Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM HẢI LY

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số: 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ THUẬN

Hà Nội – 2013

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 01 tháng 01 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Hải Ly

dịch tư lợi 18

1.1.4. Ảnh hưởng của giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại 22
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ
LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 26
1.2.1. Khái niệm kiểm soát giao dịch tư lợi 26

1.2.2. Mục đích và ý nghĩa của việc kiểm soát giao dịch tư lợi trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 27

1.2.3. Cách thức kiểm soát các giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại 29
1.3.
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 31
1.3.1. Khái niệm pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi 31
1.3.2. Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 32
1.3.3. Nội dung của pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 33

1.3.4. Pháp luật một số nước trên thế giới 34
Tóm tắt chương 1 40

Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT GIAO
DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 41

kinh doanh của các ngân hàng thương mại 84

2.6. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 93
2.6.1. Những ưu điểm của pháp luật trong việc kiểm soát giao dịch tư
lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 93
2.6.2. Những hạn chế của pháp luật trong việc kiểm soát giao dịch tư
lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 97
Tóm tắt chương 2 105

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 106

3.1.
YÊU CẦU CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 106
3.1.1. Xu hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi
trong các ngân hàng trên thế giới 106
3.1.2. Yêu cầu về nâng cao nội lực ngân hàng 109
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH TƯ LỢI TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM 112
3.2.1. Về mặt thuật ngữ 113
3.2.2. Về các quy định liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của


MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng đang đứng trước có
nguy cơ sẽ có không ít ngân hàng đổ vỡ hoặc phá sản do quản lý yếu kém,
không đánh giá được thực chất tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đi vay bởi rất nhiều trong số khoản vay của doanh nghiệp đã được
thực hiện bằng “quan hệ”, bằng những giao dịch phi lợi ích ngân hàng, trong
đó có giao dịch tư lợi. Điều này khiến cho tình hình nợ xấu và vấn đề thanh
khoản tại các ngân hàng trở nên căng thẳng. Trong thời gian qua, bên cạnh sự
phản ánh của hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cũng liên tục phát đi những thông điệp, chỉ thị yêu cầu các
ngân hàng thương mại nhanh chóng giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn [9].
Giảm tỷ lệ nợ xấu không đơn giản là thay đổi số liệu trên sổ sách mà sâu xa
hơn là việc ngăn chặn và triệt tiêu nguyên nhân gây ra nó. Nói cách khác, đó
là việc ngăn chặn và triệt tiêu các giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại.
Pháp luật các nước có hệ thống ngân hàng phát triển đã sớm đưa ra các
quy định và chế tài ngăn ngừa hành vi tư lợi. Chẳng hạn như ở Mỹ, giao dịch
giữa thành viên ngân hàng với ngân hàng phải công khai, trong đó, thành viên
ngân hàng phải thông báo và giải trình về giao dịch, tình trạng tài chính của
bản thân với Ban quản trị ngân hàng. Tại Anh, pháp luật quy định các giao
dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi cũng phải được thông qua bởi các cổ đông, kể
cả trong trường hợp nó được xác lập một cách công bằng.
Tại Việt Nam, pháp luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng, qua nhiều lần
sửa đổi cũng đã quy định về vấn đề này nhưng chưa đầy đủ và tính răn đe
chưa cao. Trong khi đó, lợi nhuận từ các giao dịch mang tính tư lợi quá lớn và
hết sức hấp dẫn nên không ít cá nhân và nhóm các cá nhân đã bất chấp qui

2.1. Mục tiêu chung
3

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu giao dịch tư lợi và pháp
luật điều chỉnh giao dịch này trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại trên thực tế, qua đó thấy được những ưu điểm và hạn chế của các
quy định hiện hành nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu đề tài nhằm một số mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất, nắm bắt được khái niệm giao dịch tư lợi nói chung, giao dịch
tư lợi tại ngân hàng thương mại nói riêng và pháp luật điều chỉnh giao dịch
này trên thực tế.
Thứ hai, thấy được các biện pháp pháp luật đặt ra nhằm kiểm soát giao
dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại, từ đó đánh giá
các quy
định pháp luật về vấn đề này.
Thứ ba, trên cơ sở các đánh giá, kiến nghị một số vấn đề để hoàn thiện
pháp luật trong kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là một đề tài khá mới mẻ dù rằng đã
có một số các công trình nghiên cứu có liên quan như:
- Trần Bảo Ánh (2010), “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh
tư lợi theo Luật Doanh nghiệp 2005”, Tạp chí Luật học, (9).
- Ngô Thị Bích Phương (2007), “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
phát sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005”, Luận văn
Thạc sỹ luật học.
- Lê Đình Vinh (2004), “Kiểm soát giao dịch tư lợi trong công ty theo

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
5

Chương 1: Khái quát chung về giao dịch tư lợi và kiểm soát giao dịch
tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
hội hay ở phạm vi nhỏ hẹp hơn là lợi ích của tổ chức, cơ quan họ làm việc,
cộng đồng họ sinh sống. Lợi ích cá nhân khi được chú trọng quá mức có thể
ảnh hưởng tới lợi ích chung. Lúc này, “tư lợi” được hiểu theo nghĩa tiêu cực.
Đó là hành vi của một người hoặc một nhóm người vì mong muốn đạt được
những lợi ích riêng nhất định mà xâm phạm tới lợi ích chung. Hành vi “tư
7

lợi” theo nghĩa này có biểu hiện rất đa dạng và thường không được khuyến
khích thực hiện, đặc biệt trong các tổ chức kinh tế.
Ở mức độ phổ biến, hành vi tư lợi là hành vi của một cá nhân nhằm
thỏa mãn các mục đích cá nhân. Thực tiễn hoạt động của các ngân hàng hiện
nay cho thấy, không hiếm trường hợp người quản lý sử dụng cơ hội kinh
doanh của ngân hàng như một phương tiện để mưu cầu lợi ích cá nhân. Chẳng
hạn như ký kết hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và người thân của người
quản lý với nhiều điều khoản ưu đãi hơn so với khách hàng thông thường
trong khi người này không có đủ nguồn vốn để trả nợ. Ở ví dụ này, nếu không
có sự tham gia của hành vi tư lợi, ngân hàng có thể từ chối cấp tín dụng với lý
do giao dịch này sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro không thu hồi được nợ và tìm
đến khách hàng vay có tiềm năng hơn. Tuy nhiên, cơ hội kinh doanh của ngân
hàng đã bị những người quản lý lợi dụng để mưu tính thu lợi riêng. Về hình
thức, giao dịch được thực hiện vì lợi ích ngân hàng. Nhưng về bản chất, nó
đang phục vụ cho người quản lý và người thân của họ.
Ở mức độ cao hơn và tinh vi hơn, giao dịch tư lợi còn được tạo ra bởi
hành vi của nhóm cổ đông/thành viên góp vốn trong ngân hàng thương mại
mà hiện nay, báo chí cũng như nhiều nhà nghiên cứu gọi là “lợi ích nhóm”
hay “nhóm lợi ích”. “Lợi ích nhóm” được nảy sinh từ một tập thể gồm nhiều
cá nhân, tổ chức cùng chia sẻ một mối quan tâm chung và cùng nhau thúc
đẩy các mục tiêu đó bằng cách tác động vào các chính sách của ngân hàng.
Có thể xem đây là sự phát triển cao hơn của hành vi tư lợi. Tính chất
tinh vi hơn thể hiện ở chỗ không khó để nhận ra hành vi tư lợi của cá nhân

Black’s Law Dictionary, “mâu thuẫn về lợi ích” được hiểu là:
1. Sự xung đột trên thực tế hoặc có nguy cơ xung đột giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích chung hoặc trách nhiệm nhận ủy thác.
2. Sự xung đột trên thực tế hoặc có nguy cơ xung đột giữa lợi ích của hai thân
chủ của cùng một luật sư mà luật sư này không đủ tư cách đại diện cho cả hai
9

nếu sự đại diện kép này gây ra những ảnh hưởng xấu tới lợi ích của một trong
hai thân chủ hoặc các thân chủ không đồng ý.
Theo cách định nghĩa này, “mâu thuẫn về lợi ích” được chia thành hai
trường hợp cơ bản. Đó là “mâu thuẫn về lợi ích” nói chung và “mâu thuẫn về
lợi ích” liên quan đến hành nghề luật. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
này, tác giả không đi sâu nghiên cứu mâu thuẫn lợi ích trong hành nghề luật.
Một cách chung nhất, “mâu thuẫn về lợi ích” có thể được định nghĩa là
bất kỳ tình huống nào, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức (thuộc về tư
nhân hoặc chính phủ) lợi dụng năng lực nghề nghiệp hoặc chức vụ để đạt
được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cho tổ chức của họ. Một mâu thuẫn về lợi
ích có thể trở thành một vấn đề pháp lý, chẳng hạn như khi một cá nhân cố
gắng và/hoặc thành công trong việc gây ảnh hưởng tới kết quả của một quyết
định vì lợi ích cá nhân. Giám đốc hoặc người điều hành một tổ chức phải chịu
trách nhiệm pháp lý nếu việc mâu thuẫn về lợi ích vi phạm bổn phận trung
thành của người này. [42]
Dưới đây là một số dạng phổ biến nhất của “mâu thuẫn về lợi ích”:
 Giao dịch tự mình, trong đó một nhân viên quản lý một tổ chức khiến
tổ chức đó tham gia vào một giao dịch với nhân viên đó hoặc với một
tổ chức khác mà làm lợi cho nhân viên đó. Nhân viên này ở cả hai bên
của giao dịch.
 Lợi ích gia đình, trong đó vợ, chồng, con hoặc những người họ hàng
thân thuộc khác được thuê mướn hoặc hàng hóa, dịch vụ được mua từ
một người họ hàng hoặc công ty của người họ hàng này. Vì lý do này,

(i) thành viên và công ty là hai bên đối nghịch nhau; (ii) thành viên gây ảnh
hưởng để công ty ký kết giao dịch và (iii) thành viên có một lợi ích về tiền bạc
mà có tiềm năng là trái ngược với lợi ích tài chính của công ty.
Định nghĩa trên đã chỉ ra những đặc điểm rất nổi bật của “giao dịch tự
mình” trong các công ty nói chung và trong các ngân hàng thương mại nói
riêng. Với bản chất là một dạng “mâu thuẫn lợi ích”, “giao dịch tự mình” bao
11

giờ cũng thể hiện sự mâu thuẫn giữa lợi ích công ty và lợi ích của thành viên,
người quản lý công ty. Do vậy, hai học giả này cho rằng trong “giao dịch tự
mình”, thành viên, giám đốc công ty và công ty luôn đối lập về lợi ích.
Nhận định này hoàn toàn chính xác. Tính chất đối lập thể hiện ở chỗ sự
thỏa mãn lợi ích riêng của giám đốc, cổ đông hay nhóm cổ đông chi phối dẫn
đến sự thua thiệt lợi ích của công ty. Tuy nhiên không phải bất kể chủ thể nào
của công ty cũng có thể thực hiện các giao dịch tự mình. Thông thường, hành
vi này chỉ được thực hiện bởi những người nắm giữ các chức vụ cao như
người quản lý, cổ đông hay nhóm cổ đông nắm quyền chi phối công ty. Và
cuối cùng, theo quan điểm của hai học giả này, lợi ích tư lợi được là lợi ích
tiền bạc trái ngược với lợi ích tài chính của công ty.
Tác giả luận văn không đồng ý với quan điểm này. Bởi giao dịch tự
mình, không phải trong mọi trường hợp, đều được xác lập vì chính lợi ích của
người quản lý, cổ đông hoặc nhóm cổ đông chi phối. Nó, trong một số trường
hợp, được xác lập vì lợi ích của người có liên quan của những người nói trên
bao gồm người thân, tổ chức mà họ hoặc người thân của họ có quyền lợi chủ
yếu ở đó. Bởi vậy, cổ đông hoặc nhóm cổ đông chi phối hoặc giám đốc công
ty không phải lúc nào cũng là người hưởng lợi.
Thêm nữa, hành vi tư lợi không nhất thiết là vì lợi ích tiền bạc, mặc dù
thực tế đa phần là vậy. Nó có thể tồn tại vì nhiều mục đích khác nhau như tạo
việc làm cho người nhà (thông qua hợp đồng lao động) hay để hưởng một
dịch vụ từ phía đối tác như món quà cảm ơn vì đã quyết định cộng tác với họ,

mang lại cho người quản lý những lợi ích vật chất và tinh thần nhất định như
sự tin tưởng từ phía chủ sở hữu, tăng lương, thưởng… Việc tăng lương,
thưởng hay củng cố sự tin tưởng của chủ sở hữu cũng là những lợi ích riêng
mà người quản lý có thể đạt được khi tiến hành một giao dịch. Nhưng nó khác
với lợi ích riêng trong các giao dịch tư lợi ở chỗ, về bản chất những lợi ích
này thống nhất và cùng hướng với lợi ích ngân hàng. Khi lợi ích ngân hàng
13

được đảm bảo thì lợi ích của người quản lý ngân hàng cũng vì thế mà tăng lên
tương ứng.
Ngược lại, lợi ích riêng trong giao dịch tư lợi về bản chất là mâu thuẫn
với lợi ích chung của ngân hàng. Tính chất mâu thuẫn thể hiện ở chỗ lợi ích
này kìm hãm, thậm chí là triệt tiêu lợi ích kia. Sự thỏa mãn lợi ích riêng của
người quản lý dẫn đến sự thua thiệt lợi ích từ phía ngân hàng. Bởi trong giao
dịch với những người này, ngân hàng thực chất không thu được lợi ích tốt
nhất, chưa kể đến việc không có lợi. Đây chính là động lực mang tính quyết
định để người quản lý đẩy ngân hàng vào các giao dịch nhằm làm lợi cho bản
thân mình.
Trong các giao dịch tư lợi được thiết lập bởi chủ sở hữu ngân hàng,
mục đích vụ lợi đóng vai trò là động cơ chính thúc đẩy các chủ thể này hành
động. Khi góp vốn vào ngân hàng thương mại cổ phần, các nhà đầu tư sẽ trở
thành cổ đông/thành viên góp vốn. Họ có quyền tham gia hoạch định chính
sách và quyết định các vấn đề lớn mang tính sinh tử của ngân hàng như chiến
lược kinh doanh hay bổ nhiệm những người quản lý. Những quyền hạn này
mang lại cho chủ sở hữu ngân hàng nhiều cơ hội để vun vén lợi ích cá nhân
hoặc lợi ích nhóm. Họ hoặc tự mình quyết định các giao dịch của ngân hàng
hoặc gây ảnh hưởng tới người quản lý để đạt được các giao dịch phục vụ lợi
ích mà họ theo đuổi. Pháp luật các nước coi đây là những hành vi lạm quyền
cần được kiểm soát chặt chẽ.
Lợi ích riêng mà người quản lý, thành viên góp vốn/cổ đông hay nhóm

là:
Thứ nhất, người quản lý, thành viên góp vốn hay cổ đông ngân hàng,
thường được gọi là những người nội bộ của ngân hàng. Pháp luật các nước
khác gọi chung những người này bằng thuật ngữ “insiders”. Gọi là người nội
bộ bởi họ trước tiên là thành viên của ngân hàng. Hơn nữa, họ có những hiểu
biết đầy đủ về tình hình hoạt động, chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Chính vì thế, họ có cơ hội để hiện thực hóa mục đích tư lợi cho bản thân
mình.
15

Trong giao dịch giữa ngân hàng và người quản lý, cổ đông/thành viên
góp vốn, về hình thức, đây là giao dịch giữa hai bên chủ thể. Nhưng về bản
chất, đây là loại giao dịch tự mình (self-dealing transaction), tức là người
quản lý thông qua công ty để giao dịch với chính bản thân mình. Tuy hình
thức là hai chủ thể hoàn toàn riêng biệt nhưng thực chất chỉ là một chủ thể mà
thôi. Với hình thức giao dịch này, người quản lý có thể tự do đặt giá, thiết lập
những điều khoản có lợi nhất cho mình, bất chấp việc thực thi điều khoản này
sẽ gây hại cho ngân hàng.
Thứ hai, người có liên quan của những người nói trên. Trong giao dịch
giữa người có liên quan của người quản lý, cổ đông/thành viên góp vốn với
ngân hàng, mặc dù không trực tiếp mang lại lợi ích cho những người này
nhưng giao dịch này vẫn khiến cho ngân hàng phải chịu những thua thiệt nhất
định. Do thiếu tính độc lập về mặt lợi ích nên khi đàm phán, quyết định giao
dịch, người quản lý, thành viên góp vốn/cổ đông thường có xu hướng hành
động thiên lệch vì lợi ích người nhà hơn là vì lợi ích ngân hàng.
Đối với những giao dịch tư lợi được dàn xếp bởi nhóm cổ đông/thành
viên nắm quyền chi phối, chủ thể thực sự hưởng lợi luôn đứng đằng sau các
giao dịch tưởng chừng như minh bạch, công bằng. Việc thông qua các giao
dịch được thực hiện theo đúng thủ tục, thẩm quyền, do đó, rất khó có thể nhận
ra sự dàn xếp lợi ích trong các giao dịch này. Nhóm lợi ích này sẽ lợi dụng

về mặt lý thuyết, nó có thể gây ra những hệ quả xấu cho an toàn hoạt động
ngân hàng khi bị các chủ thể trên lợi dụng.
1.1.2.3. Phương thức hình thành giao dịch tư lợi
Giao dịch tư lợi có thể được hình thành trên ba cơ sở:
Thứ nhất, từ các quyết định thuộc thẩm quyền của người quản lý.
Thứ hai, từ việc thành viên góp vốn/cổ đông ngân hàng hay bất kỳ chủ
thể nào khác đang thực hiện nhiệm vụ tại ngân hàng (kể cả nhân viên của cơ
quan nhà nước) lợi dụng ảnh hưởng của mình để có được các giao dịch làm
lợi cho bản thân.
17

Thứ ba, nhóm cổ đông/thành viên nắm quyền chi phối ngân hàng lợi
dụng ưu thế trong việc thông qua hay bãi bỏ một chính sách, quyết định của
ngân hàng để thiết lập các giao dịch phục vụ lợi ích của nhóm mình.
Như vậy, đặc điểm về chủ thể, mục đích và phương thức hình thành đã
tạo ra nhận thức cơ bản nhưng không kém phần đầy đủ về giao dịch tư lợi.
Trong ba đặc điểm này, dấu hiệu mục đích có tính chất quyết định tới việc xác
định xem giao dịch giữa ngân hàng và người quản lý, cổ đông hay nhóm cổ
đông hoặc người có liên quan của họ có phải là giao dịch tư lợi hay không.
Nếu chưa xác định được đặc điểm có tính chất quyết định này, giao dịch trên
chỉ là những giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi. Do đó, nó có thể được
pháp luật bảo hộ và cho phép thực hiện nếu được giao kết một cách công bằng
và trung thực. Ngược lại, nếu được xác lập vì mục đích vụ lợi, các giao dịch
trên được xác định là giao dịch tư lợi và có thể bị vô hiệu hóa bởi những quy
định pháp luật.
Cũng cần phân biệt giao dịch tư lợi và hành vi buôn bán nội gián. Buôn
bán nội gián cũng là một dạng giao dịch tư lợi, cũng do người nắm giữ các
chức vụ quản lý, điều hành trong công ty thực hiện. Nhưng buôn bán nội gián
là hoạt động mua bán chứng khoán ngầm để trục lợi bằng việc sử dụng các
thông tin bí mật mà chỉ những người quản lý, điều hành trong công ty mới có.

đặc tính quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người
quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn. Bởi lẽ, người quản lý công ty
luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm
kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty [13].
Nhận định này càng có cơ sở trong trường hợp tài sản của công ty được kiểm
soát, quản lý bởi những người làm thuê chứ không bởi các chủ sở hữu của tài
sản đó.
Thực vậy, sự thay đổi trong môi trường kinh doanh đã tạo ra những
thay đổi đáng kể trong số lượng thành viên, mô hình hoạt động của công ty.
Từ chỗ được tạo nên bởi một nhóm người có mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau,
công ty hiện đại là tập hợp không giới hạn những nhà đầu tư trong xã hội.

Trích đoạn Về các quy định liên quan tới các giao dịch có nguy cơ phát Về các quy định liên quan tới quy trình kiểm soát các giao dịch Về các biện pháp bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng Về các chế tài xử lý giao dịch tư lợi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status