Đề cương Kinh tế chính trị - Pdf 28

ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Câu 1: Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên
cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay.
Câu 2: Trình bay nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ
Câu 3: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế
hàng hóa.
Câu 4: Trình bày khái niệm sức lao động và điều kiện biến sức lao động thành hàng
hóa?
Câu 5: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư (GTTD). Phân biệt sự giống
và khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối.
Câu 6: Phân tích nội dung và vai trò, tác dụng của quy luật giá trị thặng dư. Tại sao nói
quy luật GTTD quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Câu 7: Phân tích thực chất của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô
tích lũy tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế ở
nước ta hiện nay.
Câu 8: Phân tích sự vận động của tư bản công nghiệp; từ đó rút ra khái niệm tuần hoàn
và chu chuyển của tư bản.
Câu 9: Phân tích nguồn gốc, bản chất của tư bản thương nghiệp và và lợi nhuận thương
nghiệp.
Câu 10: Phân tích đặc điểm của tư bản cho vay và lợi tức cho vay.
Câu 11: Phân tích bản chất và các hình thức địa tô TBCN
Câu 12: Trình bày những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
Câu 1: Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên
cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể ở dạng vật thể ( hữu hình ) hoặc ở dạng phi vật
thể ( dịch vụ vô hình ).
Hai thuộc tính của hàng hóa : mỗi vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng
hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị.
- Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người. Ví dụ : cơm là để ăn, quần áo để mặc, máy móc, thiết bị để sản xuất Một vật có

trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng : giá trị được thực hiện
trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện.
Câu 2: Trình bay nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ
a. Nguồn gốc:
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi
hàng hoá, thong quá 4 hình thái giá trị sâu đây:
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị:
o Công thức tổng quát là xH1=yH2. Ở hình thái này,hàng hoá H1 biểu hiện giá
trị của nó ở hàng hoá H2. Trong đó, H1 là hình thái giá trị tương đối, còn H2
đóng vai trò vật ngang giá.
- Khi số lượng hàng hoá trai đổi trên thị trường có nhiều hơn thì một hàng hoá có thể
trao đổi với nhiều hàng hoá khác. Đó là hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị.
Hình thái này biểu hiện ở phương trình trao đổi sau:
o xH1=yH2 hoặc = zH3 hoặc…
- Khi sản xuất hàng hoá phát triển và trao đổi hàng hoá trở nên thường xuyên rộng rãi
hơn, thì trong thế giới hàng hoá có một hàng hoá tách ra làm vật ngang giá chung.
Đó là hình thái chung của giá trị. Vật ngang giá chung có thể trao đổi trực tiếp với
một hàng hoá bất kì. Vật ngang giá trở thành môi giới, thành phương tiện để trao
đổi. Phương trình xH1 hoặc yH2 hoặc zH3 hoặc…= aH5 (H5 là vật ngang giá
chung)
- Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn nữa, thị trường được mở rông, vai
trò vật ngang giá chung dần dần được cố định ở bạc và vàng thì hình thái tiền tệ của
giá trị ra đời. Ví dụ:
o xH1 hoặc yH2 hoặc zH3 hoặc…= a gam vàng ( vàng trở thành tiền)
 Khi tiền tệ xuất hiện thì thế giới hàng hoá được phân ra thành 2 cực: 1 phía là
vàng với tư cách là vật ngang giá chung, còn một phía là các hàng hoá khác, các
hàng hoá này soi mình vào vàng để xác định giá trị.
b. Bản chất
Tiền tệ là vật ngang giá chung cho tất ca các hàng hoá, là sự thể hiện chung của
giái trị và thể hiện lao động XH; đồng thời biểu hiện quan hệ kinh tế giwuax

nước này sang nước khác,
 Các chức năng của tiền tệ có quan hệ mật thiết với nhau và thể hiện bản chất của
tiền tệ
Câu 3: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế
hàng hóa.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hang hóa vì nó quy định bản
chất của sản xuất hang hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa.
1. Nội dung của quy luật giá trị là:
- Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí
lao động xã hội cần thiết.
- Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho
mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội
cần thiết. Có như vậy họ mới có thể tồn tại được. Còn trong trao đổi, hay lưu thông,
phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: hai hàng hóa đc trao đổi với nhau khi
cùng kết tinh một lượng lao động giá trị như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa
phải thực hiện với giá cả bằng giá trị.
- Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị
và cả trong trong trường trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị. Ở đây, giá
trị như cái trục của giá cả.
2. Trong n ề n sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có 3 tác động sau:
a) Thứ nhất là điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. Quy luật giá trị điều tiết sản
xuất hàng hóa được thể hiện trong 2 trường hợp sau:
- Một là, nếu như một mặt hàng nào đó cá giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán
chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư
thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người sản xuất hàng
hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này; do đó tư liệu sản
xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở
rộng.
- Hai là, nếu như 1 mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ dẫn đến bị lỗ
vốn. Tính hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng

Câu 4: Trình bày khái niệm sức lao động và điều kiện biến sức lao động thành hàng
hóa?
Theo Các Mác : “ Sức lao động , đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con
người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho
hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”
Sức lao động là điều kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào,
sức lao động cũng là hàng hóa. Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều
kiện lịch sử nhất định sau đây :
- Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của
mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
- Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt,
họ trở thành người “ vô sản”, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để
sống
Sự tồn tại đồng thời 2 điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa. Sức lao
động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản. Tuy nhiên, để tiền
biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ
nhất định.
Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng
hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái
sản xuất xã hội cũ bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành
hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên
có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử XH- thời đại
của chủ nghĩa tư bản.
Câu 5: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư (GTTD). Phân biệt sự giống
và khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối.
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dung
nhiều phương pháp để tang tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương
pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng
dư tương đối
1. Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho
năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột
dựa trên cơ sở tang năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắng thời gian lao động tất yếu trong điều
kiện độ dài của ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng
dư, được gọi là giá trị thặng dư tương đối.
Giả sử ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và
4 giờ là thời gian lao động thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là
m’ = 4/4 X 100% = 100%
Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ
lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó
ty lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi : 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5h là thời
gian lao động thặng dư Khi đó tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là
m’ = 5/3 X100% = 166%
Nhưng vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tang từ 100% lên 166%
Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu. Thời gian lao động tất
yếu có quan hệ với giá trị sức lao động. Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm
giá trị sức lao động. Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh
hoạt thuộc phạm vi tiêu dung của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách
tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc
phạm vi tiêu dung cuả công nhân hay tang năng suất lao động trong các ngành sản xuất
ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó.
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là
phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn sau, khi kĩ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư
tương đối là phương pháp chủ yếu. Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất
lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn : hợp tác giản đơn, công
trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá
trị thặng dư tương đối
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết

tư bản
- do tăng năng suất lao
động cá biệt
- từng nhà tư bản thu
- biểu hiện mối quan hệ
giữa chủ nghĩa với nhà tư
bản và giữa các nhà tư
bản với nhau
Câu 6: Phân tích nội dung và vai trò, tác dụng của quy luật giá trị thặng dư. Tại sao nói
quy luật GTTD quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
*Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách
tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm
thuê.
*Vai trò:
Quy luật giá trị thặng dư có tác động mạnh mẽ trong đời sống xã hội tư bản.
-Thúc đẩy kỹ thuật, phân công lao động xã hội phát triển làm cho lực lượng sản xuất, năng
suất lao động tăng lên nhanh chóng và nền sản xuất được xã hội hoá cao.
-Nó thể hiện mối quan hệ bản chất nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm
cho mâu thuẫn giữa tư bản và người lao đông càng trở nên gay gắt.
*Từ nội dung và vai trò của quy luật giá trị thặng dư đã nêu trên => Quy luật giá trị thặng
dư là quy luật tuyệt đối của Chủ nghĩa tư bản vì : Quy luật này giữ vai trò chủ đạo trong hệ
thống các quy luật kinh tế của Chủ nghĩa tư bản.Quy luật này chi phối sự ra đời,phát
sinh,phát triển của chủ nghĩa tư bản; là mục đích ,là động lực thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát
triển nhanh chóng.Đồng thời quy luật này cũng là nguyên nhân chính làm cho mâu thuẫn cơ
bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản
chủ nghĩa với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa :
-Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê
tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không -> phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ
nghĩa tư bản-quan hệ tư bản bóc lột lao độnglàm thuê. Vì trong xã hội tư bản, mối quan hệ
giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản nhất, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan

Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
1 Trường hợp khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô của tích lũy tư bản phụ
thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành hai quỹ :quỹ tích lũy và quỹ
tiêu dùng, của nhà tư bản .Đương nhiên tỷ lệ quỹ này tăng lên thì thỷ lệ dành cho quỹ kia sẽ
giảm đi .
2 Nếu tỷ lệ phân chia đó đã được xác định , thì quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào
khối lượng giá trị thặng dư .Trong trường hợp này thì khối lượng giá trị thặng dư bị phụ
thuộc vào những yếu tố sau :
a. Trình độ bóc lột sức lao động :
Bằng những biện pháp :tăng cường độ lao động , kéo dài ngày lao động ,cắt giảm tiền
lương của công nhân .Có nghĩa thời gian công nhân sáng tạo ra giá trị thì càng được
kéo dài ra nhwung chi phí càng được cắt giảm , do vậy khối lượng giá trị thặng dư
càng lớn và quy mô của tích lũy tư bản càng lớn .
b. Trình độ năng suất lao động xã hội :
Năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ có thêm những yếu tố vật chất để biến giá trị
thặng dư thành tư bản mới , nên làm tăng quy mô tích lũy tư bản .
c. Sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản tiêu dùng :
Khi tư bản tăng lên thì sự chênh lệch giữa tb sử dụng và tb tiêu dùng cũng tăng lên.
tức là trong một thời kỳ dài hay ngắn trong mọi quá trình sản xuất thường xuyên lặp đi
lặp lại tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đều hoạt động. tức là máy móc tham
gia vào toàn bộ quá trình sản xuất nhưng chúng chỉ hao mòn dần do đó giá trị của
chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm. mặc dù đã mất dần giá trị như vậy
nhưng trong suốt thời gian hoạt động máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị.
do đó nếu không kể đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng
thời gian thì máy móc phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên. lực lượng
sản xuất càng phát triển máy móc càng hiện đại, do đó phần giá trị của nó chuyển dọc
từng đơn vị sản phẩm càng ít đi do vậy mà sự chêng lệch giữa tbtd và tbsd ngày càng
lớn như vậy sự phục vụ của lao động quá khứ ta được lao động sống nắm lấy và làm
sống lại đang được tích luỹ lại, cùng với quy mô ngày càng tăng của tích luỹ.
d. Quy mô của tư bản ứng trước :

T - H
TLSX
Tư bản từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hoá.Đây là hàng hoá yếu tố sản xuất
gồm sức lao động và tư liệu sản xuất. Chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố sản xuất,
tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
- Giai đoạn thứ 2:
H SLĐ
TLSX SX H’
Hàng hoá đã mua ở giai đoạn 1 được nhà tư bản sử dụng vào quá trình sản xuất, bằng việc
kết hợp SLĐ với TLSX.
Giai đoạn này có chức năng là sản xuất. Kết quả là tạo ra một hàng hoá mới (H’), khác với
hàng hoá mà nhà tư bản đã mua, cả về giá trị sử dụng và giá trị. H’= tư bản sản xuất hao phí
để sản xuất ra nó cộng với giá trị thặng dư (m).
- Giai đoạn thứ 3 : H’ – T’
Nhà tư bản lại xuất hiện trên thị trường nhưng với tư cách là người bán hàng hoá. Đây là là
hoàng hoá “đầu ra”-H’.
Chức năng giai đoạn này là thực hiện giá trị hàng hoá.
Kết thúc giai đoạn này, tư bản hàng hoá biến thành tư bản tiền tệ -> mục đích của nhà tư
bản được thực hiện. Tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó,nhưng với số
lượng lớn hơn trước.
Số tiền bán hàng hoá đoá, nhà tư bản lại đem dùng vào việc mua tư liệu sản xuất và sức
lao động cần thiết để tiếp tục sản xuất và toàn bộ quá trình trên được lặp lại.
*Từ toàn bộ quá trình vận động của tư bản đã được nêu ở trên-> Rút ra khái niệm Tuần
hoàn của tư bản : là sự vận động của tư bản trải qua 3 giai đoạn, lần lượt mang 3 hình thái,
thực hiện 3 chức năng rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà con
tăng lên.
* Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn tư bản nếu xét nó là một quá trình định kì đổi mới, và
lặp đi lặp lại không ngừng. Chu chuyển tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của
tư bản cá biêt.
Câu 9: Phân tích nguồn gốc, bản chất của tư bản thương nghiệp và và lợi nhuận thương

vào lưu thông và chi phí lưu thông nhỏ hơn khi những người sản xuất trực tiếp đảm
nhiệm chức năng này.
- Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua – bán hàng hóa, người sản xuất có thể
tập trung thời gian chăm lo việc sản xuất, giảm dự trữ sản xuất, nâng cao hiệu quả
kinh tế, tăng giá trị thặng dư.
- Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua – bán hàng hóa, sẽ rút ngắn thời gian
lưu thông, tăng nhanh chu chuyển tư bản, từ đó tăng tỷ suất và khối lượng giá trị
thặng dư hàng năm.
4. Lợi nhuận thương nghiệp
- Nguồn gốc: Trước chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận của tư bản thương nghiệp chủ yếu là
do mua rẻ, bán đắt. Trong chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận thương nghiệp là một phần
giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vữ sản xuất và do tư bản công
nghiệp nhượng lại cho tư bản thương nghiệp, để tư bản thương nghiệp bán
hàng hóa cho mình.
- Tư bản công nghiệp “nhường” một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp
bằng cách bán hàng hóa thấp hơn giá trị thực tế của nó, để rồi tư bản thương nghiệp
bán đúng giá trị, thu về lợi nhuận thương nghiệp.
- Nói cách khác: Lợi nhuận thương nghiệp trên thực tế là chênh lệch giữa gía bán và
gía mua. Nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hóa thấp hơn gía trị và khi bán thì họ
bán đúng với gía trị của hàng hóa, nhưng vẫn có được lợi nhuận do tư bản công
nghiệp chuyển nhượng cho.
Ví dụ : Một nhà tư bản công nghiệp có lượng tư bản ứng trước (k) là 900 đơn vị tiền tệ
(đvtt); với tỷ lệ c/v = 4/1, như vậy sẽ có: 720c +180v; giả sử m’ =100%, thì tổng gía trị
hàng hóa sẽ là :
720c + 180v + 180m = 1080 đvtt
Nếu tư bản công nghiệp trực tiếp bán hàng hóa đúng với giá trị, thì họ sẽ thu được toàn bộ
180m và tỷ suất lợi nhuận công nghiệp sẽ là:
180đvtt
P’
công nghiệp

nặng lãi. Trong xã hội tư bản, tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ
của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời (gọi là
lợi tức).
1. Tư bản cho vay có đặc điểm:
a) Quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản.: tư bản cho vay chỉ có quyền sở hữu,
còn tư bản đi vay chỉ có quyền sử dụng.
b) Tư bản cho vay là một hàng hóa đặc biệt: nó thể hiện ở chỗ
- Khi cho vay, người bán không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyển sử dụng
- Người mua không có quyền sở hữu, mà chỉ có quyển sử dụng mà chỉ được sử
dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
- Giá cả của hàng hóa (tiền lãi) mà người đi vay trả cho người cho vay không phụ
thuộc và giá trị tiền đó quyết định mà do khả năng sinh lời của nó quyết định.
c) Tư bản cho vay là loại hình tư bản thần bí và được sùng bái nhất: vì nó vận động
theo công thức T – T’ (T’ = T + z), nhìn vào công thức ta có thể thấy, công thức này
gây ấn tượng hình thức rằng tiền có thể đẻ ra tiền và sự vận động của nó chỉ thể
hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản cho vay và nhà tư bản đi vay nên quan hệ bóc lột
của tư bản chủ nghĩa được che giấu một cách kín đáo nhất, làm cho tư bản cho vay
trở nên thần bí và được sừng bái nhất.
2. Lợi tức:
- Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay phải trả cho tư bản
cho vay về quyền sở hữu tư bản để có được quyền sử dụng tư bản trong một thời
gian nhất định, kí hiệu là (z).
- Người cho vay và người đi vay sẽ thỏa thuận với nhau về tỷ suất lợi tức (z’). Đó
là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức z và tổng tư bản tiền tệ cho vay (Kcv)
trong một khoảng thời gian nhất định. Ta có công thức: z’ = z/Kcv . 100%. Tỷ
suất lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung – cầu
về tư bản cho vay. Tỷ suất lợi nhuận bình quân luôn lớn hơn 0 và nhỏ hơn tỷ suất
lợi nhuận bình quân (p’).
- Tóm lại, thực chất thì lợi tức cũng có nguồn gốc là giá trị thặng dư. Đó chính là
phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay để có

xuyên, tương đối ổn định và chuyển hoá thành địa tô chênh lệch. Như vậy, địa tô
chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên
ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả
sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất
và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình (ký hiệu Rcl). Địa tô
chênh lệch có hai loại là địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II.
- Địa tô chênh lệch I: là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự
nhiên thuận lợi. CHẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiêu trung bình, tốt và có vị trí gần nơi
thiêu thụ hay gần đường giao thông.
- Địa tô chênh lệch II: là loại địa tô thu được nhờ thâm canh năng suất, là kết quả
của tư bản đầu tư thêm trên cùng đơn vị diện tích.
b) Địa tô tuyệt đối: là lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân hình thành
do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp…
địa tô tuyệt đối gắn liền với sở hữu ruộng đất, nhất thiết phải nộp cho địa chủ, dù
ruộng đất đó thuộc loại xấu nhất.
c) Địa tô độc quyền: là địa tô thu được trên những khu đất trồng được các cây quý
hiếm, hoặc có vị trí đặc biệt về công nghiệp, thương mại, dịch vụ…Nguồn gốc
của địa tô độc quyền cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền của sản
phẩm thu được trên đất đai ấy, mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ.
Câu 12: Trình bày những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
1. Đặc điểm 1: Tập trung sản xuất và tập trung tư bản đến mức tạo thành những tổ chức
lũng đoạn
- Thực chất độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản kếch xù
- Mục đích là lợi nhuận độc quyền
- Độc quyền không làm mất đi cạnh tranh mà trái lại làm cạnh tranh gay gắt thêm
- Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế TBCN.
2. Đặc điểm 2: TBCN kết hợp với TB ngân hàng tạo thành TB tài chính và bọn đầu sỏ tài
chính
- Đế quốc công nghiệp kết hợp với đế quốc ngân hàng tạo nên một tư bản mới về chất,
đó là TB tài chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status