Pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất kinh doanh - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT
LÊ VĂN HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Mặt khác, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất cũng tạo điều kiện cho
người sử dụng đất tiếp cận được các nguồn vốn vay của Nhà nước, nâng cao hiệu
quả sử dụng của đồng vốn, góp phần đắc lực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo
phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn. Tuy nhiên đây là những quy định mới
nên thực tế áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Tình trạng người cần
đất để sản xuất kinh doanh thì không có đất, còn người có đất thì lại để đất hoang
phí, làm cho đất chưa được sử dụng một cách hiệu quả và hợp lý. Chính vì tính
cấp thiết như vậy đã khiến em chọn đề tài: Tìm hiểu các quy định của pháp luật
về góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất kinh doanh làm Luận Văn
Cao học chuyên ngành Luật Kinh tế. 3

2. Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài.

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm:

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng quy định
góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cũng như
phân tích sâu hơn các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong các văn
bản pháp luật nhằm tháo gỡ những khuyết tật của nó.

- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc ban hành và sửa đổi bổ sung các quy
định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất, đồng thời góp phần vào việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta.

3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu đề tài.



- Chương 2: Nội dung các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất
trong sản xuất, kinh doanh.

- Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện các
quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất kinh doanh.

Góp vốn trong sản xuất kinh doanh không phải là vấn đề xa lạ đối với các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển nói chung, cũng như đối với các chủ thể
kinh doanh ở nước ta nói riêng. Nhưng góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong
điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý là một
điều khá mới mẻ và chưa hề có tiền lệ ở nước ta. Đây là một vấn đề khó và phức
tạp, nó đòi hỏi phải tập trung công sức và trí tuệ nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học xã hội ở nước ta.

5
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH 1.1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc quy định về góp vốn
bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất, kinh doanh.

1.1.1 Cơ sở lý luận.

- Nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, kế
hoạch hóa cao độ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong
đó pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của công dân và mọi
thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Để xây dựng thành công nền

thể hóa quy định trên đây của Hiến pháp.

- Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai trong nền
kinh tế thị trường các nhà làm luật Việt Nam phải giải quyết mâu thuẫn giữa lý
luận và thực tế đòi hỏi của cuộc sống. Về mặt nguyên lý đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, không cho phép tư nhân hóa đất đai,
mua bán đất đai. Tuy nhiên thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh trong cơ
chế thị trường đòi hỏi đất đai phải có sự chuyển dịch. Để giải quyết “bài toán”
này, các nhà làm luật nước ta đã tìm ra lời giải là cho phép người sử dụng đất
chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốn bằng quyền
sử dụng đất.

Về mặt lý luận, thừa nhận đất đai là một tài sản đặc biệt thì pháp luật cần
ghi nhận và bảo hộ góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Bởi
lẽ đất đai hội tụ trong bản thân nó các yếu tố giá trị và giá trị sử dụng. Nếu mà
không cho phép người sử dụng đất được góp vốn bằng quyền sử dụng đất là một
sự vô lý.

7
Mặt khác, các bất động sản trên đất như nhà xưởng, công trình xây
dựng… có tính đặc thù là không di dời được, và nó luôn gắn liền với đất. Vì vậy,
nếu chỉ cho phép góp vốn bằng các tài sản trên đất mà không cho phép góp vốn
bằng quyền sử dụng đất là chưa phù hợp với thực tế và gây khó khăn cho đại đa
số người dân trong việc “tiếp cận” các nguồn vốn.

Trong cơ chế thị trường, đất đai trở thành một yếu tố không thể thiếu được
của nền sản xuất hàng hóa. Đất đai từ chỗ là điều kiện sinh tồn, chuyển thành tư
liệu sản xuất - điều kiện vật chất cần thiết của hoạt động sản xuất, kinh doanh và
vận động không ngừng, nhằm mang lại nhiều lợi nhuận cho người sử dụng đất.
Đây là những điều kiện tiền đề cho việc ra đời quy định góp vốn bằng quyền sử

nghèo đói, Nhà nước thực hiện chủ trương cho các hộ gia đình, cá nhân nghèo
được vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư cho sản xuất. Tuy nhiên để vay được
nguồn vốn của Nhà nước thì một trong những biện pháp nhằm bảo toàn nguồn
vốn cho vay là hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng yêu cầu các hộ gia
đình, cá nhân này phải có tài sản thế chấp. Mà đối với các hộ gia đình, cá nhân
nghèo không có tài sản có giá trị nào khác ngoài đất đai. Tuy nhiên, đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; người sử dụng đất chỉ được
quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài. Vì vậy cho phép các hộ gia đình, cá nhân
nghèo được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất sẽ tạo điều kiện nâng cao
năng lực sản xuất của đối tượng sử dụng này.

Bốn là, hiện nay nhu cầu về nhà ở đang có chiều hướng ngày càng gia
tăng trong xã hội, do Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp về nhà ở đối với cán bộ,
công nhân viên chức khiến số lượng người có nhu cầu về nhà ở tăng lên. Trước
đòi hỏi thực tế, nhiều tổ chức kinh tế đã được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê

9
đất để xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm giải quyết các nhu cầu về nhà ở cho nhân
dân. Tuy nhiên để thực hiện được mục đích này, đòi hỏi các tổ chức kinh tế phải
có tiềm lực tài chính dồi dào. Các tổ chức kinh tế này thường có xu hướng hợp
tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoặc vay vốn tại các tổ chức tín
dụng nhằm huy động các nguồn vốn. Vì vậy phải có các quy định để tạo thuận
lợi cho các tổ chức sử dụng đất này được thực hiện việc góp vốn bằng quyền sử
dụng đất để sản xuất, kinh doanh.

Năm là, Nhà nước thực hiện công khai hóa quy hoạch, kế hoạch, cùng
những chính sách thông thoáng khác đã tạo nên sự an tâm cho các tổ chức, cá
nhân mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh. Bằng các nguồn vốn khác nhau như
tiền mặt, giá trị quyền sử dụng đất… các chủ thể trên tham gia vào thị trường ở
các mức độ khác nhau, có thể là độc lập tiến hành hoạt động sản xuất, kinh

bằng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo điều kiện, nội
dung, hình thức, chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật dân sự và pháp luật về
đất đai quy định, theo đó người sử dụng đất góp phần vốn của mình bằng quyền
sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác ở
trong nước hoặc nước ngoài.

Vào thời điểm Luật đất đai năm 2003 được ban hành, cơ chế thị trường
đang từng bước được xác lập và các quan hệ đất đai bắt đầu vận động trong cơ
chế mới. Các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất chưa được pháp luật
đề cập. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế - xã hội, pháp
luật đất đai được bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Qua
hai lần sử đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 vào các năm 1998, 2001 và Luật
Đất đai năm 2003, các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất được xây
dựng và dần hoàn thiện thông qua việc ban hành các Nghị định quy định về điều
kiện, trình tự và thủ tục của việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

11
1.2.2 Đặc điểm của góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Qua nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề góp vốn bằng quyền sử dụng đất, chúng
tôi nhận thấy nó có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, để có thể thực hiện việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì
trước tiên hộ gia đình, cá nhân phải có quyền sử dụng đất hợp pháp. Điều đó có
nghĩa là họ phải được Nhà nước giao hoặc cho thuê hoặc nhận chuyển quyền
một cách hợp pháp.

Thứ hai, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện đối với
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước. Đây là một trong những quyền mà
pháp luật quy định cho người sử dụng đất trong nước. Các tổ chức, cá nhân nước

lý xác định quyền về tài sản của người sử dụng đất, nên việc góp vốn bằng
quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi người sử dụng đất có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Hơn nữa việc góp
vốn này có thể bị chấm dứt bởi ý chí của Nhà nước khi các bên vi phạm nghiêm
trọng các quy định của pháp luật.
Thứ tám, xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của đất đai đối với con
người và do đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý nên việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.
Thứ chín, giá trị của các tài sản khác đem đi góp vốn do các bên thỏa
thuận, trong khi đó thì đối với trường hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì
pháp luật quy định giá trị quyền sử dụng đất góp vốn do các bên thỏa thuận,
nhưng không thấp hơn khung giá đất do Nhà nước ban hành.

13
1.2.3 Ý nghĩa của việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Trong những năm đầu thực hiện công cuộc “công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” đất nước, việc pháp luật quy định cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quyền
góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất có một ý nghĩa vô cùng to lớn nhằm giúp
người sử dụng đất giải quyết các nhu cầu về vốn để mở rộng quy mô sản xuất và
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.

Quy định này góp phần chuyển quan hệ đất đai từ trạng thái “tĩnh” (giao
đất-thu hồi đất) sang trạng thái “động”, đất đai từ chỗ chỉ là nơi cư trú của cộng
đồng, trở thành một nguồn lực to lớn để phát triển đât nước.

Mặt khác, việc tổ chức hộ gia đình, cá nhân được góp vốn bằng quyền sử
dụng đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc “tiếp cận” các nguồn vốn
vay để đầu tư cho sản xuất, đồng thời giúp hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín

cách thức quản lý đất đai như vậy, nên người sử dụng đất không được quyền làm
chủ thực sự đối với đất đai. Chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản
xuất, kinh doanh chưa ra đời trong thời kỳ này.

Quán triệt đường lối đổi mới mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng
12/1986) đã xác định, pháp luật đất đai đã có những thay đổi quan trọng, đánh
dấu bằng việc ra đời của Luật đất đai năm 1987 và Nghị quyết 10 của Bộ chính
trị ngày 05/4/1988. Luật đất đai năm 1987 [7] đã cụ thể hóa nguyên tắc đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý của Hiến pháp năm 1980.
Tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả
nước. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được pháp luật cụ thể hóa
một bước cho phù hợp với việc sử dụng từng loại đất cụ thể. Đặc biệt Luật đất
đai năm 1987 đã quy định rõ các quyền của người sử dụng đất, như sử dụng ổn
định lâu dài, được hưởng thành quả lao động trên đất… nhưng quyền góp vốn
bằng quyền sử dụng đất thì chưa được ghi nhận trong Luật đất đai năm 1987.

15
1.3.2 Giai đoạn ban hành Luật Đất đai năm 1993 đến trƣớc khi ban
hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998.

Ngày 14/7/1993 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua toàn
văn Luật Đất đai [8], (sau đây gọi tắt là Luật Đất đai năm 1993) thay thế Luật
Đất đai năm 1987, vì nó đã bộc lộ nhiều quy định không còn phù hợp với sự phát
triển nhanh chóng của tình hình kinh tế-xã hội của đất nước. Với chủ trương đưa
đất đai tham gia vào quan hệ thị trường, coi đó là một động lực quan trọng để
phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, Luật Đất đai năm 1993 đã quy định về
các quyền của người sử dụng đất như chuyển đổi, chuyền nhượng cho thuê, thừa
kế, thế chấp quyền sử dụng đất, nhưng chưa đề cập đến quyền góp vốn bằng
quyền sử dụng đất.


phủ. Và theo điều 10 “Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức
chính trị xã hội, doanh nghiệp quốc phòng an ninh trong thời hạn cho thuê đất có
quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất để liên doanh với tổ chức, cá nhân trong
nước; với tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của Chính phủ”.

Mặc dù một trong những căn cứ để phân loại các tổ chức sử dụng đất ở
trong nước là nghĩa vụ “phải trả tiền hay không trả tiền sử dụng khi được Nhà
nước giao đất hoặc cho thuê đất” song các quy định của Pháp lệnh năm 1994 lại
không “cá biệt hóa” quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất của từng loại tổ
chức theo căn cứ này. Do vậy đã dẫn đến tình trạng “cào bằng” về quyền góp
vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất của từng loại tổ chức sử dụng đất nói chung
và quyền được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất nói riêng. Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung năm 1996 ra đời đã khắc phục các thiếu sót trên bằng việc “cá biệt
hóa” quyền của từng loại tổ chức được Nhà nước giao đất theo hướng: mở rộng

17
quyền cho các tổ chức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong đó có
quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
năm 1996 lại chưa quy định cụ thể quyền của từng loại tổ chức được Nhà nước
cho thuê đất theo hướng “cá biệt hóa” tương ứng với cách thức trả tiền thuê đất.
Đây cũng là một khiếm khuyết cản trở các quan hệ đất đai phát triển. Năm 1996,
Luật Đầu tư nước ngoài [10] tại Việt nam cũng được ban hành. Trong đó ghi
nhận quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất của bên Việt Nam trong liên doanh:
“Bên Việt nam tham gia doanh nghiệp liên doanh góp vốn pháp định bằng
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”. Tiếp đó, Chính phủ
ban hành Nghị định 85/CP ngày 17/12/1996 quy định chi tiết việc thi hành Pháp
lệnh sửa đổi, bổ sung năm 1996. Nghị định này không chỉ quy định cụ thể việc
góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà còn đưa ra căn cứ để xác định giá trị quyền
sử dụng đất, đó là tiền thuê đất hay thỏa thuận trên cơ sở khung giá tìên đất do
Nhà nước ban hành. Mặc dù vậy, vấn đề xác định giá trị quyền sử dụng đất là

cơ chế tham gia thị trường quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế. Để đáp
ứng yêu cầu của thực tiễn, ngày 14/10/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban
hành Pháp lệnh về Quyền và Nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong nước được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất và Pháp lệnh về Quyền và Nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam. Sau đó, Chính phủ đã ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật về chế độ quản lý, sử dụng đất phi nông nghiệp và
cụ thể hóa về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất. Qua các quy
định trong những văn bản này, có thể thấy thị trường quyền sử dụng đất mới chỉ
được xác lập như một yếu tố gắn thị trường các tài sản đã đầu tư trên đất thuê
của Nhà nước. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc khóa VIII [13] đã quyết
định chủ trương đổi mới chính sách đất đai và thị trường bất động sản với nội
dung là:

19
Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản. Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, không tư nhân hóa, không cho phép mua bán đất đai. Thực hiện đúng
Luật Đất đai, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách về đất đai.
Trong việc giao quyền sử dụng đất hay cho thuê đất phải xác định đúng giá các
loại đất có hiệu quả, duy trì và phát triển quỹ đất, đảm bảo lợi ích toàn dân. Khắc
phục tình trạng đầu cơ đất và những tiêu cực, yếu kém trong quản lý và sử dụng
đất.
Năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993
được Quốc hội ban hành, trong đó đã bổ sung quyền cho thuê lại quyền sử dụng
đất, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; bổ
sung các trường hợp tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất và quyền
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh,
góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Quy định hộ gia đình, cá nhân thuê đất
mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê có quyền góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất thuê cùng với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình gắn liền với
đất thuê để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân trong nước theo

Luật Đất đai này đã quy định nội dung cụ thể về sở hữu toàn dân đối với
đất đai, trong đó một số quyền năng đã trao cho người sử dụng đất để phù hợp
với cơ chế thị trường. Quyền sử dụng đất được coi là tài sản của người sử dụng
đất; các tổ chức kinh tế trong nước được lựa chọn hình thức giao đất hoặc được
thuê đất từ Nhà nước và áp dụng cơ chế một giá đất phù hợp với giá đất trên thị
trường trong điều kiện bình thường, tức là đã xóa bỏ cơ chế “xin- cho” về đất; đã
hình thành hệ thống quản lý công khai, minh bạch trên cơ sở hệ thống đăng ký
đất đai thống nhất với các trình tự, thủ tục hành chính tương đối rõ ràng; công
khai hóa từ khâu quy hoạch sử dụng đất. cách tiếp cận quỹ đất để thực hiện dự
án đầu tư, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư giải phóng mặt bằng; xử

21
lý đúng bản chất giá trị của việc chuyển nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đảm bảo quyền lợi của Nhà nước, nhà đầu
tư và quyền lợi của người bị thu hồi đất.

Tuy nhiên, bước vào năm 2002, Bộ Chính trị đã nhìn thấy nhiều bất cập
trong chính sách đất đai đối với phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm qua, do
vậy đã quyết định triển khai đề án tổng kết 10 năm thực hiện chính sách, pháp
luật về đất đai đề ra những chính sách tiếp tục đổi mới. Ngày 12/3/2003, Ban
chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã thông qua Nghị quyết số 26 – NQ/TW
[14] về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với chủ trương tiếp tục đổi mới chính
sách, pháp luật về đất đai với các quan điểm và nguyên tắc sau:

“Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước; quyền sử dụng đất là hàng hóa
đặc biệt. Chính sách đất đai phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử
dụng đất, nhà đầu tư. Đổi mới phải phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ động phát triển vững chắc thị

trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật”.

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực đất đai đã đánh giá với việc ban hành
Luật Đất đai năm 2003 đã khắc phục được tình trạng “cào bằng” về quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức sử
dụng đất thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất [16]. 23
Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2003 còn ghi nhận quyền góp vốn bằng
quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tùy thuộc vào từng hình thức sử dụng
đất và cách thức trả tiền sử dụng đất.

Việc chính thức “luật hóa” quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã tạo
cơ sở pháp lý cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc “tiếp cận” các nguồn
vốn vay cho sản xuất, kinh doanh. Luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998 lại
chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử
dụng đất. Để khắc phục, bổ sung sự thiếu hụt này, Luật Đất đai năm 2003 đã quy
định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử
dụng đất. Việc quy định này đã tháo ngỡ khó khăn cho người sử dụng đất trong
việc thực hiện quyền này trên thực tế [17].
24
CHƢƠNG II
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH
Nhà nước, có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất
thuộc sở hữu của tổ chức kinh tế đó.
* Theo quy định tại Điều 111 của Luật Đất đai năm 2003, Tổ chức kinh tế
được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/7/2007 và đã thực hiện nghĩa vụ tài
chính với Nhà nước bằng việc đóng tiền thuê đất cho cả thời gian hoặc đã trả
trước tiền thuê đất cho nhiều năm, mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền ít nhất
còn lại là năm năm, thì có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản
thuộc quyền sở hữu trên đất của tổ chức kinh tế mình trong thời hạn đã trả tiền
thuê đất. Trường hợp tổ chức kinh tế có nhu cầu chuyển hình thức giao đất có
thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất, khi đó tổ chức kinh tế có
quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản thuộc quyền sở hữu trên
đất của tổ chức kinh tế mình như đối với các tổ chức kinh tế được giao đất có thu
tiền sử dụng đất.
* Theo quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai năm 2003, tổ chức kinh tế
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng, mà tiền đã thanh toán cho việc chuyển
nhượng đó không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước thì có quyền góp vốn
bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc quyền sở hữu trên đất.
* Tổ chức kinh tế được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu
tiền sử dụng đất mà đã trả tiền cho việc chuyển mục đích sử dụng đất đó không
có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước và tổ chức kinh tế đất chọn hình thức giao
đất có thu tiền sử dụng đất có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản
thuộc sở hữu của tổ chức kinh tế đó trên đất.

Theo quy định tại các Điều 109, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 cũng
cho phép một số tổ chức kinh tế góp vốn bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình gắn liền trên đất (mà không có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất),

Trích đoạn Vấn đề xác định quyền sử dụng đất để góp vốn hợp tác sản xuất kinh doanh. Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất Những khó khăn vƣớng mắc khi áp dụng các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất kinh doanh ở Việt Nam Chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển kinh tế trong lĩnh vực đất đa Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giá đất làm cơ sở cho việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong sản xuất kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status