Sắc màu huyền thoại trong truyện ngắn của Rabindnarath Tagore - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN NGỌC THỦY TIÊN

SẮC MÀU HUYỀN THOẠI
TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA RABINDNARATH TAGORE
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số : 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công
trình khác.
Người viết luận văn Trần Ngọc Thủy Tiên
Lớp Cao học Văn học nước ngoài khóa 17
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Rabindranath Tagore (1861- 1941) là một trong số không nhiều những người mà tên
tuổi của họ đã trở thành biểu tượng cho năng lực sáng tạo kì diệu của con người. Ông được xem
là một tổng hợp kì diệu của Ấn Độ từ Upanisad qua Kalidasa đến Ấn Độ phục hưng. Bà Indra
Gandhi, cố Thủ tướng Ấn Độ từng nói “ R.Tagore là cái mà ta gọi là văn hóa Ấn Độ”. Ông
được xem là một trong Tam vị nhất thể của Ấn Độ hiện đại (M. Gandhi, J.Neru, R.Tagore).
Đóng góp của Tagore cho tiến trình văn hóa, văn học Ấn Độ hết sức lớn lao. Với một tầm nhìn
sâu rộng, một năng lực sáng tạo đặc biệt, ông đã góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong
văn học Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XX, đưa văn học Ấn Độ hội nhập vào nền văn học hiện
đại, rút ngắn được khoảng cách giữa hai nền văn học Đông và Tây.
1.2 Trong nền văn học Ấn Độ, thiên tài Tagore lan tỏa khắp mọi nơi như ánh sáng mặt
trời. Tagore đã sáng tạo trên nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng khẳng định được tài
năng của mình. Ông vừa là nhà thơ, một tiểu thuyết gia, vừa là họa sĩ, nhạc sĩ, nhà tư tưởng, nhà
giáo dục. Sau hơn 70 năm sáng tạo, ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ: 52 tập
thơ, 42 vở kịch, 12 tiểu thuyết, hơn 100 truyện ngắn, 2006 ca khúc và hàng ngàn bức họa.. Giải
Nobel văn học trao cho tập “Thơ Dâng” vào năm 1913 đã đưa ông lên vị trí người Châu Á đầu
tiên được trao tặng giải thưởng cao quý này. Với kiệt tác Thơ Dâng cùng sự nghiệp thơ ca,

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Qua những tài liệu hiện có và bao quát được, chúng tôi nhận thấy lịch sử vấn đề nghiên
cứu về nghệ thuật truyện ngắn Tagore đã được chú ý từ lâu, thu hút được sự quan tâm, nghiên
cứu của không ít độc giả, giới nghiên cứu ở Ấn Độ và các nước phương Tây. Chúng tôi tạm
phân loại việc nghiên cứu dịch thuật, truyện ngắn Tagore theo ba mảng tư liệu: ở Ấn Độ,
phương Tây và ở Việt Nam.
Ở Ấn Độ: Các bài viết, các ý kiến của các nhà tư tưởng, nhà văn, nhà nghiên cứu của Ấn
Độ về thành tựu sáng tạo của Tagore được xem là những đánh giá quan trọng và đây cũng là
nguồn tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Tagore và truyện ngắn của ông.
- Trong “Tagore, đề tài và tư tưởng”, Sankar Basu đã so sánh một số truyện ngắn của
Tagore với truyện ngắn của Chekhov ở mảng đề tài hiện thực (69. 56-89)
- Giáo sư phê bình người Bengal Promothonath Bishi đã viết: “ Không có một nhà văn
Bengal nào có thể tạo ra nhiều nét đặc sắc như Tagore đã làm đối với tác phẩm của mình
…không chỉ là từ việc điểm những con số, mà trong sự khác biệt ở những nét đặc sắc này là cả
một sự sáng tạo tuyệt vời” (67.76)
-
Trong bài “Truyện ngắn của Tagore”, Narayan Gongopadhay viết: “Ở thế kỷ XIX,
trong lĩnh vực văn chương thế giới, chúng ta đã tìm ra bốn cây bút truyện ngắn xuất sắc: Guy de
Maupassant, Anton Chekhov, Edgar Allan Poe and Rabindranath Tagore. Họ bắt đầu viết vì
một lý do như nhau, chỉ là để đáp ứng yêu cầu của những tạp chí khác nhau. Sự bắt đầu của một
kỷ nguyên mới đã đặt ra những hình thức mới về thể loại và những tạp chí này lại trở thành nền
tảng cho việc đáp ứng yêu cầu của thời đại” (66.183)
- Bhattacharya trong bài viết của mình đã đề cập đến những yếu tố siêu nhiên trong 10
truyện ngắn của Tagore.( 58. 67-82).Trong 10 truyện ngắn này, ông đã chỉ ra những yếu tố siêu
nhiên xuất hiện trong truyện ngắn của R.Tagore và điều đó đã tạo nên phong vị đặc biệt của các
câu chuyện. Đằng sau những yếu tố siêu nhiên đó, Tagore muốn đưa độc giả đến một tầm sâu
hơn về ý nghĩa xã hội, về mặt văn hóa. Ông muốn trình bày sự phản kháng của mình đối với
những thực tế đang tồn tại dựa trên sự tàn bạo, nhẫn tâm, vô nhân tính và phi lý của xã hội Ấn
Độ và khiến đôc giả nhìn sâu hơn vào thực tế đó
- Dr, Sukumar Sen cho rẳng “Tagore là nhà văn đầu tiên viết truyện ngắn thật sự bằng

- Bài báo Indian Tales trong ấn phẩm “Times literary Supplement”(Tạp chí văn chương)
ở Luân Đôn ngày 18/04/1918 đã đưa ra những đánh giá về truyện Mashi và một số truyện ngắn
khác của Tagore (62. 183)
- Buckley đưa ra những nhận xét tích cực về truyện ngắn Đá đói (61, 6-7)
- Các nhà phê bình nhận xét kỹ năng viết truyện ngắn của Tagore (67. 149-150)
- Singh chỉ ra trong truyện Mashi có những đại diện Ấn Độ có ảnh hưởng không tốt đến
độc giả ở phía Nam.( 70. 20-21)

- Các tuyển tập được dịch ra tiếng Anh:
The Hungry Stone and Other Stories, New York, 1916.
Selected Short Stories: Rabindranath Tagore,The Oxford Tagore Translation (2000), ,
vol.1, edited by Sankanta Chaudhuri.
Hungry stones, Nxb Macmillan, London 1958;
Stories from R.Tagore, Nxb Macmillan, London 1958;
More stories from R.Tagore, Nxb Macmillan, London 1958
Với những tư liệu được thu thập, tìm thấy từ các trang viết ở nước ngoài, chúng tôi nhận
thấy rằng việc nghiên cứu về R.Tagore và truyện ngắn của ông được biết đến khá sớm song
chưa có bài viết cụ thể, chuyên sâu nào về sắc màu huyền thoại trong truyện ngắn của
R.Tagore. Dẫu vậy, các bài nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu cần thiết làm cơ sở để chúng tôi
triển khai đề tài của mình.
Ở Việt Nam
Giải Nobel văn học 1913 trao cho tập Thơ Dâng đã đặt R. Tagore vào một vị trí xác
định hơn trong nền văn học Ấn Độ và thơ ca thế kỷ XX. Và cũng từ đây , tên tuổi và tác phẩm
của ông được nói đến nhiều trên văn đàn thế giới, đặc biệt là ở phương Tây và Nga. Tuy nhiên,
trên thực tế, mọi sự chú ý của các dịch giả, các nhà nghiên cứu dường như đều tập trung vào
lĩnh vực thơ ca. Dựa trên những tài liệu bao quát được, chúng tôi nhận thấy, cho đến cuối thập
niên 50 của thế kỷ XX, truyện ngắn Tagore mới được dịch và giới thiệu ở nhiều nước Châu Âu
như Anh, Pháp, Nga Như vậy có thể thấy so với thơ, truyện ngắn của Tagore xuất hiện muộn
hơn nhiều thập kỷ.
Riêng ở Việt Nam, tên tuổi của R.Tagore lần đầu tiên được biết đến thông qua bài viết

của nhà văn đối với trật tự xã hội đang tồn tại”( 18.156)
* Từ phần nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng những công trình nghiên
cứu, giới thiệu về truyện ngắn của Tagore ở nước ngoài nghiêng về giới thiệu chung, đánh giá
tài năng viết truyện ngắn của Tagore. Các bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giá trị nội dung
và đặt truyện ngắn của Tagore trong sự so sánh với một số tác giả phương Tây. Các nhận xét
của các nhà nghiên cứu ở trong nước mới chỉ mang tính giới thiệu chung về việc kết hợp hiện
thực và huyền ảo, sử dụng yếu tố huyền thoại như một thủ pháp biểu hiện đặc trưng trong
truyện ngắn Tagore. Chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về yếu
tố huyền thoại trong truyện ngắn của Tagore. Trong phạm vi đề tài của luận văn Sắc màu huyền
thoại trong truyện ngắn R.Tagore, chúng tôi sẽ tiếp nhận những ý kiến, nhận xét đáng lưu tâm
có liên quan đến yếu tố huyền thoại từ nguồn tư liệu thu thập được để phục vụ cho quá trình
triển khai luận văn này.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Theo mục đích yêu cầu của đề tài, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là yếu tố
huyền thoại trong truyện ngắn của R.Tagore
- Phạm vi nghiên cứu: 35/100 truyện ngắn được in trong “ R. Tagore- tuyển tập tác
phẩm” do Lưu Đức Trung tuyển chọn và giới thiệu, NXB Lao động, Hà Nội 2004 kết hợp đối
chiếu với bản dịch tiếng Anh “ The Hungry stones and Other stories”, New York, 1916 để tìm
ra những yếu tố ổn định, đáng tin cậy cho việc lý giải, phân tích yếu tố huyền thoại được sử
dụng trong các truyện ngắn
- Phạm vi nghiên cứu còn mở rộng ra ở một số truyện ngắn của Tagore bằng bản tiếng
Anh in trong tập “

The Hungry stones and Other stories”, New York, 1916; “Selected Short
stories of R.Tagore”, in Oxford Tagore Translation, 2000 và “Collection of Stories”,
Visvabharati Publiciation, Calcuta, 1945.
-Việc khảo sát còn mở rộng ở sự đối chiếu so sánh với các thể loại khác của Tagore;
truyện ngắn của các tác giả Việt Nam, Sekhov.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong công trình này, để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi vận dụng những phương pháp

cứu, chúng tôi sẽ giới hạn những vấn đề được khai thác chủ yếu xoay quanh 35/100 truyện ngắn
của R.Tagore gắn liền với những gì thuộc về huyền thoại cùng những phương pháp mà chúng
tôi sử dụng trong quá trình giải quyết vấn đề ở mục Phương pháp nghiên cứu. Cuối cùng, chúng
tôi sẽ trình bày về trình tự sắp xếp các chương, mục (Bố cục của luận văn) và ý nghĩa thực tiễn
lẫn khoa học mà công trình mang đến (Đóng góp mới của luận văn).
Tiếp theo phần mở đầu sẽ là ba chương chính. Ở chương 1- R.Tagore- người mở đầu
cho thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại Begal, chúng tôi sẽ khái quát nền văn học Begal
thời Phục hưng và những ảnh hưởng của truyện ngắn R.Tagore trong quá trình hiện đại hóa văn
học Ấn Độ. Khi giới thiệu truyện ngắn của R.Tagore, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu những sáng tạo
của R.Tagore khi vận dụng những yếu tố huyền thoại trong văn học, văn hóa, tôn giáo Ấn Độ
và huyền thoại trong văn học thế giới vào những sáng tác của ông. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ
giới thuyết những khái niệm về huyền thoại, thi pháp huyền thoại để tạo cơ sở lí luận cho việc
tìm hiểu yếu tố huyền thoại trong truyện ngắn của R.Tagore.
Trong chương 2- Sắc màu huyền thoại trong truyện ngắn R.Tagore qua thế giới nhân
vật , chúng tôi sẽ nêu vấn đề tôn giáo con người của R.Tagore, quan niệm đặc biệt về con người
của ông để thấy được các kiểu nhân vật huyền thoại. Và trước khi đi sâu vào khai thác các kiểu
nhân vật mang sắc màu huyền thoại, chúng tôi cũng sẽ giới thuyết về nhân vật huyền thoại để
làm cơ sở lí luận để triển khai vấn đề ở chương này. Và chương 3- Sắc màu huyền thoại trong
truyện ngắn của R.Tagore qua không gian- thời gian, sau khi đặt cơ sở lí luận về không- thời
gian huyền thoại, chúng tôi sẽ khai thác các kiểu không- thời gian đặc trưng trong truyện ngắn
của R.Tagore để thấy được sự sáng tạo của ông khi vận dụng huyền thoại vào trang viết của
mình
Cuối cùng là Phần kết luận. Trong phần này, chúng tôi sẽ tổng hợp và đánh giá tất cả
các vấn đề đã trình bày ở các chương, đề xuất những hướng đi tiếp theo của các công trình
nghiên cứu sau này.
Ngoài ra, luận văn còn có mục Tài liệu tham khảo.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:

Ý nghĩa khoa học: như chúng tôi trình bày ở phần Lịch sử vấn đề, R.Taogre là một tác
giả nhận được nhiều sự quan tâm của độc giả lẫn các nhà nghiên cứu. Bên cạnh những thành

thức tỉnh của Ấn Độ.
So với những khu vực khác của Ấn Độ thì Bengal là nơi chứng kiến đầu tiên nền thống
trị Anh và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Chính vì thế mà Bengal đã trở thành trung tâm
của nhiều phong trào nổi dậy phục hưng Ấn Độ. Trong cuốn hồi kí Đời Tôi(My life), Tagore
viết: “Tôi sinh năm 1861: đó không phải là một ngày quan trọng của lịch sử, nhưng nó thuộc về
giai đoạn lớn lao trong lịch sử Bengal. Chắc các bạn không biết rằng chúng tôi đạt vị trí hành
hương của chúng tôi vào những nơi tụ hội của các dòng sông, những dòng sông đối với chúng
tôi là biểu tượng tinh thần của sự sống trong thiên nhiên, và chỗ gặp gỡ của các dòng sông
tượng trưng cho chỗ gặp gỡ của trí tuệ, chỗ gặp gỡ của lí tưởng. Đúng vào lúc tôi sinh ra, cũng
là lúc gặp gỡ của ba trào lưu trong đời sống của đất nước chúng tôi”(437-438). Ba trào lưu mà
Tagore đề cập đến ở đây chính là traò lưu cải cách tôn giáo( do Raija Rammohan Roy lãnh
đạo), trào lưu cải cách văn học(do Bankim Chandra Chatterji khởi xướng) và phong trào dân
tộc( do Bal Gandhar Tilak phát động). Những thay đổi lớn lao của thời đại đã tác động rất lớn
đến văn học mà trước hết là sự thay đổi trong tư tưởng, tình cảm, quan niệm của người nghệ sĩ.
Thời kì phục hưng với tình hình xã hội khá phức tạp lại chứng kiến sự khởi phát tuyệt vời của
nền văn học Bengal.
Trong phong trào phục hưng Ấn Độ, trước tiên phải kể đến học giả đồng thời cũng là
nhà cải cách Raija Rammohan Roy (1774-1833). Ông luôn có ý thức khai thông sự bế tắc trong
tinh thần Ấn Độ bằng cách vứt bỏ những tín ngưỡng giáo điều, những tập tục lạc hậu trong đời
sống Ấn Độ như kêu gọi hủy bỏ chế độ đẳng cấp, tập tục tảo hôn và đặc biệt là tập tục Sati (hỏa
thiêu góa phụ), đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ văn hóa Ấn Độ trước cuộc xâm lăng văn
hóa phương Tây. Năm 1818, Raija Rammohan Roy đã cho ra đời tờ báo đầu tiên của Ấn Độ
viết bằng tiếng Anh và sau đó là tạp chí song ngữ Bengali- Anh….Đây thực sự là sự kiện để lại
một dấu ấn sâu rộng trong đời sống văn hóa Ấn Độ lúc bấy giờ. Ở Raija Rammohan Roy, người
ta luôn tìm thấy một biểu tượng sinh động của tinh thần Ấn Độ và đặc biệt là tư tưởng hòa hợp
Đông –Tây. Những tư tưởng tiến bộ của ông đã được các trí thức cấp tiến cùng thời kế thừa và
phát triển, góp phần đưa Ấn Độ vào thời kì phục hưng dân tộc.
Bankim Chandra Chatterji (1838-1894) là người đã góp phần mở rộng bức tranh toàn
cảnh của văn học Bengal. Trong các tác phẩm mang tính thời sự cuả B. Chandra. Chatterji, xã
hội Bengal và tác động của thời kì phục hưng được hiện ra một cách đầy đủ và rõ ràng nhất.

truyện ngắn thực sự bằng tiếng Bengali” (8.120). Quả thật Tagore là nhà văn đầu tiên có công
đưa truyện ngắn thành một thể loại mới văn học Bengal. Ông đã đến với truyện ngắn để tìm ra
một giọng điệu mới, một phương thức nghệ thuật mới để bẻ gãy những ảnh hưởng nặng nề và
cứng nhắc của văn học truyền thống bằng tiếng Sanskrit. Tagore đã hòa quyện chủ nghĩa hiện
thực và chủ nghĩa dân tộc trong những câu chuyện phản ánh cuộc sống đương thời ở nông thôn
và thành thị Bengal. Nhiều truyện ngắn của ông đã mô tả những xung đột hay trạng thái căng
thẳng giữa cái cũ và cái mới, sự phân biệt đẳng cấp, những vấn đề về tâm lí con người…sâu sắc
và có chiều sâu.
Rõ ràng, thời đại phục hưng đã mở ra những khả năng to lớn cho những tài năng kiệt
xuất như B. Chandra. Chatterji, R. Tagore… thể hiện được sự sáng tạo của mình. Riêng về
R.Tagore, với những sáng tác đặc sắc trên nhiều lĩnh vực và sự cống hiến không mệt mỏi trong
quá trình phục hưng văn học Ấn Độ nói chung và Bengal nói riêng, ông xứng đáng là “cái mà ta
gọi là văn hóa Ấn Độ”( Indra Gandhi).
1.2 Truyện ngắn R.Tagore trong quá trình hiện đại hóa văn học Ấn Độ
1.2.1 Tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn R.Tagore
R.Tagore- niềm tự hào của xứ sở dòng sông Hằng linh thánh không chỉ là một nhà thơ
với những vần thơ tuyệt diệu mang cảm nhận sâu sắc, độc đáo mà còn là một bậc thầy trong
lĩnh vực truyện ngắn. Các nhà nghiên cứu về lịch sử văn học Bengal đều đồng nhất cho rằng ở
thành tựu văn học Bengal nói riêng và văn học Ấn Độ nói chung, vào thập niên chín mươi của
thế kỷ XX, Tagore đã đóng góp một phần không nhỏ. Không những là nhà văn mở đường,
Tagore còn có công đưa thể loại này đến đỉnh cao vì những sáng tác của mình. Không có nhà
văn hàng đầu nào tại Bengal hay Ấn Độ có thể thế chỗ cho Tago re. Bhudev Chaudhuri đã
khắng định:“ Truyện ngắn bằng tiếng Bengali đã có được những mùa hoa thật rực rỡ đầu tiên
trong các tác phẩm của Tagore. Văn học hiện đại của Bengal đã bước đầu bước vào một kỷ
nguyên mới với sự khởi đầu của thời kì Rabindranath viết truyện ngắn”.
Để thực hiện những tác phẩm của đời mình, Tagore đã tự trang bị cho mình một nền văn
hóa đa diện, Âu cũng như Ấn. Tầm hiểu biết của R.Tagore được mở rộng và tư duy cũng trưởng
thành hơn qua những chuyến du lịch nước ngoài và học tập chuyê n sâu tại Anh. Thời thanh
niên,ông đã đi du lịch khắp đất nước và cùng cha tới tận dãy Himalaya. Khi bắt đầu sáng tác
bằng tiếng Bangali, ông vẫn còn rất trẻ và ông đã thử tài trong lĩnh vực thơ, văn xuôi, kịch và ở

không phải xuất phát từ sự hiếu kỳ, sự khinh miệt mà bằng sự quan tâm, mối thiện cảm đặc biệt
của một nhà nhân đạo chủ nghĩa. Bởi ngay từ nhỏ, R.Tagore được những người “đầy tớ” chăm
sóc và ông gọi cái môi trường đặc biệt ấy là “vươn g quốc của những người đầy tớ”. Tuổi thơ
ông được đắm mình trong những câu chuyện cổ tích của chú Syam, trong những lời ca của chú
Caliat, những mẫu chuyện sử thi qua lời kể của chú Badesua và cái “vương quốc đầy tớ” ấy đã
khiến cho tâm hồn R.Tagore thêm phong phú và đa cảm. Mặt khác, cậu bé Tagore “có nhạc tâm
hồn ngân vang như tiếng quản huyền, trang nghiêm như khúc thiền ca, bay bổng như tiếng sáo
trời” ấy đã được tắm mình trong vòng tay của thiên nhiên. Với Tagore, hòa hợp với thiên nhiên,
đó không chỉ là tư tưởng, mà còn là triết lí hành động, phương châm sống. Và hơn thế, nó phải
trở thành một tình cảm đặc biệt, một nhu cầu tự nhiên của mỗi con người. Khi còn là một cậu
bé, khi đọc tác phẩm Robinson Cruso của D.Defoe, cái làm cho R.Tagore vui thích ở đây chính
là sự thực hiện một cách thắng lợi mối thông cảm hòa hợp giữa con người với thiên nhiên chứ
không phải sự chiến thắng của con người với thiên nhiên. Ở đây, ta bắt gặp một minh triết Ấn
Độ về sự hiện hữu của linh hồn tuyệt đối Bhaman, mà con người, thiên nhiên là những dạng tồn
tại khác nhau của nó. Đây chính là cốt lõi của triết lí “thiên nhân đồng thể hợp nhất” trong triết
học Upanisad mà R.Tagore đã hấp thụ một cách tự nhiên như hít thở khí trời để sống vậy.Gần
gũi với thiên nhiên, với R.Tagore không phải chỉ để thưởng thức, giao cảm mà còn để khám phá
những điều bí ẩn của vũ trụ bao la, của lòng người sâu thẳm, là cách để tìm về với bản ngã
nguyên sơ.
Yêu thương con người, thích gần gũi với thiên nhiên trong một cuộc sống cô dơn tĩnh
lặng với tâm hồn mơ mộng đầy cảm xúc…là những đặc điểm nổi bật ở R.Tagore. Đó vừa là
những yếu tố tâm lí mang tính cá nhân cá thể, vừa tiêu biểu cho đời sống tinh thần Ấn Độ. Khi
nói về Ấn Độ, Romain Rolland (1866-1944) cho rằng “nếu có một nơi nào đó trên bề mặt trái
đất mà ở đó tất cả những giấc mơ của con người đã tìm được quê hương ngay từ thời kì nguyên
sơ khi con người bắt đầu mơ ước về sự tồn tại của mình thì đó là Ấn Độ”. Như vậy, ngoài ngôn
ngữ Bengali, Tagore- “ Leonardo de Vanci của thời phục hưng Ấn Độ” còn thể hiện mình bằng
một thứ ngôn ngữ riêng: ngôn ngữ của thiên nhiên, biểu tượng và ngụ ngôn.
Hòa hợp với cuộc sống phong phú của Ấn Độ được tích lũy qua hàng ngàn năm cùng
với một nền văn học cổ điển Anh đã khắc sâu trong tâm hổn R.Tagore từ bé và khả năng thiên
bẩm về nghệ thuật đã khắc họa nên hai mặt của một tâm hồn: cái trầm ngâm, sâu sắc, trừu

con người là yếu tố trung tâm. Nhờ đó, triết lí hòa hợp trong tinh thần Ấn Độ từ chỗ trừu tượng,
cao siêu đã được R.Tagore cụ thể hóa thành nguyên tắc ứng xử căn bản trong quan hệ văn hóa,
nhằm đạt được sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, bên trong và bên ngoài, quá khứ và
hiện tại, phương Đông và phương Tây, dân tộc và nhân loại…
Là nhà văn đồng thời cũng là một chiến sĩ họa động xã hội, ngòi bút của R.Tagore luôn
hướng về mục đích vạch trần, phê phán xã hội đương thời, thức tỉnh quần chúng, mong muốn
giải phóng tâm hồn, tư tưởng người Ấn Độ cận đại ra khỏi cái thòng lọng của tôn giáo, ra khỏi
sự kìm hãm của bạo lực và cường quyền. Có thể nói, mỗi truyện ngắn của Tagore đều chứa
đựng một nỗi niềm tâm sự của ông về cuộc đời nhân thế và những biến hóa khôn lường.
R.Tagore luôn mở rộng tâm hồn để lắng nghe mọi sự việc, tìm hiểu mọi tâm tình, sẻ chia với
những kiếp người bé nhỏ bao buồn, vui trong vòng quay vô tận của thời gian. Số phận của
những con người trong xã hội Ấn Độ luôn bị sự chi phối nghiệt ngã của tôn giáo và chế độ đẳng
cấp (Varna). Và bởi vây, khi đọc những tác phẩm của R.Tagore, chúng ta bắt gặp những mảnh
đời đen trắng với bao thăng trầm, biến dịch. Cuộc đời nhân vật có khi được bao bọc trong vòng
hào quang xán lạn, cũng có lúc ngập chìm trong giông tố cuộc đời. Câu chuyện k ể có lúc dữ
dội, dồn nén, mang đầy kịch tính nhưng cũng có lúc nhẹ nhàng, man mác như một áng thơ văn
xuôi. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Tagore là những con người bình thường, gần gũi
trong cuộc sống, đủ mọi tầng lớp. Đó là những thương gia, nhữ ng viên chức nhà nước, hay
những sinh viên thụ hưởng lối sống thực dụng từ nhà trường thực dân, những nông phu lam
lũ…Đặc biệt, trong truyện ngắn của ông, chúng ta còn bắt gặp những tu sĩ Balamon, những đứa
trẻ lang thang bị vất ra ngoài rìa của cuộc sống , những người phụ nữ bị hắt hủi chìm trong
những tháng ngày hờn tủi. Có biết bao số phận sinh ra như một sự sai lầm của tạo hóa, một thứ
định mệnh nghiệt ngã của kiếp nhân sinh. Họ đã phải sống trong đau khổ, trong những giằng xé
tinh thần đến từ muôn nẻo khác nhau của đời sống trần thế. Có lúc chỉ là sự ngẫu nhiên tai ác
như một sự đùa bỡn của số phận nhưng không ít khi chỉ vì cái lợi trước mắt, sự cám dỗ của đời
sống vật dục khiến họ phải sống trong ân hận dằn vặt suốt đời.
Tagore trăn trở trước cuộc sống thực tại, lo âu cho từng số phận đang phải sống trong
một xã hội đầy rẫy áp bức bất công với sự trói buộc của những hủ tục lạc hậu, sự phân biệt đẳng
cấp nghiệt ngã, sự xung đột giữa cái mới và cái cũ trước những va đập dữ dội của cơn lốc Âu
hóa.. Dưới dạng này hay dạng khác, miêu tả trực tiếp hay gián tiếp những xung đột gay gắt của

thực. Những motip trong truyện kể dân gian, những huyền thoại tôn giáo hay những yếu tố bất
ngờ, ngẫu nhiên xuất hiện nhiều trong tác phẩm của R.Tagore. Nó thường giữ một vị trí quan
trọng trong việc tổ chức cốt truyện. Đây không chỉ là một nghệ thuật mà còn thể hiện một cách
nhìn cuộc sống của R.Tagore. Với cuộc sống này, không có gì là không thể. Nó là một dòng
chảy tự nhiên giữa quá khứ và hiện tại, là sự hòa trộn giữa cái có thể và cái không thể, giữa bên
trong và bên ngoài, giữa linh hồn và thân xác.
Tính chất duy lý của triết học phương Tây, khả năng trực giác và sự mơ mộng của người
Ấn Độ đã được kết hợp hài hoà trong tư duy nghệ thuật R. Và truyện ngắn chính là kết tinh tài
năng của Tagore trong sáng tạo nghệ thuật: “sắc sảo trong quan sát hiện thực, phóng khoáng
trong tưởng tượng và nhân hậu trong ình yêu thương con người”(5.107)
1.2.2 Yếu tố huyền thoại:
1.2.2.1 Khái niệm huyền thoại:
Được coi là chất liệu nghệ thuật quan trọng, yếu tố huyền thoại là một trong những
thành tố tạo nên phương pháp sáng tác huyền thoại, nòng cốt của trào lưu văn học ở châu Mĩ La
tinh trong thế kỉ XX “một chủ nghĩa huyền thoại xuất hiện trong hàng loạt sáng tác của nhiều
nhà văn nhiều nước với những kiểu khác nhau…Sử dụng hình ảnh ngụ ngôn, triết lí trữ tình,
hướng về các hằng số cổ xưa, về cuộc sống tự nhiên của nhân loại: ngôi nhà, con đường, núi,
đồi, tuổi thơ, tuổi già, bệnh tật, cái chết…(47;187). Có thể nói, khái niệm huyền thoại không
còn xa lạ gì với văn chương hiện đại. Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX có không ít các
nhà văn đã gặt hái được vin h quan bằng các tác phẩm sử dụng huyền thoại như F.Kafka,
G.Macket, T.Aimatov… Tuy nhiên, do biên độ nội hàm khái niệm co dãn khá rộng nên việc trả
lời cho câu hỏi “huyền thoại là gì” vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh luận.
Huyền thoại (myth) là một thuật ngữ xuất hiện từ xa xưa và nội dung của nó thay đổi
không ngừng. Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là muthos.
.Muthos
có nghĩa đen là
lời, lời nói, câu chuyện, là truyền thuyết, truyền thoại
.
Trong khoa học về huyền thoại, huyền
thoại thường được định nghĩa là những truyện kể thiêng liêng, giải thích thế giới và con người

tôn giáo và ở mức độ nào đó, cả triết học, thậm chí cả khoa học”(tr.xiv)
Nhìn chung, có quá nhiều ý kiến, quan điểm về huyền thoại được đưa ra khiến cho
nội hàm của khái niệm này bị co dãn không ngừng. Với tâm thế của người kế thừa những thành
quả của người đi trước và chỉ mới chập chững bước vào con đường khám phá huyền thoại, đồng
thời do yêu cầu của đề tài, chúng tôi cũng xin đưa ra quan điểm của mình về huyền thoại để làm
cơ sở cho việc triển khai đề tài. Chúng tôi cho rằng huyền thoại là một phương thức xây dựng
tác phẩm (chiếm lĩnh hiện thực) bằng cách đưa vào những yếu tố hoang đường, kì ảo, những cái
“có tính huyễn hoặc” tạo cho tác phẩm một màu sắc hư ảo- sự trộn lẫn giữa cái thực, cái ảo,
nhằm khắc học rõ nét hơn hiện thực khách quan. Nói cách khác, những yếu tố hoang đường,
những cái “có tính huyễn hoặc” đó được vận dụng ở nhiều cấp độ trong sáng tác nhằm chuyển
tải những vấn đề của cuộc sống con người hiện tại. Và cùng với nó là cách hiểu “huyền thoại
hóa” như một thủ pháp nghệ thuật để “lạ hóa” một cách thức thể hiện mang đến cho tác phẩm
mọt sức hấp dẫn, một vẻ đẹp riêng, đi giữa hai bờ thực và ảo.
Việc sử dụng yếu tố huyền thoại trong sáng tạo văn chương cho thấy mối tương tác rất
lớn giữa văn học và hiện thực khách quan. Yếu tố huyền thoại trong các hình tượng văn học sẽ
tạo nên một thế giới giả định, mờ ảo bao bọc một thực tại cụ thể. Nó biến thực tế đôi khi trần
trụi, vô cảm thành sống động tràn trề niềm vui. Với sự tưởng tượng đặc biệt cùng lối cấu trúc
riêng biệt, yếu tố huyền thoại sẽ cho chúng ta cảm nhận về một thực tại không thuần túy như nó
vốn có.
Trong nghệ thuật xây dựng truyện ngắn, R.Tagore đã sử dụng yếu tố huyền thoại khá
linh hoạt và độc đáo. Điều đó đã làm cho truyện ngắn của ông được bao bọc trong một màu sắc
huyền ảo và lung linh. Tuy nhiên, nếu huyền thoại phương Tây mang tính tượng trưng rất cao,
huyền thoại Ba Tư có tính công thức thì huyền thoại phương Đông lại thiên về ẩn dụ. Và đặc
biệt, ở văn học Ấn Độ, các huyền thoại trong văn chương, văn hóa và tôn giáo như được hòa
quyện và thâm nhập lẫn nhau tạo nên sự đa dạng và phong phú trong cách nhìn, cách hiểu ở độc
giả.
1.2.2.2. Yếu tố huyền thoại trong sáng tác của R.Tagore:

R.Tagore chịu ảnh hưởng lớn của xu hướng huyền thoại trong văn học truyền thống Ấn
Độ và văn học thế giới. Chất thơ, vẻ đẹp huyền ảo đôi chút hoang dại, những ngẫu nhiên huyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status