1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG HUYỀN
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu
HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Ph-ơng Huyền
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH THANH
TOÁN CỦA NGÂN HÀNG
7
1.1.
Tổng quan về bảo lãnh
7
1.1.1.
Khái niệm bảo lãnh
7
1.1.2.
Đặc điểm của bảo lãnh
9
1.2.
Bảo lãnh thanh toán của ngân hàng
14
1.2.1.
Khái niệm và đặc điểm bảo lãnh thanh toán
14
1.2.2.
Phân loại bảo lãnh thanh toán
18
1.2.3.
Chức năng của bảo lãnh thanh toán
19
1.3.
Một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật
20
1.3.1.
Khái niệm và đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật
hàng thương mại cổ phần Quân đội
45
2.2.1.
Khái niệm và đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật trong
hoạt động bảo lãnh thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội
45
2.2.2.
Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân
hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
48
2.2.3.
Một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật bảo
lãnh thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
54
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO
LÃNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUÂN ĐỘI
77
3.1.
Định hướng phát triển hoạt động bảo lãnh thanh toán của
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
77
3.2.
Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh thanh toán
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại Ngân hàng
thương mại cổ phần quân đội
78
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số dư bảo lãnh thanh toán từ năm 2008 - 2011
26
2.2
Doanh thu phí bảo lãnh từ năm 2008 - 2011
27
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biều đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Số dư và cơ cấu bảo lãnh từ năm 2005 - 2008
26
2.2
Tỷ trọng doanh thu phí bảo lãnh thanh toán trong tổng
của Việt Nam đã ra đời. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
của Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế và thiếu sót, chưa tương xứng với vai
trò và tiềm năng của nó đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
9
Nghiệp vụ bảo lãnh nói chung và bảo lãnh thanh toán nói riêng được
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội thực hiện ngay từ những năm đầu thành
lập. Mặc dù đây là nghiệp vụ ngân hàng còn mới mẻ với các ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam, song với uy tín và quyền lực tài chính của mình, trong
những năm qua Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đã đáp ứng tốt nhu
cầu của thị trường và dần đưa hoạt động bảo lãnh thanh toán trở thành một
trong những hoạt động chính, không thể thiếu của ngân hàng mình. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện nghiệp vụ ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn,
hạn chế. Chính vì vậy, để hoạt động này phát triển tương xứng với tiềm năng
hiện có của ngân hàng thì việc đi sâu vào phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý
cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động bảo lãnh thanh toán của
ngân hàng để tìm ra các giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại đây không
chỉ mang ý nghĩa thiết thực đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội mà
còn là những kinh nghiệm có thể vận dụng tại các ngân hàng thương mại khác.
Từ thực tế làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, tôi
mong muốn tìm hiểu về hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam và
nước ngoài về nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán của ngân hàng, tìm hiểu về thực
trạng áp dụng các quy định này tại ngân hàng thương mại cũng như các ngân
hàng thương mại hiện nay diễn ra như thế nào? Liệu các quy định về bảo lãnh
thanh toán hiện tại có đủ đáp ứng độ phát triển của quan hệ bảo lãnh ngân
hàng chưa cũng như những khó khăn, vướng mắc Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội gặp phải trong quá trình áp dụng các quy định trong nước và
quốc tế về bảo lãnh thanh toán của ngân hàng. Vì lẽ đó tôi chọn đề tài nghiên
cứu: "Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh thanh toán tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Quân đội" làm đề tài luận văn thạc sĩ.
lý luận về bảo lãnh thanh toán và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến
hoạt động bảo lãnh thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội,
tìm ra những hạn chế, bất cập, từ đó đề ra các giải pháp, đặc biệt là các giải
11
pháp pháp lý nhằm đảm bảo và hạn chế rủi ro cho ngân hàng thương mại cho
hoạt động bảo lãnh thanh toán.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về Bảo lãnh
ngân hàng, Bảo lãnh thanh toán của ngân hàng, ví dụ như khái niệm, đặc
điểm, bản chất pháp lý; chức năng, vai trò… của hoạt động bảo lãnh thanh
toán đối với các ngân hàng thương mại cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động bảo lãnh thanh toán của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Hai là, Phác thảo toàn cảnh về thực trạng hoạt động bảo lãnh thanh
toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội; đánh giá tổng quan về vai
trò của hoạt động bảo lãnh thanh toán đối với Ngân hàng thương mại cổ phần
Quân đội và phân loại một số rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dịch
vụ bảo lãnh thanh toán cho khách hàng. Bên cạnh đó, tác giả phân tích những
cơ sở pháp lý và thực trạng áp dụng pháp luật về bảo lãnh thanh toán của
ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, từ đó phát hiện
những bất cập, tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng.
Ba là, trên cơ sở những nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế
trong thực tiễn hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội, luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp
phần phát triển hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội trong giai đoạn hiện nay cũng như những giải pháp hoàn thiện
pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về bảo lãnh thanh toán của ngân
hàng tại Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
luật trong hoạt động bảo lãnh thanh toán của Ngân hàng thương mại cổ phần
Quân đội.
13
- Làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động bảo lãnh thanh
toán của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội qua việc phân tích, so
sánh, đánh giá, rút ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, làm tiền
đề để đưa ra quan điểm và kiến nghị giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động bảo lãnh thanh toán của Ngân
hàng thương mại cổ phần Quân đội nói riêng và hệ thống các ngân hàng
thương mại tại Việt Nam nói chung.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống các quan điểm các cấp quản lý, ban lãnh đạo của
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội về áp dụng pháp luật hoạt động bảo
lãnh thanh toán.
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cấp quản lý, ban lãnh đạo,
các đơn vị xây dựng chính sách của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
trong việc xây dựng kế hoạch cải tổ, phát triển hoạt động bảo lãnh thanh toán
nói chung và bảo lãnh ngân hàng nói riêng một cách có hiệu quả.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo lãnh thanh toán và áp dụng
pháp luật.
Chương 2: Hoạt động bảo lãnh thanh toán và thực tiễn áp dụng pháp
luật về bảo lãnh thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội.
Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh thanh toán
để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Quân đội.
là người thụ hưởng sẽ trả nợ cho con nợ gốc (người được bảo lãnh) nếu người
này vi phạm nghĩa vụ đó cam kết. Điều 2011 Bộ luật Dân sự Pháp qui định:
"Người nhận bảo lãnh một nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó với người có
quyền nếu chính người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ" [24].
Tại Việt Nam, theo Bộ luật Dân sự Sài Gòn:
Khế ước bảo chứng là những khế ước có mục đích bảo đảm
quyền lợi cho chủ nợ trong trường hợp trái hộ lâm vào tình trạng vô
tư lực không trả được nợ ;
Người nào nhận bảo lãnh một nghĩa vụ tức là cam kết với trái
chủ sẽ thi hành nghĩa vụ ấy, nếu chính trái hộ không thi hành [34].
Trong lĩnh vực pháp lý Việt Nam hiện đại, bảo lãnh được quan niệm
là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, là việc người thứ
ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên
nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là
bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Khái niệm về bảo lãnh cũng được
quy định rõ trong Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước ta:
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh)
cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ
thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được
bảo lãnh) khi đến thời hạn mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc
không thực đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc
bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình [27, Điều 361].
Cũng như theo Bộ luật Dân sự này thì: "Người bảo lãnh có thể cam
kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho người được bảo lãnh" [27].
16
1.1.2. Đặc điểm của bảo lãnh
bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ là căn cứ để bên bảo lãnh thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh mới là căn cứ đầy đủ để xác định một cam kết có phải là cam kết
bảo lãnh hay không.
Từ đó có thể rút ra một số đặc điểm của bảo lãnh, cụ thể như sau:
- Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân:
Để nhận định biện pháp bảo đảm mang tính đối vật (vật quyền) hay
đối nhân (trái quyền) phải dựa trên tiêu chí có hay không có tài sản được đưa
ra để đảm bảo và bên có quyền có quyền nào đối với tài sản dùng để đảm bảo
hay không. Bảo đảm đối nhân là bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) được
quyền yêu cầu đối với chính bên cam kết thực hiện nghĩa vụ thực hiện thay
nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ (bên bảo lãnh) chứ không được quyền ưu tiên
thu nợ từ một tài sản cụ thể nào của bên có nghĩa vụ. Khác với các biện pháp
bảo đảm đối vật là bên bảo đảm trao cho bên có quyền (bên nhận bảo đảm)
quyền đối với tài sản bảo đảm và quyền ưu tiên thu nợ từ tài sản bảo đảm, cho
dù tài sản đó đang nằm trong tay ai và tình trạng thực tế như thế nào.
Các biện pháp bảo đảm của Bộ luật Dân sự Pháp cũng được thiết kế
theo triết lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền
bảo đảm và trái quyền bảo đảm. Trong đó biện pháp bảo lãnh tiêu biểu cho
loại trái quyền bảo đảm - bảo đảm theo đó một trái quyền được tăng cường
bởi một trái quyền khác. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 hiện nay
không có sự phân định rõ ràng về biện pháp bảo đảm đối vật và đối nhân. Đối
với hình thức cầm cố, thế chấp tài sản, một số quyền đối với tài sản của bên
có nghĩa vụ (bên cầm cố, thế chấp) được tạm thời chuyển giao cho bên có
quyền (bên nhận cầm cố, thế chấp, ví dụ như: bên có quyền tạm thời nắm giữ
nguyền chiếm hữu, quyền sử lý tài sản bảo đảm của bên có nghĩa vụ để thu
hồi nợ. Do đó, về bản chất hình thức cầm cố, thế chấp là một biện pháp bảo
đảm đối vật. Ngược lại, trong hình thức bảo lãnh, bên có quyền (bên nhận bảo
18
lãnh) không được trao bất cứ quyền nào đối với bất kỳ tài sản nào của bên bảo
miễn, giảm thì nghĩa vụ của bên bảo lãnh cũng sẽ được miễn, giảm tương ứng.
- Nghĩa vụ được bảo lãnh phải là nghĩa vụ có thể chuyển giao
Một trong những nghĩa vụ cơ bản của bên bảo lãnh là thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực
hiện nghĩa vụ. Ở đây có sự thực hiện nghĩa vụ thay nghĩa vụ của bên được
bảo lãnh, cho nên các nguyên tắc trong việc chuyển giao nghĩa vụ sẽ được áp
dụng để điều chỉnh hoạt động này. Theo quy định về việc chuyển giao nghĩa
vụ tại Điều 315 Bộ luật Dân sự: "Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa
vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường
hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có
quy định không được chuyển giao nghĩa vụ" [27], thì những nghĩa vụ gắn liền
với nhân thân của người có nghĩa vụ hoặc pháp luật quy định không được
chuyển giao thì không được phép chuyển giao cho người khác, nói cách khác
là những nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ thì không thể
được bên thứ ba bảo lãnh.
- Phạm vi bảo lãnh có thể là toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ
Đối với vấn đề phạm vi bảo lãnh, pháp luật của hầu hết các nước đều
cho phép các bên thỏa thuận về phạm vi bảo lãnh. Theo Bộ luật Dân sự Pháp,
các bên tham gia giao dịch bảo lãnh có thể thỏa thuận về việc bảo lãnh đối với
tất cả các khoản nợ của con nợ hoặc chỉ bảo lãnh đối với một hoặc một số
khoản nợ cụ thể, bảo lãnh có giới hạn hoặc không giới hạn mức trần mà người
bảo lãnh phải trả trong trường hợp người được bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ.
Theo Bộ luật Dân sự 2005: "Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một
phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh" [27, Điều 363], với việc
quy định cho bên bảo bảo lãnh cam kết, xác định xác định phạm vi của bảo
lãnh sẽ tạo cho bên bảo lãnh thể hiện sự tự nguyện, độc lập, tự do thỏa thuận
20
khi tham gia giao dịch bảo lãnh. Bên cạnh đó, quy định này còn bảo đảm
nghĩa vụ bảo lãnh đồng thời được xác lập trong hợp đồng chính thì bảo lãnh
vẫn luôn là một giao dịch độc lập giữa người bảo lãnh với người nhận bảo
lãnh, còn người được bảo lãnh không nhất thiết buộc phải có một vai trò gì
trong đó. Như vậy, hợp đồng bảo lãnh có tính độc lập về chủ thể nên không
thể xem là hợp đồng phụ của hợp đồng chính.
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP về quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa
vụ được bảo đảm, khi hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà hợp
đồng này đã được thực hiện một phần (hay toàn bộ) thì hợp đồng bảo lãnh
không chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trên tinh thần
này, nếu hợp đồng chính đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, hợp đồng
bảo lãnh vẫn có hiệu lực cho dù hợp đồng vay bị hủy bỏ hoặc đơn phương
chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [40]. Như vậy, theo quy định
của pháp luật Việt Nam các bên có thể thỏa thuận về việc người bảo lãnh sẽ
thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình. Quan hệ bảo lãnh đều được hiểu là phát sinh trên thỏa
thuận cơ sở của người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh, nghĩa là nó
không phát sinh mang tính đơn phương của riêng bên bảo lãnh nhưng nó cũng
mang tính độc lập nhất định đối với thỏa thuận cơ sở.
1.2. BẢO LÃNH THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm bảo lãnh thanh toán
Theo Điều 3 Thông tư 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân
hàng, Bảo lãnh thanh toán là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh
cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay
cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.
22
Bảo lãnh thanh toán thường được sử dụng nhiều nhất trong các giao
dịch thương mại, mua bán hàng hóa, dịch vụ theo đó ngân hàng sẽ thực hiện
điều kiện nào, ngân hàng phát hành phải thanh toán và người được bảo lãnh
sẽ bồi hoàn lại cho ngân hàng phát hành thư bảo lãnh. Mặt khác, nếu bảo lãnh
yêu cầu một chứng từ như: Phán quyết của tòa án, một quyết định của trọng
tài, văn bản của bên thứ ba xác nhận sự vi phạm của người được bảo lãnh hay
văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc
lập của bảo lãnh ít nhiều bị giảm đi.
Tính độc lập còn thể hiện ở trách nhiệm thanh toán của ngân hàng
phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân
hàng phát hành với người được bảo lãnh. Nếu như chứng từ hoàn toàn phù
hợp thì ngân hàng không thể từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì nảy sinh
trong quan hệ giữa họ và người được bảo lãnh, những lý do như: Người được
bảo lãnh phá sản, người được bảo lãnh vẫn còn nợ ngân hàng…
Thứ hai, bảo lãnh ngân hàng là hoạt động mang tính bảo đảm gián tiếp
đồng thời mang tính tín dụng trực tiếp. Tính đảm bảo gián tiếp thể hiện ở việc
sau khi kí kết hợp đồng bảo lãnh, bên bảo lãnh không ngay lập tức dùng vốn
của mình để thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền mà trách nhiệm chính vẫn
thuộc về người được bảo lãnh, chỉ khi nào người này không tự thực hiện được
nghĩa vụ thì người bảo lãnh mới phải thực hiện thay. Trong trường hợp này,
khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả
thay - như vậy quan hệ bảo lãnh đã chuyển thành quan hệ tín dụng trực tiếp
giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.
Thứ ba, bảo lãnh thanh toán là loại hình bảo lãnh có thu phí, đây là
một trong những tiêu chí để phân biệt nó so với tính chất của bảo lãnh trong
một số lĩnh vực khác như dân sự, hình sự. Khi đứng ra bảo lãnh cho khách
hàng thông qua việc phát hành cam kết bảo lãnh, tổ chức tín dụng có quyền
thu phí ngay sau đó mà không phụ thuộc vào việc có phải thực hiện thay
nghĩa vụ thanh toán hay không.
24
Thứ tư, theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh thanh toán của ngân hàng là
chức tín dụng phát hành cam kết bảo lãnh ngân hàng (thư bảo lãnh ngân hàng)
cũng như khi người nhận bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu hay khi tổ chức tín
dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh, các chủ thể này
đều bắt buộc phải thiết lập bằng văn bản. Những văn bản này không những là
bằng chứng chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch bảo
lãnh mà còn là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện được quyền và nghĩa vụ pháp
lý của mình đối với phía bên kia. Chẳng hạn khi người nhận bảo lãnh yêu cầu tổ
chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay người được bảo lãnh, họ phải
xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung của cam kết bảo lãnh thì mới được
trả tiền; ngược lại tổ chức tín dụng bảo lãnh cũng phải dựa vào văn bản bảo lãnh
(là một loại chứng từ) do mình phát hành và đối chiếu với các chúng từ do người
nhận bảo lãnh thiết lập và xuất trình để xác định việc đòi tiền của người nhận
bảo lãnh có hợp lệ không và mình có phải trả tiền theo yêu cầu đó hay không.
Theo thông lệ quốc tế về bảo lãnh ngân hàng, có ba loại chứng từ quan trọng
nhất làm cơ sở cho các bên thực hiện giao dịch bảo lãnh thanh toán, đó là văn
bản bảo lãnh (hợp đồng bảo lãnh - cam kết bảo lãnh hay thư bảo lãnh); yêu cầu
trả tiền (Demand for payment) và tuyên bố vi phạm (statement of default).
Người yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh ngân hàng phải ký
hợp đồng với ngân hàng, trong đó nêu quyền và nghĩa vụ của bên yêu cầu và
của ngân hàng đối với khả năng buộc phải ngân hàng một hạn mức nào đó
theo thư bảo lãnh. Trong trường hợp người được bảo lãnh không ngân hàng
được các nghĩa vụ tài chính của mình hay thậm chí không muốn ngân hàng thì
ngân hàng buộc phải ngân hàng số tiền đã bảo lãnh.
1.2.2. Phân loại bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh thanh toán được phân loại căn cứ theo hình thức sử dụng:
- Bảo lãnh thanh toán có điều kiện:
Bảo lãnh thanh toán có điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán
các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng chỉ có thể được tiến hành khi người thụ