ huyết thống nhưng giữa họ không
có sự ràng buộc về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau.
Tóm lại nguyên tắc phân chia di sản tuân theo trình tự hàng, người
thừa kế ở hàng thứ nhất có quyền hưởng di sản trước tiên so với các hàng
thừa kế sau. Thừa kế theo hàng là thừa kế theo trật tự hàng gần hơn loại hàng
xa hơn, Thừa kế theo trật tự hàng mang tính tuyệt đối. Pháp luật thừa kế của
Việt Nam luôn đứng trên tinh thần bảo vệ quyền lợi cho những người có quan
hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng. Tuy vậy tính ưu tiên trong quan
hệ thừa kế đó là những người thừa kế nằm trong mối quan hệ trực hệ với
người để lại di sản. Trong mối quan hệ trực hệ thì người nào gần nhất sẽ được
ưu tiên hưởng di sản hơn cả.
1.2.2. Diện và hàng thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới
Trên thế giới mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng của mình,
thậm chí trong cùng một quốc gia cũng tồn tại vài hệ thống pháp luật khác
nhau. Nhưng trong tất cả các hệ thống pháp luật đó có hai hệ thống pháp luật
có tính chất kinh điển và ảnh hưởng lớn nhất đó là truyền thống pháp luật lục
địa (Civil law) và truyền thống pháp luật án lệ (Com mon law). Trong truyền
thống pháp luật lục địa, cơ sở pháp luật dân sự là luật La Mã (Roman law),
luật dân sự bắt nguồn trước tiên từ các nước châu Âu lục địa như Pháp, Đức,
Italia các nước đã từng là thuộc địa của các nước này (như Việt Nam) sau
đó được thừa nhận ở hệ thống pháp luật phương Tây như Nhật Bản, Thái Lan,
Trung Quốc, bên cạnh đó, ở một số nước truyền thống luật án lệ cũng tồn tại
BLDS, đó là Bang Québec (Canađa) và Bang Lowssiana (Hoa kỳ). Chính vì
vậy, khi nghiên cứu PLVTK của một số nước trên thế giới, luận văn chỉ tập
trung vào một số quốc gia nhất định, cụ thể: BLDS Pháp với ý nghĩa là BLDS
điển hình trên thế giới. BLDS Thái Lan, Nhật Bản là những quốc gia châu á
gần gũi với Việt Nam.